Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Giải quyết tranh chấp đất lâm nghiệp tại xã Nghĩa Tiến, thị xã Thái Hòa, đã sửa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (335.13 KB, 18 trang )

TỈNH ỦY NGHỆ AN
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
*

TIỂU LUẬN
Đề tài:
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT LÂM NGHIỆP
TẠI XÃ NGHĨA TIẾN, THỊ XÃ THÁI HỊA
Học viên:
Chức vụ, đơn vị cơng tác:
.
Lớp: Bồi dưỡng ngạch Chuyên viên K35.9
Giảng viên hướng dẫn: ThS.Trần Duy Rô Nin

NGHỆ AN, 9 - 2021

1


LỜI MỞ ĐẦU
Thực tiễn cho thấy trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, việc giải
quyết tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại, tố cáo của công dân đúng cấp, đúng thẩm
quyền và kịp thời không những đảm bảo được lợi ích của nhà nước, lợi ích chính
đáng của cơng dân mà cịn góp phần ổn định an ninh - trật tự xã hội. Qua đó, góp
phần vào việc ngăn chặn và bài trừ tệ nạn tham nhũng, lãng phí của công và các tệ
nạn xã hội khác, xây dựng được khối đại đoàn kết trong nhân dân, tạo được niềm tin
của nhân dân đối với hệ thống bộ máy hành chính nhà nước. Mặt khác, thơng qua
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời sẽ giảm thiểu tình trạng khiếu nại, khiếu kiện
vượt cấp. Đồng thời, nhiều cấp, nhiều ngành kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những sai
sót, lệch lạc, những yếu kém trong công tác quản lý hành chính, kiến nghị với cấp có
thẩm quyền bổ sung, sửa đổi chế độ chính sách, pháp luật sát với thực tiễn cuộc sống,


xử lý nghiêm minh những người sai phạm hoặc tránh né trách nhiệm và nâng cao
năng lực, trình độ của cán bộ cơng chức quản lý nhà nước.
Hiện nay, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai chiếm chủ yếu nội dung của
việc khiếu nại, tố cáo và được xem như vấn đề nóng đặt ra nhiều thách thức cho các
cấp chính quyền. Trong đó, khiếu nại về tranh chấp đất rừng tập trung khá nhiều đơn
thư, gây ra nhiều bức xúc trong xã hội.
Mặt khác, công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của người dân trên thực tế còn
bộc lộ một số hạn chế. Cán bộ phụ trách việc tiếp dân ở xã còn hạn chế về trình độ,
năng lực và kinh nghiệm trong giải quyết vụ việc ngay từ ở cơ sở dẫn đến nhiều vụ
việc khiếu nại vượt cấp.
Việc vận dụng chính sách, pháp luật để giải quyết quyền lợi cho nhân dân ở một
số địa phương còn nhiều nan giải, nhất là trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất lâm
nghiệp. Do việc xác định ranh giới đất lâm nghiệp chủ yếu dựa vào các bản đồ cũ nên
chưa chính xác, dẫn đến diện tích giao cho một số đối tượng bị trùng nhau gây ra tranh
chấp, khó khăn cho việc cấp quyền sử dụng đất cho người dân. Việc theo dõi sự biến
động đất đai lâm nghiệp còn thủ công, chưa sử dụng các phần mềm chuyên dụng cho
2


quản lý đất lâm nghiệp nên dễ sai sót. Đồng thời một số cán bộ làm công tác quản lý
đất đai còn chưa thực hiện hết chức năng và trách nhiệm của mình trong việc rà sốt
đất lâm nghiệp, dẫn đến sai lầm trong cấp quyền sử dụng đất, gây ra khiếu kiện.
Vận dụng những kiến thức đã được tiếp thu, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Giải
quyết tranh chấp đất lâm nghiệp tại xã Nghĩa Tiến, thị xã Thái Hịa” để thực hiện tiểu
luận cho chương trình “Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên”.
Tôi hy vọng bài tiểu luận này sẽ góp phần vào cơng cuộc hồn thiện pháp luật
nói chung và nâng cao hiệu quả công tác quản lý đất lâm nghiệp trên địa bàn thị xã
Thái Hịa nói riêng. Tơi mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của Q Thầy, Cơ và
các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.


