BẢN TĨM TẮT NỘI BỘ VỀ
XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG
VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
Tháng 11 năm 2021
MỤC LỤC
NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH....................................................................................................2
1. GIỚI THIỆU...........................................................................................................................4
1.1 Phạm vi của bản tóm tắt và giới hạn về dữ liệu.................................................... 6
2. CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ XÃ HỘI........................................................................................7
3. CHI TIÊU CÔNG CHO CÁC LĨNH VỰC LIÊN QUAN ĐẾN XÃ HỘI,
MÔI TRƯỜNG VÀ KHÍ HẬU....................................................................................................9
3.1 Giáo dục và đào tạo.................................................................................................... 11
3.2. An sinh xã hội............................................................................................................. 13
3.3 Y tế................................................................................................................................. 15
3.4 Bảo vệ môi trường và hành động vì khí hậu.......................................................... 17
3.5 Đại dịch COVID-19, những ảnh hưởng tới ngân sách Nhà nước
và sự tham gia của Việt Nam trong Cơ chế COVAX .................................................. 19
3.6 Chính sách hỗ trợ người nghèo................................................................................ 20
4. TỔNG QUAN NHANH VỀ QUÁ TRÌNH LẬP NGÂN SÁCH VÀ LỊCH
TRÌNH NGÂN SÁCH................................................................................................................21
5. KẾT LUẬN.............................................................................................................................22
Phụ lục 1: Lịch quy trình lập ngân sách hàng năm tại Việt Nam.............................. 23
Phụ lục 2: Dữ liệu ngân sách về các ngành xã hội, khí hậu và mơi trường............. 24
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
1
Những nội dung chính
Định hướng chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam: Đối với Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021-2030), Việt Nam đã đề ra tầm nhìn dài hạn về
tăng trưởng cân bằng và bao trùm, trên cơ sở đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh
tế, phát triển xã hội, bảo vệ mơi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong khn
khổ của Chiến lược này, việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng được lựa chọn là
một trong ba đột phá chiến lược quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam.
Duy trì và thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ: Bất chấp những ảnh hưởng của đại dịch
COVID-19, nền kinh tế của Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển. Việt Nam đạt mức tăng
trưởng GDP hàng năm 2,91% vào năm 2020, và đạt 5,64% trong sáu tháng đầu năm
2021. Con số này được dự đoán sẽ phục hồi lại mức từ 6,5 đến 7% trong 5 năm tới. Tuy
nhiên, việc phải tăng cường áp dụng các biện pháp phòng chống dịch COVID-19 vào
tháng 7 năm 2021, thời điểm số ca mắc tăng cao do ảnh hưởng từ biến thể Delta, đã
khiến các mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà Việt Nam đặt ra cho năm 2021 trở nên ít khả
quan hơn.
Tính dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu: Trong giai đoạn 1999-2018, Việt Nam xếp
thứ sáu trong số các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi những tác động từ biến
đổi khí hậu, bao gồm các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt có khả năng gây ảnh hưởng
đến các nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất tại Việt Nam, cũng như có thể đe dọa tới
các thành tựu trong phát triển mà Việt Nam phải vất vả mới có được. Việc COVID-19
làm trầm trọng thêm những ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu đã nhấn mạnh tầm quan
trọng của việc coi trẻ em là trung tâm của những chương trình nghị sự về chính sách khí
hậu, đồng thời tăng cường mối liên kết trong hỗ trợ nhân đạo và phát triển.
Đại dịch COVID-19 đã gây ra những áp lực to lớn lên kế hoạch chi tiêu công của Chính
phủ, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng tỷ lệ bao phủ và đảm bảo
quyền tiếp cận cơng bằng đối với vắc xin: Tính đến hết tháng 9 năm 2021, Việt Nam
đã chi 100.110 tỷ đồng (tương đương 4,3 tỷ đơ la Mỹ) cho cơng tác phịng chống đại
dịch COVID-19. Theo ước tính, khoảng 28.500 tỷ đồng (tương đương 1,2 tỷ đô la Mỹ)
đã được sử dụng để mua 160 triệu liều vắc xin và tiêm cho 80 triệu người. Với sự hỗ trợ
từ UNICEF, COVAX đã cam kết sẽ cung cấp cho Việt Nam gần 39 triệu liều vắc xin để
tiêm cho 20% dân số. Tính đến hết tháng 9 năm 2021, hơn 14 triệu liều trong số này đã
được chuyển cho phía Việt Nam. Những hỗ trợ của UNICEF cũng hướng tới việc nâng
cao năng lực của đội ngũ nhân viên y tế và cán bộ tiêm chủng, cũng như công tác tuyên
truyền về tầm quan trọng của việc tiêm chủng và đảm bảo quyền tiếp cận công bằng
đối với vắc xin. Việt Nam sẽ cần tiếp tục tạo dư địa tài chính để đạt được miễn dịch cộng
đồng và tiêm nhắc lại vắc-xin trong những năm tới.
Những quan ngại về nhân khẩu học quốc gia: Tỷ lệ người dân Việt Nam từ 65 tuổi trở
lên được dự báo sẽ vượt quá 15% tổng dân số vào năm 2039. Tại thời điểm đó, tỷ số
phụ thuộc già sẽ tăng lên một cách đáng kể. Để ứng phó với thực trạng này, Việt Nam
cần nhanh chóng áp dụng các chính sách nhằm tăng năng suất lao động và thúc đẩy
tăng trưởng, thông qua việc đầu tư vào nguồn nhân lực và trẻ em, đặc biệt là chuyển
dịch sang các ngành nghề có năng suất cao. Việt Nam cũng cần nâng cấp kỹ năng cho
lực lượng lao động để tạo việc làm năng suất lao động ở quy mơ lớn trong tương lai.
2
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
Tiềm năng phát triển tài chính trong nước: Việt Nam cần tăng thu nội địa và đánh thuế
lũy tiến để hỗ trợ các chính sách vì người nghèo, đồng thời có được nguồn tài chính để
thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và bền vững. Năm 2020, nguồn thu từ thuế chiếm 19,1%
GDP, phần lớn là từ thu nội địa (85,5% tổng thu), đồng thời nợ cơng được duy trì ở mức
dưới 49% GDP. Trong bối cảnh tỷ lệ thuế trên GDP của Việt Nam đang cao hơn của một
số nước khác trong khu vực ASEAN (11,59% của Indonesia và 12,45% của Malaysia
vào năm 2019), Chính phủ Việt Nam cần tiếp tục thực hiện nhiều cải cách kinh tế vĩ mô
nhằm tăng nguồn thu nội địa, đảm bảo việc đạt được các mục tiêu phát triển của đất
nước.
Định hướng lại các ưu tiên đối với chi tiêu quốc gia: Việt Nam cần tiếp tục nâng cao
hiệu quả của chi tiêu công cho y tế và giáo dục, đồng thời xác định lại các ưu tiên của
hai ngành này, bao gồm giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi, học tập trực tuyến và tăng
cường kỹ năng chuyển đổi đối với ngành giáo dục, chăm sóc sức khỏe ban đầu và y
tế dự phịng đối với ngành y tế. Đồng thời, Chính phủ Việt Nam cần xem xét việc tăng
cường đầu tư vào các lĩnh vực như phúc lợi xã hội (trợ giúp xã hội và bảo vệ trẻ em),
nước sạch và vệ sinh, dinh dưỡng, giảm thiểu rủi ro thiên tai và hành động vì khí hậu,
nhằm đạt được những Mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030.