3


I. MƠ TẢ TÌNH HUỐNG
Ngày 12/09/2021, UBND thị xã Thái Hòa nhận được đơn khiếu nại của 10 hộ
dân xã Nghĩa Tiến, thị xã Thái Hòa khiếu nại về việc 220 ha đất lâm nghiệp được
UBND huyện Nghĩa Đàn (nay là thị xã Thái Hòa) giao theo Nghị định số
02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ, trùng với diện tích đất lâm nghiệp
được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cơng ty Lâm nghiệp
Thái Hịa.
Q trình kiểm tra nguồn gốc sử dụng đất của 10 hộ gia đình, cá nhân có đơn
và xác minh q trình sử dụng đất của Cơng ty Lâm nghiệp Thái Hịa cho thấy:
* Theo phản ánh của 10 hộ gia đình, cá nhân có đơn:
Năm 1990, các hộ gia đình, cá nhân được UBND xã Nghĩa Tiến, huyện Nghĩa
Đàn giao đất trống đồi núi trọc và đã khai phá, tiến hành sản xuất trên diện tích đất
được giao. Đến năm 1994, UBND huyện Nghĩa Đàn cấp sổ lâm bạ trắng. Năm 1997
được UBND Huyện Nghĩa Đàn giao đất, cấp sổ lâm bạ xanh theo Nghị định
02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ cho 10 hộ gia đình, cá nhân.
Khi có chương trình dự án trồng rừng 327 và chương trình dự án 661 (từ năm
1998 đến năm 2005), Ban quản lý dự án là Cơng ty Lâm nghiệp Nghĩa Đàn đã giao
khốn cho 7 nhóm hộ gia đình, cá nhân có sổ lâm bạ nhận cây giống và tự phát băng,
đào hố trồng rừng cho chương trình dự án. Thực hiện dự án trồng rừng, các hộ gia
đình, cá nhân trực tiếp ký hợp đồng nhận khốn trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng với Công
ty Lâm nghiệp Nghĩa Đàn và tự tổ chức thuê lao động phát băng, đào hố, trồng rừng;
hàng năm Lâm trường tổ chức nghiệm thu, thanh toán tiền trồng rừng, chăm sóc, bảo
vệ cho 7 nhóm hộ nhận khốn. Trong đó có 10 hộ gia đình, cá nhân nêu trên, hàng năm
được nhóm hộ nhận khốn với Lâm trường chi trả tiền cơng chăm sóc, bảo vệ.
Diện tích đất lâm nghiệp được cấp sổ lâm bạ cho 10 hộ dân tranh chấp với lâm
trường là 220 ha. Hiện trạng các thửa đất đã được phân chia lô cho 57 hộ, là nhóm hộ
của 10 hộ gia đình, cá nhân đã và đang thường xuyên quản lý, chăm sóc và bảo vệ

rừng. Năm 1997, UBND huyện Nghĩa Đàn đã giao đất, cấp sổ lâm bạ cho đại diện
của nhóm hộ là 10 chủ hộ. Nay 10 hộ dân đã lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận
4


quyền sử dụng đất, nhưng chưa được UBND thị xã Thái Hịa xét duyệt do đất có
tranh chấp.
* Nguồn gốc sử dụng đất lâm nghiệp của Công ty Lâm nghiệp Thái Hòa
được xác định như sau:
Ngày 05/4/1989, Lâm trường được UBND huyện Nghĩa Đàn phê duyệt Luận
chứng kinh tế kỹ thuật với diện tích quản lý kinh doanh trên địa bàn 09 xã của thij xã
Thái Hòa là 6.550 ha, trong đó tại xã Nghãi Tiến là 850 ha.
Ngày 10/12/1992, UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số 3475/QĐ-UBND về
việc thành lập Lâm trường huyện Nghĩa Đàn doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND
tỉnh Nghệ An quản lý với tổng diện tích rừng và đất rừng giao cho Doanh nghiệp
quản lý kinh doanh là 6.550 ha, trong đó tại xã Tân Xn có diện tích là 850 ha. Diện
tích này được giao trên cơ sở Luận chứng kinh tế kỹ thuật được UBND huyện Nghĩa
Đàn Hòa phê duyệt ngày 05/4/1989 và đã được Hội đồng thẩm định Luận chứng kinh
tế kỹ thuật Nghệ An phê duyệt năm 1992. Tuy nhiên sơ đồ kèm theo Luận chứng kinh
tế kỹ thuật không thể hiện ranh giới diện tích 850 ha tại xã Nghĩa Tiến.
Năm 2004, sau khi rà soát ranh giới sử dụng đất theo quyết định số 4152/QĐUBND ngày 14/9/2003 của UBND tỉnh Nghệ An, xác định diện tích đất của Cơng ty
Lâm nghiệp Nghĩa Đàn tại xã Nghĩa Tiến còn lại là 319,5 ha đã được UBND tỉnh cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phần diện tích cịn lại chuyển cho địa phương
quản lý là 530,5 ha.
Về khu vực đất tranh chấp 220 ha, theo ý kiến Công ty Lâm nghiệp Thái Hịa
thì 42,7 ha trong đó là rừng thơng do công nhân lâm trường trồng từ những năm 1970
bị các hộ dân xã Nghĩa Tiến lấn chiếm khai thác và 161,3 ha trong đó là đất trống
trong giai đoạn 1992 - 1997 lâm trường chưa có điều kiện trồng mới, từ năm 1998
đến năm 2005 thực hiện dự án 5 triệu ha rừng Cơng ty lâm nghiệp Thái Hịa đứng chủ
dự án đã trồng mới kín tồn bộ diện tích.