Các chính sách vì người nghèo: Dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong
cơng cuộc xóa đói giảm nghèo (giảm tỷ lệ người nghèo từ hơn 70% năm 2002 xuống
dưới 6% năm 2018), 5,7% dân số Việt Nam (gần 5,5 triệu người) hiện vẫn chưa được tiếp
cận với các dịch vụ thiết yếu. Tỷ lệ này cao hơn nhiều ở trẻ dưới 16 tuổi (14,5%) và cao
hơn đáng kể ở trẻ em dân tộc thiểu số (46,4%) và trẻ khuyết tật (43%). Do ảnh hưởng của
đại dịch COVID-19, tỷ lệ nghèo về thu nhập nhất thời đã tăng từ dưới 10% trước khủng
hoảng lên 33,4% vào tháng 8 năm 2021. Hệ thống chuyển giao liên chính phủ tại Việt
Nam đã được cải thiện mạnh mẽ hướng tới đối tượng là người nghèo, thông qua hỗ trợ
ngân sách từ trung ương và theo chương trình mục tiêu. Trong giai đoạn 2021-2025,
Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt ba Chương trình mục tiêu quốc gia về
Giảm nghèo bền vững, Xây dựng nông thôn mới và Phát triển kinh tế - xã hội cho các
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với tổng ngân sách của cả trung ương và
địa phương khoảng 17,5 tỷ đô la Mỹ. Các Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ tập trung
vào mục tiêu giảm nghèo đa chiều và thu hẹp chênh lệch giữa các khu vực địa lý và dân
tộc. Đây là cơ hội tốt để hoàn thiện các thể chế cho các Chương trình mục tiêu quốc gia,
đáp ứng các ưu tiên dành cho sự công bằng, đảm bảo sự phù hợp trong việc cân bằng
giữa vốn và chi tiêu / đầu tư định kỳ, tăng cường tính minh bạch, giám sát, trách nhiệm
giải trình, cũng như tăng cường trao quyền cho cộng đồng thông qua việc lập kế hoạch
và ngân sách có sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng.
Theo dõi, giám sát và báo cáo tài chính cơng: Chính phủ cần nâng cao chất lượng, tăng
cường tính tồn diện và tính kịp thời của việc phân bổ và sử dụng ngân sách Nhà nước
nhằm đẩy mạnh việc cung cấp thông tin đối với các khoản đầu tư vào phát triển xã hội,
bảo vệ môi trường và hành động vì khí hậu. Các mục tiêu có thể đạt được thông qua: i)
xây dựng bằng chứng đối với các vấn đề có ảnh hưởng tới trẻ em, ii) ủng hộ việc cung
cấp dữ liệu phân tách về phân bổ và sử dụng ngân sách, iii) tăng cường năng lực thể
chế cho hoạt động xây dựng ngân sách có sự tham gia của trẻ em và thanh thiếu niên,
quy trình ngân sách, theo dõi và giám sát ngân sách cùng với các cơ quan hành pháp,
lập pháp và các tổ chức xã hội dân sự.
TÓM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
3
1. GIỚI THIỆU
Năm 1986, những cải cách về kinh tế và
chính trị được thực hiện theo chính sách
Đổi Mới đã giúp Việt Nam gặt hái được
những thành công lớn trong cơng cuộc xóa
đói giảm nghèo. Nhờ những thành tựu này,
cho tới nay, khoảng 45 triệu người dân Việt
Nam đã thoát nghèo, và tỷ lệ hộ nghèo đã
giảm đáng kể từ hơn 70% vào cuối những
năm 1980 xuống dưới 6% vào năm 2018.1
Chính phủ Việt Nam cam kết sẽ thực hiện
các cải cách về kinh tế vĩ mơ để duy trì và
tăng thu nội địa, nhằm đạt được các mục
tiêu phát triển của đất nước vào năm 2030.
Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam cùng
đề ra tầm nhìn dài hạn cho giai đoạn 10 năm
tới (2021-2030), với mục tiêu thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế bao trùm, phát triển xã hội,
bảo vệ mơi trường và thích ứng với biến đổi
khí hậu.
1
4
Ngân hàng Thế giới (2020). Ngân hàng dữ liệu.
Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao, trung bình 6,81% trong
giai đoạn 2016-2019. Vào năm 2018 và
2019, GDP của Việt Nam lần lượt đạt mức
7,08% và 7,02%. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi
COVID-19, tăng trưởng GDP của Việt Nam
vẫn đạt 2,91% vào năm 2020.2 Trong sáu
tháng đầu năm 2021, Việt Nam đạt mức
tăng trưởng GDP 5,64%3, và dự kiến sẽ
tăng trở lại mức 6,5-7% trong vòng 5 năm
tới (2021-2025).4 Tuy vậy, việc chính phủ
áp dụng các biện pháp phòng chống dịch
COVID-19 chặt chẽ hơn trong thời gian vừa
qua nhằm giảm thiểu sự lây lan của biến thể
Delta, đã khiến các mục tiêu tăng trưởng
kinh tế mà Việt Nam đặt ra cho năm 2021
trở nên kém khả quan hơn.
2
Tổng cục Thống kê (2020). Báo cáo tình hình
kinh tế - xã hội năm 2020.
3
Tổng cục Thống kê (2021). Báo cáo tình hình
kinh tế - xã hội năm 2021.
4
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020). Dự thảo cuối cùng
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 20212025.
TÓM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
Năm 2020, thu từ thuế chiếm 19,1% GDP
của Việt Nam, trong đó 85,5% là nguồn thu
trong nước.5 Nợ cơng được duy trì ở mức
dưới 49% GDP trong năm 2020.6 Năm 2019,
tỷ lệ thuế trên GDP của Việt Nam cao hơn
một số nước khác trong khu vực ASEAN,
ví dụ như Indonesia (11,59%) và Malaysia
(12,45%).7
Trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam đã
đạt được những tiến bộ tích cực trong lĩnh
vực xã hội. Tỷ lệ nhập học thuần ở cấp trung
học cơ sở tăng từ 92,5% lên 98,5%, và từ
63% lên 70% ở cấp trung học phổ thông. Tỷ
lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm
từ 13,9% xuống 11,5%.8 Tỷ lệ tiếp cận đối với
cải thiện nước sạch và cải thiện vệ sinh lần
lượt đạt tăng từ 92% và 87% vào năm 2016,
lên 97% và 89% vào năm 2019.9 Ngoài ra,
tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm từ
29,3% năm 2010 xuống 19,6% năm 2019.10
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là
nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công
ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em.11
Những ưu tiên dành cho trẻ em được thể
hiện qua việc xây dựng, hồn thiện và thơng
qua các văn kiện tại Đại hội Đảng lần thứ 13,
trong khuôn khổ Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 2021-2030, Chiến lược
tài chính quốc gia giai đoạn 2021-2030, Kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2021-2025, ba Chương trình mục tiêu quốc
gia về Giảm nghèo bền vững, Xây dựng
nông thôn kiểu và Phát triển kinh tế - xã hội
5
Báo điện tử Chính phủ (2021). Cơ cấu thu bền
vững, chi ngân sách hợp lý, Ngày 8 tháng 1 năm
2021 (đường dẫn).
6
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020). Dự thảo cuối cùng
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 20212025.
7
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (2019). Các
chỉ số về thuế của khu vực Đông Nam Á (đường
dẫn).
8
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020). Dự thảo cuối cùng
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 20212025.
9
Tổ chức Y tế Thế giới và UNICEF (2019). Chương
trình giám sát chung của WHO / UNICEF về Nước
sạch và Vệ sinh môi trường (đường dẫn).
10 Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia (2020). Dữ liệu từ
Tổng điều tra Dinh dưỡng năm 2019.
11 Công ước về Quyền trẻ em (1989) (đường dẫn).
cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi, và Chương trình hành động quốc
gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030.
Mặc dù đã có những cam kết mạnh mẽ từ
phía Chính phủ và nhiều bước tiến tích cực,
trẻ em ở Việt Nam vẫn phải đối mặt với
những thách thức chưa từng có do nghèo
đa chiều,12 biến đổi khí hậu, thiên tai và đại
dịch. Khoảng 14,5% trẻ em dưới 16 tuổi chưa
được tiếp cận với các dịch vụ thiết yếu như
giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nơi ở, nước và vệ
sinh môi trường, hoặc hòa nhập xã hội. Tỷ
lệ này cao hơn ở nhóm trẻ em dân tộc thiểu
số (46,4%) và trẻ em khuyết tật (43%).13 Tỷ
lệ nghèo về thu nhập nhất thời14 đã tăng từ
mức dưới 10% trước khủng hoảng lên 33,4%
vào tháng 8 năm 2021.15 Việt Nam đứng
thứ 6 trong số các quốc gia chịu ảnh hưởng
nặng nề nhất từ biến đổi khí hậu trong giai
đoạn 1999 - 2008.16 Những thách thức to
lớn vừa mới xuất hiện trong một vài năm trở
lại đây bao gồm suy thối mơi trường, thiên
tai ngày càng nghiêm trọng và khó lường
hơn, cùng các hiện tượng thời tiết cực đoan
liên quan đến biến đổi khí hậu như hạn hán,
bão và lũ lụt. Biến đổi khí hậu đang góp phần
làm gia tăng tần suất và cường độ thiên tai
tại Việt Nam, ví dụ như các đợt hạn hán và
tình trạng xâm nhập mặn đang diễn ra trên
tồn quốc, hay 7 cơn bão liên tiếp đổ bộ vào
miền Trung Việt Nam trong năm 2020, gây
ảnh hưởng trực tiếp tới khoảng 2,5 triệu trẻ
em.17 Trong giai đoạn 1958-2018, nhiệt độ
trung bình năm trên cả nước đã tăng 0,89 độ
C. Năm 2018, Việt Nam xếp hạng thứ 159
12 Trẻ em sống trong tình trạng nghèo đa chiều là
những trẻ bị thiếu hụt ít nhất hai trong số các nhu
cầu cơ bản, bao gồm giáo dục, y tế, dinh dưỡng,
nơi ở, nước và vệ sinh môi trường, lao động trẻ
em, giải trí, được cơng nhận và bảo trợ xã hội.
13 Tổng cục Thống kê (2018). Khảo sát mức sống
dân cư Việt Nam.
14 Nghèo do giảm nhất thời thu nhập hoặc các
khoản chi tiêu đủ để giữ cho hộ gia đình ở trên
mức nghèo khổ.
15 Trung tâm Phân tích và Dự báo thuộc Viện Hàn
lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2021). Điều tra về
Nghèo.
16 German Watch (2020). Chỉ số Rủi ro Khí hậu
Tồn cầu 2020.
17 UNICEF Việt Nam (2020). Phân tích Tình huống
Khẩn cấp.
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
5
trên 180 quốc gia về chất lượng khơng khí.18
Khoảng 60.000 ca tử vong mỗi năm có liên
quan đến ơ nhiễm khơng khí xung quanh
(bên ngồi) và ơ nhiễm khơng khí trong
hộ gia đình (bên trong). Ngồi ra, ơ nhiễm
khơng khí cịn ảnh hưởng đến q trình phát
triển hệ thần kinh và khả năng nhận thức
của trẻ em. Những trẻ tiếp xúc với ơ nhiễm
khơng khí ở mức độ cao thì trong tương lai
sẽ có nguy cơ mắc các bệnh mãn tính cao
hơn.19
Dân số Việt Nam đang già đi, và người từ
65 tuổi trở lên sẽ chiếm 15% tổng dân số
vào năm 2039.20 Hiện tại, cứ hai người trong
độ tuổi lao động sẽ hỗ trợ gần một người
phụ thuộc hoặc người không lao động, và tỷ
lệ này sẽ tăng lên khi dân số già. Vì vậy, Việt
Nam cần nhanh chóng thực hiện việc tăng
cường các khoản đầu tư cho trẻ em, bảo vệ
mơi trường và hành động vì khí hậu nhằm
đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển
bền vững trong trung và dài hạn. Việt Nam
cũng cần nâng cấp lực lượng lao động để
tạo việc làm năng suất cao có quy mơ lớn
trong tương lai.
1.1 Phạm vi của bản tóm tắt và
giới hạn về dữ liệu
Bản tóm tắt này được thực hiện nhằm cung
cấp một cái nhìn tổng quan về xu hướng
chi tiêu (xem Phụ lục 2) cho các lĩnh vực
xã hội và môi trường trong giai đoạn 20182020. Phân tích này sẽ được sử dụng để hỗ
trợ Chính phủ trong quá trình đưa ra quyết
định và đầu tư vào quá trình phát triển vốn
con người cho trẻ em. Do khơng có đủ dữ
liệu phân tách trong tất cả các ngành được
nghiên cứu, hiện vẫn chưa có đầy đủ các
phân tích chi tiết về từng phân ngành. Phân
tích này cũng nỗ lực tận dụng tối đa các
nguồn dữ liệu thứ cấp có liên quan nhằm
đưa ra cái nhìn tồn cảnh về mức chi tiêu
của Chính phủ cho các lĩnh vực liên quan
đến xã hội, mơi trường và khí hậu. Bản tóm
tắt này hướng đến nhiều nhóm đối tượng
khác nhau, bao gồm Chính phủ, các cơ quan
dân cử và các đối tác phát triển đang tham
gia và/hoặc có quan tâm đến việc thúc đẩy
đầu tư vào vốn con người và hành động vì
khí hậu, tạo tiền đề cho những cuộc thảo
luận về chính sách cũng như các nghiên cứu
trong tương lai.
Những nội dung cịn lại trong bản tóm tắt
này được trình bày như sau. Sau phần Giới
thiệu ở Mục 1, Mục 2 sẽ đề cập tới một số
chỉ số kinh tế xã hội của Việt Nam, Mục 3 sẽ
tóm tắt xu hướng chi tiêu công cho các lĩnh
vực liên quan đến xã hội, mơi trường và khí
hậu; COVID-19 và tác động của đại dịch này
đối với chi ngân sách nhà nước và các chính
sách vì người nghèo của Chính phủ, Mục
4 sẽ trình bày việc phân bổ, sử dụng và dự
tốn ngân sách của Việt Nam, và cuối cùng
Mục 5 sẽ tổng kết các định hướng chiến
lược được đề xuất.