* Theo báo cáo của UBND xã Nghĩa Tiến:

5


Trước năm 1990, khu vực đất tranh chấp chủ yếu là đất trống đồi núi trọc, cỏ
lau lách, lùm bụi mọc tự nhiên và một số diện tích có rừng thông, bạch đàn do HTX
Làng Đong trồng từ năm 1970, đất đai do UBND xã Nghĩa Tiến quản lý.
Đến năm 1990, thực hiện quyết định số 184/HĐBT ngày 06/11/1982 của Hội
đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây
gây rừng, UBND xã Nghiã Tiến đã giao cho các hộ dân quản lý, bảo vệ. Năm 1994,
UBND xã đã xét duyệt và được UBND huyện Nghĩa Đàn cấp sổ lâm bạ trắng cho các
hộ gia đình sử dụng vào mục đích khoanh nuôi, bảo vệ rừng
Năm 1997, thực hiện Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15/1/1994 của Chính
Phủ, trên cơ sở diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho nhóm hộ và hộ gia đình, cá nhân
tại xã Nghĩa Tiến, UBND huyện Nghĩa Đàn đã giao đất, cấp sổ lâm bạ xanh cho 85
chủ hộ đại diện nhóm hộ đứng tên trong sổ lâm bạ. Các hộ gia đình được UBND
huyện Nghĩa Đàn giao đất, cấp sổ lâm bạ theo quyết định 89/QĐ-UBND ngày
21/6/1997 thì hiện nay đang sử dụng đúng ranh giới, diện tích trên thực địa.
* Qua kiểm tra đánh giá hiện trạng khu vực tranh chấp
Tồn bộ diện tích rừng trồng tại khu vực tranh chấp được trồng theo chương
trình dự án 327, dự án 661 và 42,7 ha rừng thơng già, do các hộ dân có sổ lâm bạ trực
tiếp quản lý, chăm sóc, bảo vệ và phịng trừ sâu bệnh.
Diện tích đất lâm nghiệp do 7 nhóm hộ nhận khốn trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng
với Cơng ty trùng với ranh giới của 10 hộ gia đình, cá nhân đã có sổ lâm bạ. Theo trích
đo bản đồ địa chính được Sở Tài ngun và Mơi trường xác nhận ngày 16/12/2007 thì
diện tích đất của 10 hộ gia đình tranh chấp với Cơng ty Lâm nghiệp 220 ha.
Tài sản trên đất không phải do công nhân Công ty trồng và cũng khơng phải do
các hộ dân có đất được giao theo Nghị định 02/1994/NĐ-CP tự bỏ vốn đầu tư mà
rừng được trồng bằng vốn ngân sách Nhà nước thơng qua chương trình dự án 327 và

dự án 661 do Công ty Lâm nghiệp huyện Nghĩa Đàn là chủ dự án. Cơng ty đã ký hợp
đồng giao khốn cho 7 nhóm hộ dân xã Tân Xuân trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, sau
khi kết thúc hợp đồng Công ty tổ chức quản lý, bảo vệ. Đồng thời các hộ gia đình có
rừng thuộc 10 nhóm hộ cũng chăm sóc, bảo vệ tồn bộ diện tích rừng trồng.
6


II. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Từ vụ việc tranh chấp ở trên cần đặt ra một số mục tiêu cho việc giải quyết
khiếu nại ở góc độ quản lý hành chính nhà nước như sau:
1. Mục tiêu chung:
- Đảm bảo kỷ cương pháp luật, phù hợp với nguyên tắc cơ bản mà Hiến pháp
đã nêu: đất đai thuộc sở hữu của toàn dân.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,
- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thi hành pháp luật;
- Giải quyết hài hịa giữa các lợi ích trước mắt và lâu dài, các lợi ích kinh tế xã hội và tính pháp lý.
2. Mục tiêu cụ thể:
- Giải quyết tranh chấp về đất lâm nghiệp giữa 10 hộ dân và lâm trường Thái
Hòa tại xã Nghiã Tiến đảm bảo chính xác, đúng pháp luật, khơng làm rắc rối tình
hình trong khu vực, gây mất ổn định tình hình địa phương;
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững kỷ cương phép nước bằng
cách có biện pháp xử lý thích đáng đối với những cá nhân, tổ chức làm sai;
- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia
tranh chấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành pháp luật;
- Giải quyết hài hịa giữa tính pháp lý lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
III. NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ
1. Nguyên nhân:
1.1 . Về khách quan:
Do q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, đơ thị hóa, phát triển các Trung

tâm thương mại, khu cơng nghiệp, … đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại quỹ đất. Theo
đó, giá trị đất lâm nghiệp cũng ngày một tăng lên, dẫn đến phát sinh khiếu nại đòi
quyền sử dụng đất, tranh chấp ngày một gia tăng.