18 Bộ Tài ngun và Mơi trường (2020). Báo cáo
kỹ thuật: Đóng góp dự kiến do Quốc gia tự quyết
định của Việt Nam.
19 UNICEF Việt Nam (2020). Phân tích tác động của
biến đổi khí hậu đối với trẻ em.
20 UNFPA Việt Nam (2020). Thơng cáo báo chí về
Tổng điều tra dân số năm 2019 (đường dẫn).
6
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
2. CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ XÃ HỘI
Hình 1 đưa ra một danh sách bao gồm các
chỉ tiêu kinh tế xã hội. Trẻ em và thanh thiếu
niên dưới 18 tuổi chiếm gần một phần ba
tổng dân số của Việt Nam. Khoảng 14,5%
trẻ em chưa được tiếp cận với các dịch vụ
thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng, nơi
ở, nước và vệ sinh mơi trường, hoặc hịa
nhập xã hội. Tỷ lệ nghèo đa chiều ở trẻ em
dân tộc thiểu số là 46,4%. Hệ số GINI21 của
Việt Nam trong giai đoạn 2016-2019 cho
thấy, bất bình đẳng thu nhập tại nước ta biến
động không nhiều, giảm từ 0,431 vào năm
2016 xuống 0,373 vào năm 2020. Điều này
cho thấy Việt Nam đang nằm trong ngưỡng
an toàn, hiệu quả, phù hợp cho mục tiêu
tăng trưởng cao.22
Năm 2020, Việt Nam đứng thứ 117 về Chỉ số
Phát triển Con người trên tổng số 189 quốc
gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được biết đến
là một trong những nền kinh tế năng động
nhất trong khu vực Đông Nam Á mới mức
tăng GDP 25% (từ 205,27 tỷ USD năm 2016
lên 271,15 tỷ USD năm 2020).23 Mặc dù bị
ảnh hưởng bởi COVID-19, Việt Nam vẫn đạt
mức tăng trưởng GDP 2,91% vào năm 2020
và dự kiến sẽ tiếp tục đạt mức tăng GDP từ
5 đến 7% trong giai đoạn 5 năm tới (20212025).24 Thành tích này mang lại những cơ
hội đầy hứa hẹn để tạo dư địa tài chính cho
việc mở rộng đầu tư vào trẻ em và vốn con
người của Việt Nam.
21 Hệ số GINI biểu thị việc phân phối thu nhập trên
toàn bộ dân số của một đất nước. Hệ số này
thường được sử dụng để đo mức độ bất bình
đẳng kinh tế, phân phối thu nhập hoặc ít phổ biến
hơn là phân phối của cải trong dân số.
23 Ngân hàng Thế giới (2020). Ngân hàng dữ liệu về
GDP của Việt Nam.
22 Tổng cục Thống kê (2020). Xu hướng bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam giai
đoạn 2016-2020 (đường dẫn).
24 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020). Dự thảo cuối cùng
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 20212025.
TÓM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
7
BẢNG 1: CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ XÃ HỘI ĐƯỢC LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM
(ĐÃ CẬP NHẬT)
Chỉ số
Dữ liệu
Tổng dân số (a)
96.208.984
Dân số dưới 18 tuổi (%) (a)
28,4
Dân số dưới 16 tuổi (%) (a)
25,8
Tỷ lệ nghèo đa chiều chung (%) (b)
5,70
Tỷ lệ nghèo đa chiều của trẻ em (dưới 16 tuổi) (%) (c)
Tỷ lệ nghèo đa chiều của trẻ em dân tộc Kinh (dưới 16 tuổi) (%) (c)
14,50
6,80
Tỷ lệ nghèo đa chiều của trẻ em dân tộc thiểu số (dưới 16 tuổi) (%) (c)
46,40
Hệ số GINI (i)
0,373
Chỉ số phát triển con người HDI (đứng thứ 117 trong số 189 quốc gia và vùng
lãnh thổ) (d)
0,704
Tuổi thọ trung bình (e)
73,6
Tổng tỷ suất sinh (e)
2,09
Tỷ lệ phụ thuộc (f)
45,0
Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân (%) (d)
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi (trẻ em dưới 5 tuổi) (%) (g)
89,90
19,6
Tỷ lệ tiếp cận với cải thiện nước sạch (%) (e)
97
Tỷ lệ tiếp cận với cải thiện vệ sinh (%) (e)
89
Tỷ lệ nhập học thuần (cấp tiểu học) (%) (e)
98
Tỷ lệ biết chữ (15-24 tuổi) (%) (e)
95,80
Tỷ suất tử vong của trẻ em dưới 5 tuổi (e)
21,40
Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi (%) (e)
94,30
Tốc độ tăng trưởng GDP (e)
GDP bình qn đầu người (đơ la Mỹ) (h)
GDP (tỷ đô la Mỹ) (f)
Tỷ lệ nợ trên GDP (%) (h)
2,91
2.692
271,15
49
Tỷ lệ thuế trên GDP (%) (i)
24,9
Tỷ lệ thu nội địa (trên tổng thu) (i)
85,5
Tỷ lệ lạm phát (i)
3,23
Nguồn: (a) 2019, Tổng cục Thống kê, (b) 2019, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, (c) 2018, Tổng cục Thống kê,
(d) 2019, UNDP, (e) 2019, Tổng cục Thống kê, (f) 2020, Ngân hàng Thế giới, (g) 2019, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, (h)
2019, Bộ Tài chính và (i) 2020, Tổng cục Thống kê.
8
TÓM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
3. CHI TIÊU CÔNG CHO CÁC
LĨNH VỰC LIÊN QUAN ĐẾN XÃ HỘI, MƠI
TRƯỜNG VÀ KHÍ HẬU
Là một trong những ưu tiên hàng đầu để
phát triển xã hội, Giáo dục và đào tạo được
đặt mục tiêu phân bổ ngân sách từ 15-20%
tổng chi tiêu cơng kể từ năm 2000. Năm
2020, Chính phủ Việt Nam đã chi tổng cộng
72,3 tỷ đô la Mỹ cho giáo dục và đào tạo
(tương đương gần 18% tổng chi tiêu cơng
của Chính phủ). Trong 5 năm vừa qua, từ
2016 đến 2020, Chính phủ ln coi phát
triển nguồn nhân lực có chất lượng là một
trong ba đột phá chiến lược để phát triển
kinh tế - xã hội.25 Vì vậy, trong giai đoạn 2018
- 2020, chi tiêu công cho giáo dục được duy
trì ở mức 16,6 - 18,8% tổng chi tiêu cơng của
Chính phủ, tiếp theo đó là chi cho an sinh xã
hội (6,6 - 8,3%) và y tế (5 - 6%) (Hình 2).
Việt Nam đã nỗ lực huy động nguồn lực
từ khu vực tư nhân. Tuy nhiên, các hộ gia
đình hiện vẫn phải tự bỏ tiền ra để chi trả
cho những dịch vụ xã hội cơ bản. Điều này
đặt ra những vấn đề về mức độ hiệu quả
và công bằng trong lĩnh vực giáo dục và y
tế.26 Lấy ví dụ, dù theo thống kê, hơn 2/3 số
trẻ em hiện đang được cho đi học tại các
lớp học thêm, thì tỷ lệ này ở trẻ em thuộc
các hộ gia đình khá giả là 90%, trong khi tại
những hộ gia đình có thu nhập thấp hơn, tỷ
lệ này chỉ là 1/3. Điều này đã dẫn đến sự
chênh lệch đáng kể trong thành tích học
tập ở trường giữa những em đến từ các hộ
gia đình có hồn cảnh kinh tế xã hội khác
nhau.27 Về lĩnh vực y tế, trong khi tỷ trọng
tổng chi tiêu trên GDP của Việt Nam cho
lĩnh vực này đều cao hơn hầu hết các nước
có thu nhập thấp hoặc trung bình ở khu vực
25 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020). Dự thảo cuối cùng
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 20212025.
Đông Á (6% so với 4% của Malaysia và 3%
của Indonesia), một nửa trong số này là do
khu vực tư nhân tự chi trả. Thực tế này sẽ
dẫn tới những hậu quả bất lợi, đặc biệt là đối
với người nghèo.28
Trong thời điểm hiện tại, ngành Giáo Dục
và Y Tế cần xác định lại những ưu tiên đầu
tư trong các phân ngành của mình. Mặc dù
Việt Nam đã đạt được mục tiêu là phổ cập
giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi tại 63 tỉnh
thành vào năm 2016, Chính phủ vẫn cần
tăng cường đầu tư vào giáo dục mầm non
cho trẻ em trước 5 tuổi, do trong năm 2019,
chỉ có 16,74% trẻ dưới 5 tuổi đi học tại các
trường mầm non, trong khi tỷ lệ này ở trẻ 5
tuổi là 78,53%.29 Ngoài ra, đại dịch COVID-19
đã làm tăng mức độ cấp thiết của vấn đề
thu hẹp khoảng cách số tại Việt Nam, đặc
biệt là tại các vùng sâu vùng xa. Trước khi
có COVID-19, có tới 93% giáo viên tại các
tỉnh vùng sâu vùng xa cho biết đã không
ứng dụng các công nghệ trong lớp học.30
Trong lĩnh vực y tế, do một số khoản chi tiêu
nay được giao cho các cấp dưới trung ương
quyết định nên các bệnh viện cơng nay đã
có nhiều quyền tự chủ hơn. Trong bối cảnh
bước vào thời kỳ già hóa dân số nhanh chóng
nhưng vẫn chưa thể hồn thiện chương trình
về dinh dưỡng, nước sạch và vệ sinh môi
trường, Việt Nam cần tăng cường phân bổ
nguồn lực và đầu tư cho y tế dự phòng và y
tế cơ sở.31
28 Ngân hàng Thế giới và Bộ Tài chính (2017). Đánh
giá Chi tiêu công Việt Nam - Chương về Y tế.
29 GSO (2019). Tổng điều tra dân số năm 2019.
26 Tài liệu thảo luận chung của Liên Hợp Quốc về Xã
hội hóa tại Việt Nam năm 2016, tập trung vào lĩnh
vực Y tế và Giáo dục.
30 UNICEF Việt Nam (2020). Đánh giá nhanh tác
động KT&XH của đại dịch COVID-19 đối với trẻ
em và gia đình tại Việt Nam.
27 Những Cuộc đời Trẻ thơ (2014). Tóm tắt về Giáo
dục.
31 Ngân hàng Thế giới và Bộ Tài chính (2017). Đánh
giá Chi tiêu cơng Việt Nam - Chương về Y tế.
TÓM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
9
HÌNH 1: TỔNG CHI TIÊU CƠNG CỦA CHÍNH PHỦ
THEO TỪNG NGÀNH (%)
2020
Phát thanh,
truyền hình
0,4
0,4
0,4
Thể thao
0,5
0,5
0,5
2019
2018
Văn hóa
& Thơng tin
1,3
1,5
1,5
Mơi trường
1,5
1,4
1,7
5
Y tế
An sinh
xã hội
5,9
6
6,6
7,6
8,3
16,6
Giáo dục
0
10
5
10
15
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
17,9
18,8
20
Các khoản chi cho bảo vệ môi trường và
hành động vì khí hậu vẫn cịn hạn chế, chỉ
chiếm chưa đến 2% tổng chi tiêu cơng hàng
năm của Chính phủ. Mức chi này được
đánh giá là chưa đủ để giải quyết hiện trạng
phức tạp và ngày càng leo thang của suy
thoái mơi trường và biến đổi khí hậu. Các
ngành có mức chi tiêu cơng thấp nhất lần
lượt là văn hóa (1,5%), thể thao (0,5%) và
phát thanh, truyền hình và truyền thơng đại
chúng (0,4%). Đồng thời, các hiện tượng thời
tiết khắc nghiệt và cực đoan cũng được dự
đốn có thể làm giảm GDP của Việt Nam
khoảng 3,6 tỷ đô la Mỹ mỗi năm vào năm
2030.32
Khuyến nghị chính:
•
Đề xuất với Chính phủ về vấn đề cải
thiện hiệu quả chi tiêu công trong lĩnh
vực giáo dục và y tế.
•
Khuyến nghị với Chính phủ nên xác định
lại mức độ ưu tiên trong việc phân bổ chi
tiêu cho các phân ngành quan trọng và
cấp thiết, bao gồm giáo dục mầm non,
năng lực kỹ thuật số và chuyển giao
trong ngành giáo dục, y tế dự phòng và
chăm sóc sức khỏe ban đầu.
•
Tăng cường phân bổ ngân sách và đầu
tư để hỗ trợ bảo vệ môi trường và hành
động vì khí hậu, chẳng hạn như đầu tư
vào năng lượng sạch và năng lượng tái
tạo, giảm thiểu rủi ro thiên tai dựa vào
cộng đồng và bảo trợ xã hội.
3.1 Giáo dục và đào tạo
Trong ba năm vừa qua, Chính phủ đã duy
trì đầu tư cho giáo dục và đào tạo ở mức
tương đối cao (theo cả tỷ lệ tuyệt đối và tỷ
lệ phần trăm). Tuy vậy, một số phân ngành
vẫn cần nhận được nhiều sự quan tâm hơn.
Hình 2 cho thấy, trong khoảng thời gian được
nghiên cứu, Chính phủ đã duy trì tỷ lệ trung
bình giữa chi thường xuyên và đầu tư cho
giáo dục ở mức 80:20. Do những hạn chế về
việc thu thập số liệu, chúng ta không thể xác
định được chính xác mức chi thường xuyên
cho lương giáo viên và chi ngoài lương. Đây
đều là những yếu tố đầu vào quan trọng cho
việc nâng cao chất lượng giáo dục. Ở hình
3, chúng ta có thể thấy được sự chênh lệch
trong việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
Trong giai đoạn 2018 - 2020, đầu tư cho
giáo dục tiểu học giữ vị trí cao nhất (hơn
31%), theo sau đó là giáo dục trung học cơ
sở (22,7% và 23,8%). Giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục thường xuyên chiếm tỷ trọng rất
khiêm tốn (lần lượt là 1,5 và 2%), cuối cùng
giáo dục trung học phổ thơng chiếm 10,510,9%. Ngồi ra, mặc dù giáo dục mầm non
chiếm 19,8% tổng chi tiêu công cho giáo
dục, nhưng phần lớn khoản đầu tư này lại
dành cho giáo dục mầm non cho trẻ em
năm tuổi.