7


Thủ tục hành chính rườm rà, khó hiểu, việc tun truyền pháp luật ở cở sở
chưa tốt, việc công bố các quy định pháp luật chưa sâu sát dẫn đến người dân chưa
hiểu hết trách nhiệm - nghĩa vụ và quyền lợi của mình.
Bộ máy chính quyền cấp xã bấy lâu nay chưa được quan tâm đúng mức. Khi
tuyển dụng cán bộ, viên chức cấp xã không chú trọng việc đề ra chuẩn mực trình độ
văn hóa, trình độ chun mơn nhất định. Vì thế, đội ngũ cán bộ, viên chức cấp xã vừa
thiếu, vừa yếu.
1.2 . Về chủ quan:
Cán bộ, cơng chức là người thực thi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước. Tuy nhiên, trong thực tế công tác không phải tất cả cán bộ, công chức đều hiểu
và vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, một cách đúng
đắn, phù hợp với chức trách nhiệm vụ được giao.
Người dân do thiếu hiểu biết về pháp luật nên đã lúng túng trong việc tự bảo vệ
quyền lợi cho mình; cán bộ quản lý hành chính nhà nước khơng nắm chắc các quy
định của pháp luật nên đã làm sai.
- UBND xã Nghĩa Tiến chưa thực hiện đúng trách nhiệm trong công tác quản
lý nhà nước về đất đai tại khu vực đất có tranh chấp, đó là: khơng kiến nghị với
UBND cấp huyện, với các ngành liên quan để có biện pháp giải quyết kịp thời (từ
năm 1996 và năm 2001 UBND xã Nghĩa Tiến và Công ty đã làm việc để giải quyết
ranh giới sử dụng đất nhưng chưa đi đến thống nhất); chưa phối hợp với Cơng ty để
rà sốt ranh giới sử dụng đất tại thực địa và đã ký xác nhận hồ sơ khống trình UBND
tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Lâm nghiệp Thái Hịa trong
khi đang có diện tích đất của các hộ gia đình, cá nhân đã được cấp sổ lâm bạ sử dụng

và quản lý. Hơn nữa năm 2004, UBND xã Nghĩa Tiến vẫn xét duyệt hồ sơ giao đất
lâm nghiệp cho các hộ dân trong xã.
- Q trình rà sốt hiện trạng sử dụng đất theo Quyết định số 4152/QĐ-UBND
ngày 14/9/2003 của UBND tỉnh, Công ty Lâm nghiệp Nghĩa Đàn (nay là Thái Hòa)
chưa phối hợp chặt chẽ với UBND xã Nghĩa Tiến trong việc đối soát thực địa.

8


- Do sự kém hiểu biết pháp luật cũng như sự tắc trách giữa các bên liên quan
của vụ khiếu nại: Cơng ty Lâm nghiệp Thái Hịa đã khơng phản ánh đúng diện tích
cơng dân xã Nghĩa Tiến đã được cấp sổ lâm bạ, đang khai thác nhựa thông cho
UBND tỉnh biết để có biện pháp xử lý trước khi lập thủ tục trình UBND tỉnh cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho lâm trường. Bởi vì, trước thời điểm được UBND
tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giám đốc cơng ty đã có 2 cơng văn gửi
UBND Huyện Nghĩa Đàn, Hạt kiểm lâm Nghĩa Đàn và UBND xã Nghĩa Tiến về
việc đề nghị có biện pháp xử lý việc một số công dân xã Nghĩa Tiến lấn chiếm đất,
khai thác nhựa thông trái phép. Theo hướng dẫn số 1145/HD-ĐC ngày 4/10/2002 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày 10/6/2003, Công ty Lâm nghiệp Nghĩa Đàn đã
báo cáo về kết quả rà soát ranh giới sử dụng đất thì diện tích đất sau rà sốt khơng có
tranh chấp là không đúng thực tế tại thời điểm rà sốt.
2. Hậu quả
- Vì những ngun nhân trên dẫn đến việc tranh chấp đất lâm nghiệp giữa các
hộ dân và Lâm trường, đã gây nên sự hoang mang, lo lắng cho người dân trong diện
đất bị trùng,
- Ảnh hưởng đến cuộc sống và sản xuất của các hộ dân trên địa bàn xã Nghiã
Tiến, gây mất ổn định tình hình an ninh trên địa bàn xã, ảnh hưởng đến ổn định chính
trị của địa phương.
- Sự việc kéo dài từ năm 1996 đến nay chưa giải quyết đã làm cho lịng tin của
nhân dân vào chính quyền bị giảm sút, kỷ cương phép nước không được thực hiện

nghiêm túc, pháp chế xã hội chủ nghĩa bị ảnh hưởng.
IV. XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Xây dựng phương án
Từ tình huống trên, để giải quyết vụ việc theo đúng mục tiêu đặt ra, có thể đưa
ra 3 phương án giải quyết sau đây.
a. Phương án thứ nhất: Thuyết phục