32 UNICEF Việt Nam (2020). Phân tích tác động của
biến đổi khí hậu đối với trẻ em.
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
11
HÌNH 2: TỶ LỆ CỦA VỐN ĐẦU TƯ VÀ CHI THƯỜNG XUN TRONG
TỔNG CHI TIÊU CƠNG CỦA CHÍNH PHỦ CHO GIÁO DỤC (%)
100
81,4
81,6
18,6
18,4
2018
2019
77,3
80
60
40
20
0
Chi đầu tư
cho giáo dục
22,7
2020
Chi thường xuyên
cho giáo dục
HÌNH 3: CHI TIÊU CƠNG THEO CẤP HỌC (%)
31.1
31.5
31.6
35
10.5
10.5
10.9
15
10
2
1.8
1.5
5
0
Mầm non
Tiểu học
2018
12
13.9
13.1
12.4
20
19.8
19.6
19.8
25
22.7
23.4
23.8
30
Trung học Trung học
cơ sở
phổ thơng
2019
Dạy nghề
và GDTX
Đại học
2020
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
Việt Nam cũng cần ưu tiên cho việc đầu
tư để giảm bớt khoảng cách chênh lệch
trong giáo dục cho các nhóm đối tượng dễ
bị tổn thương, bao gồm trẻ khuyết tật, học
sinh là người dân tộc thiểu số và trẻ em
thuộc các gia đình nghèo. Ví dụ, trẻ khuyết
tật chỉ chiếm 0,12%33 trong tổng sổ trẻ em
được đăng ký tham gia giáo dục mầm non,
trong khi có tới 2,79% trẻ em Việt Nam là trẻ
khuyết tật.34 Ngoài ra, ở tuổi 15, trung bình,
bậc học hồn thành của trẻ em dân tộc
thiểu số thấp hơn 1 lớp so với trẻ em dân tộc
Kinh, và điểm số kiểm tra Toán và từ vựng
của các em cũng thấp hơn so với các bạn
dân tộc Kinh cùng lứa.35 Cuối cùng, người ta
ước tính được rằng khoảng 1,5 triệu trẻ em
trong độ tuổi từ 5 - 17 tuổi khơng thể đi học
do vì nhiều lý do, như khơng đủ khả năng
tài chính (14,4%), do bị khuyết tật hoặc mắc
bệnh (11,4%), và do phải tham gia lao động
(11%).36
Khuyến nghị chính:
•
Chính phủ cần xem xét những nội dung
sau: i) xác định lại mức độ ưu tiên trong
phân bổ chi tiêu đối với một số phân
ngành, bao gồm năng lực kỹ thuật số
và chuyển giao cho giáo dục tiểu học
và trung học để giúp các em nâng cao
năng lực và chuẩn bị sẵn sàng cho thị
trường lao động trong tương lai và ii) đẩy
mạnh đầu tư vào giáo dục nghề nghiệp
và giáo dục thường xuyên, tăng cường
đào tạo và giáo dục ở cấp trung học phổ
thông nhằm chuẩn bị tốt hơn cho lực
lượng lao động có kỹ năng cao và thu
hẹp khoảng cách chênh lệch về giáo dục
cho các nhóm đối tượng yếu thế và dễ bị
tổn thương.
•
Để đưa ra được những phân tích sâu
hơn, cần có thêm dữ liệu phân tách về
chi tiêu công cho: i) giáo dục mầm non
cho trẻ em 5 tuổi và trẻ em từ 3-5 tuổi để
thúc đẩy sự phát triển của trẻ em và ii)
các khoản chi thường xuyên theo lương
và các khoản ngồi lương, để có thể thực
hiện một số đề xuất cụ thể nhằm nâng
cao độ bao phủ và chất lượng giáo dục.
3.2. An sinh xã hội
Chi tiêu công vào an sinh xã hội đứng thứ
hai trên tổng chi tiêu của chính phủ. Tuy
nhiên, đầu tư vào chăm sóc và bảo vệ trẻ
em và trợ giúp xã hội trong năm 2018-2020
còn khiêm tốn. Lương hưu và các phức lợi
bảo hiểm xã hội đứng vị trí cao nhất, mặc dù
mức phần trăm giảm nhẹ từ 39,1% xuống
36,9% trên tổng chi của chính phủ vào an
sinh xã hội trong năm 2028-2020. Mức tuyệt
đối và phần trăm trợ giúp xã hội dành cho
người có cơng giảm từ 35,3% vào năm 2018
xuống 29,7% vào năm 2020.
An sinh xã hội cho các nhóm mục tiêu
khác tăng 7,9 điểm phần trăm, từ 25,3%
vào năm 2018 lên đến 33,2% vào năm
2020. Chi tiêu vào chăm sóc và bảo vệ trẻ
em chiếm một tỷ lệ rất khiêm tốn (0,2%)
trên tổng chi tiêu của chính phủ vào an sinh
xã hội vào năm 2020 (Hình 4).
33 Dữ liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
34 Tổng cục Thống kê (2016). Điều tra Quốc gia về
người khuyết tật năm 2016.
35 Dự án Những Cuộc đời Trẻ thơ (2016) Giáo dục
và Đào tạo: Kết quả sơ bộ của Cuộc điều tra do
Những Cuộc đời Trẻ thơ thực hiện năm 2016 (Lần
5): Việt Nam
36 Tổng cục Thống kê (2019). Tổng điều tra dân số
năm 2019 và Điều tra quốc gia về lao động trẻ em
năm 2018.
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
13
HÌNH 4: CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ VÀO AN SINH XÃ HỘI
35.3
Trợ giúp xã hội
cho người có cơng
trong chiến tranh
33.4
29.7
0.3
Chăm sóc và
bảo vệ trẻ em
0.3
0.2
39.1
Lương hưu
và hỗ trợ cho
bảo hiểm xã hội
40.3
36.9
25.3
Trợ giúp xã hội
cho ác nhóm
mục tiêu khác
26
33.2
0
10
2018
14
20
2019
30
2020
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
40
Khuyến nghị chính:
•
Chính phủ cần tiến hành phân tích để
ước tính chi tiêu vào chăm sóc và bảo
vệ trẻ em và trợ giúp xã hội cho trẻ em
thuộc diện an sinh xã hội và tăng mức
đầu tư.
•
Ngồi ra, cần số liệu phân chia ở mỗi
nhóm chi tiêu vào trợ giúp xã hội cho
các nhóm mục tiêu khác nhằm đưa ra
các khuyến nghị chính sách.