9


UBND xã Nghĩa Tiến vận động Công ty lâm nghiệp Thái Hòa trả lại đất cho
các hộ dân theo đúng diện tích trong sổ lâm bạ họ được cấp là 220 ha, đồng thời xác
định lại ranh giới đất của Công ty trên địa bàn xã Nghĩa Tiến.
UBND xã Nghĩa Tiến lập tờ trình đề nghị UBND Thị xã Thái Hòa xét giao đất
giao rừng, lập hồ sơ cấp giấy Quyền sử dụng đất cho các hộ cá nhân được giao sổ lâm
bạ, hiện đang quản lý bảo vệ rừng.
Việc giải quyết khiếu nại của các hộ dân thực hiện theo phương án này có
những ưu điểm và khuyết điểm sau.
Về ưu điểm:
Thỏa mãn yêu cầu của các hộ dân xã Nghĩa Tiến là xác định lại ranh giới đất
đai của họ và đưa diện tích 220 ha này ra khỏi diện tích Cơng ty lâm nghiệp quản lý.
Các cấp chính quyền tỉnh, thị xã sẽ khơng phải thành lập đồn thanh tra để giải quyết
khiếu nại. Với mục đích chính là hịa giải thì cách làm này sẽ tránh phải xử lý một số
cán bộ quản lý nhà nước về đất đai, về lâm nghiệp.
Về khuyết điểm
Nếu thực hiện phương án này thì sẽ giảm lịng tin của người dân vào kỷ cương
phép nước, vào pháp chế xã hội chủ nghĩa bởi hành động thiếu trách nhiệm của một
số cán bộ trong thời gian dài không được xử lý thích đáng. Tạo điều kiện cho một số
kẻ xấu lợi dụng tun truyền, gây mất ổn định tình hình chính trị tại địa phương.
Mặt khác, Công ty lâm nghiệp Thái Hòa do Tỉnh quản lý trực tiếp nên các đề

nghị của chính quyền huyện xã sẽ khó làm cho họ “tâm phục, khẩu phục” gây khó
khăn cho q trình hịa giải.
b. Phương án thứ 2: Thành lập đoàn thanh tra liên ngành của thị xã
UBND thị xã Thái Hòa thành lập đồn thanh tra liên ngành gồm cán bộ các
phịng: thanh tra huyện, Phịng Nơng nghiệp và PTNT, Phịng Tài ngun và Mơi
trường để giải quyết vụ tranh chấp. Đồn thanh tra sẽ tìm hiểu nguyên nhân và kết
luận về vụ tranh chấp để đề nghị Chủ tịch UBND thị xã Thái Hòa giải quyết với nội
dung sau:

10


Đề nghị Công ty lâm nghiệp trả lại 220 ha đất lâm nghiệp cho các hộ dân xã
Tân Xuân, đồng thời có tờ trình đề nghị UBND tỉnh, Sở Tài nguyên môi trường cấp
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cơng ty.
Có hình thức xử lý, kiểm điểm đối với Chủ tịch UBND xã Nghĩa Tiến về việc
đã ký, đóng dấu khống hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
Công ty lâm nghiệp. Đồng thời có hình thức xử lý kiểm điểm đối với một số cá nhân
có liên quan đến việc thẩm định, xét duyệt, lưu trữ hồ sơ đất lâm nghiệp
Chỉ đạo Phòng TN – MT, các phòng, đơn vị liên quan và UBND xã Nghĩa Tiến
xét duyệt hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân.
Việc giải quyết khiếu nại của các hộ dân theo phương án này có những ưu điểm
và khuyết điểm sau
Về ưu điểm:
Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hộ dân xã Nghĩa Tiến là được giao lại 220
ha đất lâm nghiệp và được cấp quyền sử dụng đất.
Phần nào giữ vững được kỹ cương phép nước, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ
nghĩa bằng việc có biện pháp xử lý đối với các cán bộ công chức sai phạm
Về khuyết điểm
Công ty lâm nghiệp thuộc quyền quản lý trực tiếp của Tỉnh nên các kết luận,

biện pháp của Chủ tịch UBND Nghĩa Tiến chỉ dừng ở hình thức đề nghị thực hiện,
chưa thể mang tính răn đe về những sai lầm trong thực hiện nhiệm vụ của Công ty mà
thôi.
Như vậy mục tiêu giữ vững kỷ cương phép nước, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ
nghĩa chưa được thực hiện một cách triệt để
c. Phương án thứ 3: Phối hợp với UBND tỉnh thành lập đoàn thanh tra
UBND thị xã sau khi xem xét sự việc, có tờ trình đề nghị UBND tỉnh thành lập
đoàn thanh tra liên ngành để giải quyết tranh chấp đất lâm nghiệp giữa Công ty lâm
nghiệp Thái Hòa và 10 hộ dân xã Nghĩa Tiến. Đoàn thanh tra sẽ xác định rõ lý do gây
nên tranh chấp và trách nhiệm của các bên trong việc giải quyết tranh chấp và đề nghị
UBND tỉnh giải quyết một số nội dung:
11