3.3 Y tế
Trong năm 2018-2020, chính phủ đã tăng
cường chi tiêu vào cơ sở hạ tầng y tế, kiểm
tra sức khỏe và khám chữa bệnh. Cụ thể,
tỷ lệ vốn đầu tư trên tổng chi tiêu của chính
phủ vào lĩnh vực y tế đã tăng 13 điểm phần
trăm so với cùng kỳ, từ 19,9% vào năm 2018
lên đến 32,9% vào năm 2020. Trong khi đó,
chi tiêu thường xuyên giảm 13 điểm phần
trăm (từ 80,1% vào năm 2018 xuống cịn
67,1% vào năm 2020) (Hình 5).
Chi tiêu vào khám chữa bệnh có mức tăng
lớn nhất, từ 38,2% vào năm 2018 lên đến
45,4% vào năm 2020. Nguồn lực huy động
nhằm bù đắp chi phí chi tiêu cho bảo hiểm y
tế tăng từ 35% vào năm 2018 đến 35,9% vào
năm 2019, nhưng giảm xuống còn 33,3 vào
năm 2020. Chi tiêu dành cho y tế dự phòng
giảm 3,2 điểm phần trăm, từ 15,4% vào năm
2018 xuống 12,2% vào năm 2020. Chi tiêu
công dành cho kế hoạch hóa gia đình năm
2020 là 27 nghìn tỷ Đồng, chỉ bằng 1/3 so
với năm 2018 (96 tỷ Đồng). Chi tiêu công
vào dân số gần như đã giảm một nửa (từ 1,5
nghìn tỷ Đồng vào năm 2018 xuống cịn 884
tỷ Đồng vào năm 2020) (Hình 6).
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
15
HÌNH 5: PHÂN BỔ CHI TIÊU CƠNG CHO LĨNH VỰC Y TẾ (%)
100
80.1
80
79.3
67.1
60
40
32
19.9
20
0
20
2018
2019
Chi đầu tư
2020
Chi tiêu thường xuyên
HÌNH 6: PHÂN BỔ CHI TIÊU CÔNG CHO LĨNH VỰC Y TẾ THEO CÁC
PHÂN NGÀNH (%)
40
35
35.9
33.3
38.2
39.3
45.4
50
0
16
Y tế
Kiểm tra Mua bảo An tồn
dự phịng và khám hiểm y tế Vệ sinh
chữa bệnh
thực phẩm
Khác
2018
2020
2019
1.7
1.2
0.9
0.2
0.2
0.2
10
0.1
0
0
9.3
8.2
8
20
15.4
15.2
12.2
30
Kế hoạch Dân số
hóa gia đình
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
Khuyến nghị chính:
•
•
Để đối phó với đại dịch và thiên tai, Việt
Nam cần đầu tư nhiều hơn vào y tế dự
phịng, chăm sóc sức khỏe ban đầu và
bảo hiểm y tế.
Về đầu tư vốn, chính phủ nên nghiên cứu
thêm về đầu tư vào các trạm y tế cấp
xã, huyện nhằm thúc đẩy việc nâng cao
chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế tại địa
phương, với mục tiêu giảm tải cho các
cơ sở y tế ở tuyến cao hơn.
3.4 Bảo vệ mơi trường và hành
động vì khí hậu
Chi tiêu cơng vào mơi trường và hành động
vì khí hậu trong năm 2020 chiếm 1,5% tổng
chi tiêu của chính phủ, tương đương 25,6
nghìn tỷ Đồng. Phần lớn con số này được chi
cho việc xử lý chất thải thể rắn và thể lỏng.
Trong giai đoạn 2018 – 2020, Chính phủ vẫn
duy trì ngân sách trung bình mỗi năm cho
xử lý chất thải rắn ở mức 10 nghìn tỷ Đồng,
dù tỷ lệ trong tổng chi tiêu cơng đã giảm từ
42,1% vào năm 2018 xuống cịn 39,3% vào
năm 2020. Đối với chi tiêu công cho bảo vệ
môi trường, chi tiêu cho xử lý chất thải lỏng
tăng đã từ 21,9% vào năm 2018 lên 27,5%
vào năm 2020. Chi tiêu cho thích ứng với
biến đổi khí hậu giảm từ 9,8% vào năm 2018
(2,3 nghìn tỷ Đồng) xuống 6,7% (1,7 nghìn tỷ
Đồng) vào năm 2020. Hình 7 cho thấy vào
năm 2020, chi tiêu cho xử lý chất thải rắn
chiếm tỷ trọng lớn nhất (39,3%), theo sau đó
là xử lý nước thải (27,5%), các biện pháp bảo
vệ môi trường khác (20,8%), và thích ứng với
biến đổi khí hậu (6,7%).
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
17
HÌNH 7: CHI TIÊU CƠNG THEO CÁC PHÂN NGÀNH Y TẾ (%)
1.7
1.4
1.5
Khảo sát và
phân tích MT
3.1
4.2
4
Bảo vệ MT
42.1
41
39.3
Chất thải rắn
21.9
Nước thải
26.3
27.5
0.1
Phát thải khí 0.1
0.1
Đa dạng
1.8
tự nghiên
1.6
và sinh học
1.6
Hành động
vì khí hậu
3.6
9.8
6.7
21.1
23.3
20.8
Bảo vệ
MT khác
0
10
2018
18
20
2019
30
2020
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
40
Chi tiêu cho xử lý chất thải khí chỉ chiếm 0,1%
tổng chi tiêu công do bảo vệ môi trường. Một
điểm quan trọng là mặc dù chi tiêu vào các
hoạt động bảo vệ môi trường khác chiếm tỷ
trọng khá lớn, tuy nhiên khơng có thơng tin
chi tiết về nội dung của mục chi này.
Khuyến nghị chính:
•
Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn vào bảo
vệ mơi trường và hành động vì khí hậu
để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và
suy thối mơi trường. Một số biện pháp
can thiệp có thể kể đến như giảm thiểu
rủi ro thiên tai trong cộng đồng, thúc đẩy
năng lượng tái tạo sạch, v.v.
•
Cần lập, phân tích và sử dụng khoản chi
tiêu được phân bổ cho các hoạt động
bảo vệ môi trường, nhằm cung cấp
thông tin cho qúa trình hoạch định chính
sách.