Điều chỉnh 220 ha đất lâm nghiệp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho Công ty lâm nghiệp Thái Hịa, giao lại diện tích này cho UBND xã Nghĩa Tiến
quản lý.
Có hình thức xử lý, kiểm điểm đối với một số tổ chức, cá nhân liên quan đến
vụ việc để xảy ra vụ tranh chấp. Đồng thời có biện pháp cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các hộ dân có diện tích đất lâm nghiệp trùng với lâm trường.
Về ưu điểm:
Bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của công dân, cụ thể là 10 hộ dân
được nhận lại diện tích đất lâm nghiệp và có thể thực hiện thủ tục để được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Xác định lại ranh giới đất của Công ty lâm nghiệp để đề nghị UBND tỉnh cấp
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cơng ty theo đúng trình tự pháp luật,
quản lý và chỉ đạo từ trên xuống
Có biện pháp xử lý thích đáng đối với những cá nhân và tổ chức thiếu trách
nhiệm gây ra vụ tranh chấp. Việc làm này sẽ tăng niềm tin của người dân trên địa bàn
vào kỷ cương phép nước, vào pháp chế Xã hội chủ nghĩa. Đảm bảo tính thống nhất

của pháp luật, tăng cường Pháp chế xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, giải quyết nhanh chóng, dứt
khốt các hậu quả của vụ khiếu nại mà không làm rắc rối thêm tình hình chính trị tại
địa phương, qua đó giáo dục ý thức pháp luật cho công dân.
Giải quyết được mâu thuẫn giữa chính quyền, cán bộ, cơng chức với cơng dân,
bảo vệ lợi ích chính đáng của cơng dân, phù hợp với truyền thống đạo đức, phong
tục, tập quán và thực tế cuộc sống.
Về hạn chế:
Có thể cán bộ UBND xã Nghĩa Tiến, Công ty lâm nghiệp Thái Hịa và cán bộ
cơng chức thực hiện việc lưu trữ hồ sơ đất lâm nghiệp khơng hài lịng vì phải chịu
hình thức kỷ luật
Việc thành lập đồn thanh tra liên ngành để giải quyết vụ việc này tốn khá
nhiều công sức, tiền của và thời gian của các cấp, ngành có liên quan.
12


2. Lựa chọn phương án
Qua phân tích 3 phương án, ta thấy phương án thứ 3 có tính khả thi và có nhiều
ưu điểm hơn cả, giải quyết tốt các mục tiêu đặt ra, giải quyết được quyền lợi của công
dân, giữ vững kỹ cương phép nước và tăng cường tính hiệu quả của dịch vụ cơng.
Theo tơi nên chọn phương án thứ 3 để giải quyết tình huống này và lập kế
hoạch tổ chức thực hiện phương án đã chọn
V. LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Các bước tiến hành
Nhận được Tờ trình của UBND thị xã Thái Hòa về việc tranh chấp đất lâm
nghiệp tại xã Nghĩa Tiến, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An đã ký ban hành quyết
định thành lập đoàn thanh tra liên ngành để kiểm tra, xác minh và kết luận, kiến nghị
về các vấn đề của vụ việc, giúp Phó chủ tịch UBND tỉnh phụ trách ngành có quyết
định xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Trưởng đoàn thanh tra lập chương trình, kế hoạch kiểm tra, xác minh trình Phó

Chủ tịch tỉnh phê duyệt, đồng thời tổ chức họp đoàn thanh tra để bàn việc thực hiện
chương trình kế hoạch theo quyết định của đồng chí Phó chủ tịch.
Trưởng đồn thanh tra công bố quyết định thụ lý giải quyết khiếu nại đối với
10 hộ gia đình, cá nhân khiếu nại, Cơng ty Lâm nghiệp Thái Hịa và các thành phần
khác có liên quan, tiến hành kiểm tra, xác minh theo chương trình kế hoạch mà đồn
thanh tra đã đặt ra.
Trưởng đoàn thanh tra báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra cho Phó chủ tịch
UBND tỉnh bằng văn bản.
Đồng chí Phó chủ tịch tỉnh xem xét các yếu tố pháp lý và báo cáo kết quả của
trưởng đoàn thanh tra, kết luận thanh tra để ban hành quyết định giải quyết tranh chấp
đất lâm nghiệp, với một số nội dung:
- Giao Cơng ty lâm nghiệp Thái Hịa phối hợp với UBND xã Nghĩa Tiến rà
sốt diện tích đất lâm nghiệp còn lại để lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết; lập hồ sơ
trình UBND tỉnh giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo

13


hướng dẫn của Sở Tài ngun Mơi trường, trình UBND tỉnh xét duyệt quy hoạch sử
dụng đất, giao đất, cho thuê đất và cấp giấy quyền sử dụng đất theo quy định
- Chỉ đạo Phịng Tài ngun Mơi trường, Hạt kiểm lâm Thái Hịa Phịng Nơng
nghiệp và Phát triển nơng thôn và UBND xã Nghĩa Tiến xét duyệt giao đất, giao
rừng, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 10 hộ gia đình hiện đang
quản lý, bảo vệ rừng; đồng thời thu hồi, hủy bỏ sổ lâm bạ đã cấp. Quyền và nghĩa vụ
của các hộ gia đình, cá nhân được giao đất, giao rừng thực hiện theo quy định của
Luật Đất đai và Luật Bảo vệ và phát triển rừng
- Đề nghị Sở Tài nguyên Môi trường và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn thẩm định hồ sơ quy hoạch sử dụng đất theo quy định trình UBND tỉnh phê
duyệt và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty lâm nghiệp Thái
Hòa đồng thời thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp trước đây

cho Công ty Lâm nghiệp Thái Hòa.
- Giao cho UBND thị xã Thái Hịa tổ chức kiểm điểm và có hình thức xử lý
theo quy định đối với Chủ tịch UBND xã Nghĩa Tiến về việc ký, đóng dấu hồ sơ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khống, tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm đối
với UBND xã Nghĩa Tiến, các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý nhà
nước về đất đai, lưu trữ hồ sơ đất lâm nghiệp thiếu chặt chẽ dẫn đến việc tranh chấp
đất lâm nghiệp.
- Giao cho Sở Nông nghiệp & PTNT tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm đối
với Giám đốc Công ty lâm nghiệp Quỳnh Lưu trong việc phối hợp với UBND xã
Nghĩa Tiến kiểm tra, rà soát ranh giới sử dụng đất tại thực địa, đã không báo cáo các
cấp thẩm quyền phần diện tích lấn chiếm, tranh chấp để có biện pháp xử lý trước khi
lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
2. Lịch làm việc của Đoàn thanh tra theo phương án đã được lựa chọn
Người thực
Thời gian

Nội dung làm việc

12/9/2021 Quyết

định

hiện (Người

Địa điểm

liên quan)
số Phó chủ tịch UBND
14


Hình thức

tỉnh Bằng

văn


1168/QĐ-UBND về UBND tỉnh

Nghệ An

bản

việc thành lập đoàn
thanh tra liên ngành
giải

quyết

tranh

chấp đất lâm nghiệp
tại xã Nghĩa Tiến,
thị xã Thái Hòa
14/9/2021 Họp Đoàn thanh tra Các thành viên UBND thị xã Họp bàn
bàn chương trình, kế đồn thanh tra
hoạch

phân


cơng

trách

nhiệm

thực

Thái Hịa

hiện quyết định
16/9/2021 Cơng bố quyết định Đồn thanh tra, UBND
thanh tra giải quyết UBND

xã Nghĩa Tiến

khiếu nại của các hộ Nghĩa
dân xã Nghĩa Tiến

xã Họp công bố

Tiến,

Quyết

định

thanh tra

Công ty lâm

nghiệp và các
đối tượng thanh

tra
18/9/2021 Kiểm tra, xác minh Đoàn thanh tra
sự việc

Nơi xảy ra Kiểm tra, xác
tranh chấp

minh thực địa
và nơi liên

20/9/2021 Trưởng đoàn thanh Lãnh đạo UBND UBND tỉnh

quan
Báo cáo

tra báo cáo kết quả tỉnh, đồn thanh
của đồn với Phó tra và các ngành
Chủ tịch UBND tỉnh có liên quan
22/9/2021 Tổ chức đối thoại và Phó chủ tịch UBND thị xã
kết luận của Phó UBND tỉnh
Chủ tịch UBND tỉnh

15

Họp



về kết quả thanh tra
giải quyết khiếu nại
của các hộ dân
23/9/2021 Quyết định của Phó Phó chủ tịch UBND tỉnh
chủ tịch UBND tỉnh UBND tỉnh

Bằng

văn

bản

về việc giải quyết
tranh chấp đất
24/9/2021 Hoàn thành hồ sơ giải Trưởng

đoàn Thanh tra tỉnh Bằng

quyết tranh chấp, lưu thanh tra

văn

bản

trữ, báo cáo các cấp
có thẩm quyền
25/9/2021 Tổ chức thực hiện Sở TN-MT, Sở Nơi xảy ra vụ Tổ
quyết

định


thực

hiện

quyết khiếu nại của UBND thị xã

giải

quyết

Phó Chủ tịch UBND Thái

khiếu nại

tỉnh

giải NN&PTNT,

việc

chức

Hịa,

Cơng ty Lâm
nghiệp

Thái


Hịa, 10 hộ dân
có liên quan
26/9/2021 Hoàn thành việc xử Lãnh đạo tỉnh, UBND tỉnh
lý tình huống, báo đồn thanh tra,
cáo các cấp có thẩm UBND thị xã
quyền,

rút

kinh Thái Hịa, các

nghiệm trong việc sở

ngành



quản lý đất đai tại liên quan
thị xã Thái Hòa
VI. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
1. Kết luận

16

Bằng
bản

văn



Vụ việc trên xảy ra do cơng tác rà sốt đất lâm nghiệp và lưu trữ hồ sơ không
được thực hiện tốt. Để tránh tình trạng trên tiếp tục xảy ra, cơng tác rà sốt đất lâm
nghiệp cần được hết sức quan tâm ở tất cả các xã có đất lâm nghiệp trên địa bàn
huyện. Bên cạnh đó việc lưu trữ hồ sơ về đất đai phải được kiểm tra thường xuyên,
nhằm xây dựng một hệ thống lưu trữ chặt chẽ, khoa học
Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai là một trong những hoạt
động quan trọng đối với các cấp, các ngành chức năng, đây là vấn đề rất nhạy cảm và
gây nên nhiều bức xúc hiện nay. Điều này địi hỏi mỗi cán bộ, cơng chức thực thi
công vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai phải có đầy đủ phẩm chất chính trị,
nghiệp vụ, năng lực chuyên môn vững vàng nhằm đáp ứng yêu cầu. Việc lưu trữ hồ
sơ tài liệu về đất đai đòi hỏi phải đầy đủ, chặt chẽ và có hệ thống nhằm tránh những
sai lầm đáng tiếc đã xảy ra như vụ việc trên.
Để khắc phục những hạn chế trong công tác giải quyết khiếu nại, tranh chấp về
đất, các cấp chính quyền tập trung xem xét lại những vụ việc khiếu nại phức tạp, kéo
dài và có biện pháp xử lý thích hợp, nếu vụ việc đã được giải quyết đúng thì cơng
khai trả lời dân, nếu chưa thể xử lý thì báo cáo cơ quan cấp trên giải quyết dứt điểm
Tăng cường công tác quản lý hành chính nhà nước về mọi mặt. Chủ tịch
UBND các cấp phải trực tiếp chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại tố cáo, những nơi
có khiếu kiện phức tạp phải phân tích, đánh giá đúng tình hình để tập trung giải quyết
dứt điểm, tránh để vụ việc kéo dài gây bức xức trong quần chúng nhân dân, mất ổn
định tình hình kinh tế, chính trị tại địa phương
2. Kiến nghị
Qua q trình phân tích ngun nhân, hậu quả và các phương án xử lý tình
huống cụ thể ở trên, có thể đưa ra một số kiến nghị sau đây:
- Cần phải tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
pháp luật cho cán bộ, đặc biệt là cán bộ cơng chức xã. Có cơ chế tăng cường kiểm tra
giám sát các hoạt động của cán bộ công chức tại xã để ngăn chặn kịp thời những sai
lầm xảy ra, tránh tình trạng tranh chấp để lâu không được giải quyết như ở trên.

17



- Cần tổ chức tập huấn nghiệp vụ về công tác giải quyết khiếu nại cho cán bộ
cơ sở, nhất là cán bộ thơn xóm để đủ năng lực giải quyết các khiếu nại của công dân
ngay từ đầu, tránh tình trạng đơn thư vượt cấp.
- Tăng cường cơng tác thanh tra, kiểm tra về việc thực thi pháp luật đối với các
cấp các ngành, nhất là công tác quản lý và sử dụng đất đai nhằm phát hiện để chấn
chỉnh kịp thời các sai phạm trong quản lý Nhà nước về đất đai. Đồng thời qua thanh
tra, kiểm tra, kiến nghị đề xuất các biện pháp để công tác quản lý tốt hơn.
- Nâng cao trình độ, nhất là tin học cho cán bộ quản lý lâm nghiệp, cán bộ ở
Hạt kiểm lâm để có thể sử dụng các phần mềm chuyên dụng trong quản lý đất lâm
nghiệp, nhằm có thể quản lý đất lâm nghiệp một cách hệ thống và chặt chẽ, tránh
những sai sót như trên xảy ra.
- Nhiệm vụ theo dõi diễn biến rừng là nhiệm vụ thường xuyên, hàng năm. Cán
bộ làm công tác này cần được ổn định và đào tạo thường xuyên, cần tránh trường hợp
cán bộ đào tạo cho nhiệm vụ này nhưng lại chuyển qua làm nhiệm vụ khác./.
Nghĩa Tiến, ngày 27 tháng 09 năm 2021
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

HỌC VIÊN

18



×