3.5 Đại dịch COVID-19, những
ảnh hưởng tới ngân sách Nhà
nước và sự tham gia của Việt
Nam trong Cơ chế COVAX
Đại dịch COVID-19 đã đặt ra những áp
lực to lớn cho ngân sách chính phủ ở cấp
quốc gia và địa phương. Tính đến ngày
1/10/2021, Bộ YT Việt Nam ghi nhận tổng
cộng 790.755 ca nhiễm COVID-19, với
19.301 ca tử vong.37 Theo ước tính của Bộ
Y tế, Việt Nam sẽ cần chi 28.500 tỷ Đồng
(tương đương 1,2 tỷ đô la Mỹ) để mua 160
triệu liều vắc xin cho 80 triệu người. Năm
2021, Việt Nam đã chi 100.110 tỷ Đồng (4,3
tỷ đơ la Mỹ) cho cơng tác phịng chống đại
dịch, 54% trong đó đến từ ngân sách Nhà
nước cấp trung ương (quỹ dự phịng, các
khoản tiết kiệm và đóng góp từ người dân
và ngành kinh doanh), phần cịn lại đến từ
ngân sách địa phương (các quỹ dự phòng
và khoản tiết kiệm). Theo báo cáo, 90% các
tỉnh và thành phố đã chi tồn bộ quỹ dự
phịng của năm 2021 cho cơng tác phịng
37 />vietnam-business-operations-and-thecoronavirus-updates.html/
chống đại dịch. Trong những tháng tới, Việt
Nam sẽ cần dành khoảng 16.070 tỷ Đồng
(tương đương 698 triệu đô la Mỹ) để mua
vắc xin. Nếu đại dịch tiếp tục kéo dài, Việt
Nam sẽ cần chi thêm cho các đợt tiêm nhắc
lại vắc xin COVID-1.38 Một điểm tích cực là
gói hỗ trợ COVID-19 lần thứ hai đã dành ưu
tiên đặc biệt cho phụ nữ có thai và trẻ em
bị mắc COVID-19 phải cách ly. Mặc dù vậy,
tổng giá trị của của gói hỗ trợ thứ hai chỉ
ở mức 0,4% GDP, so với mức 5% trên GDP
hàng năm tại các quốc gia khác trong khu
vực.39 Các trợ giúp xã hội cần được chuyển
tới cho trẻ em dưới 6 tuổi (và tiến tới là tồn
bộ trẻ em), phụ nữ có thai, người già, người
khuyết tật, người lao động và người nhập cư
khơng chính thức.
Đại dịch COVID-19 đã gửi một lời cảnh báo
quan trong tới tất cả các quốc gia, trong đó
có Việt Nam, rằng “khơng ai an tồn cho
đến khi tất cả mọi người đều an tồn”. Do
đó, Việt Nam cần tham gia vào các sáng
kiến vắc xin COVID-19 trên thế giới và đảm
bảo tiếp cận vắc xin công bằng cho mọi
người. Thông qua Cơ chế COVAX, dẫn đầu
bởi Liên minh toàn cầu vắc xin và tiêm chủng
(GAVI), Liên minh Vắc xin, Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO) và Liên minh Đổi mới Sáng tạo
Sẵn sàng cho Dịch bệnh (CEPI), UNICEF đã
và đang làm việc với các nhà sản xuất và
đối tác để thu mua vắc xin COVID-19, cũng
như các nhà cung cấp dịch vụ vận tải, hậu
cần và lưu trữ trên toàn thế giới. UNICEF Việt
Nam đã tạo điều kiện cho sự tham gia của
Việt Nam trong Cơ chế COVAX dưới vai trò
là thành viên, cũng như điều phối việc nhập
khẩu các liều vắc xin do COVAX cung cấp
vào Việt Nam. Cơ chế COVAX cam kết sẽ
cung cấp cho Việt Nam với gần 39 triệu liều
vắc xin COVID-19 để tiêm cho 20% dân số,
và tính đến cuối tháng 9/2021, hơn 14 triệu
liều vắc xin trong số này đã về tới Việt Nam.
Ngoài ra, UNICEF đã và đang hỗ trợ việc
tiêm vắc xin COVID-19 từ nay cho đến năm
2023. Hỗ trợ từ UNICEF sẽ tập trung vào
38 VnExpress – Ngân sách Nhà nước cho COVID-19
vào ngày 23/09/2021. Đường dẫn: https://
vnexpress.net/ngan-sach-co-bao-nhieu-de-chongdich-4360531.html
39 UNDP (2021). Đánh giá nhanh thiết kế và thực
hiện gói hỗ trợ thứ hai của Chính phủ cho các đối
tượng chịu ảnh hưởng bởi COVID-19.
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
19
việc thu mua thiết bị chuỗi cung ứng lạnh,
tăng cường năng lực cho cán bộ y tế và cán
bộ tiêm chủng, cũng như tổ chức và cung
ứng công tác hậu cần cho các chiến dịch
tiêm chủng, bao gồm việc vận chuyển vắcxin đến những vùng khó tiếp cận và triển
khai công tác truyền thông về tầm quan
trọng của tiêm chủng.40
Khuyến nghị chính:
•
Việt Nam cần tiếp tục tạo ra dư địa tài
chính nhằm tăng cường độ phủ vắc xin,
nhằm đạt đươc miễn dịch cộng đồng
và thực hiện tiêm chủng nhắc lại trong
những tháng và những năm tiếp theo.
•
Cần đảm bảo cơng bằng để việc tiêm
chủng có thể tiếp cận các nhóm đối
tượng dễ bị tổn thương và cịn gặp khó
khăn.
•
Việt Nam cần tăng cường độ phủ và
cung cấp đầy đủ trợ giúp xã hội, đặc biệt
ưu tiên các nhóm đối tượng dễ bị tổn
thương - bao gồm người lao động khơng
chính thức, trẻ em và gia đình của trẻ bằng việc nâng mức trợ giúp xã hội từ
2% GDP hiện nay lên tối thiểu 6% GDP.
3.6 Chính sách hỗ trợ người
nghèo
Hệ thống chuyển giao liên chính phủ của
Việt Nam đã và đang mạnh mẽ hướng đến
người nghèo. Quy mô của chuyển giao từ
cấp trung ương tới các tỉnh cần phản ánh
trực tiếp mức độ nghèo của các khu vực. Cả
chuyển giao cân bằng lẫn chuyển giao có
mục tiêu (thuộc Chương trình mục tiêu quốc
gia) cần tập trung nhiều hơn vào các tỉnh có
tỷ lệ nghèo cao.41
Trong giai đoạn 2021-2025, Chính phủ sẽ
thiết lập 3 CTMTQG để tiếp tục hướng tới
các mục tiêu vì người nghèo: i) CTMTQG
về Giảm nghèo Bền vững (GNBV) với ngân
sách trung ương và địa phương tổng hợp
đạt tối thiểu 75 nghìn tỷ Đồng (3,2 tỷ USD),
ii) CTMTQG về Phát triển Vùng nông thôn
mới (PTVNTM) với ngân sách 196 nghìn tỷ
Đồng (8,4 tỷ USD) và iii) CTMTQG về Phát
triển Kinh tế Xã hội cho các Vùng Dân tộc
thiểu số (KTXHTS) với ngân sách đề xuất là
137,7 tỷ Đồng (5,9 tỷ USD).
Thực tế, việc hoạch định và triển khai
CTMTQG vào năm 2016-2020 gặp khá nhiều
gián đoạn tại các chính quyền cấp tỉnh và
huyện. Hướng dẫn triển khai CTMTQG còn
phức tạp và dựa trên thông tin đầu vào, do
vậy sẽ giảm sự linh hoạt và gia tăng khó khăn
khi báo cáo. Vì vậy, cần rà sốt các cơ chế
về thể chế đối với các CTMTQG trong giai
đoạn bình ổn mới này (2021-2025) hướng
tới mục tiêu tinh giản hệ thống và tăng tính
minh bạch, giám sát và trách nhiệm.42
41 Ngân hàng Thế giới (2017). Đánh giá Chi tiêu
công 2017.
40 Dữ liệu từ UNICEF Việt Nam.
20
42 Ngân hàng Thế giới (2017). Đánh giá Chi tiêu
cơng 2017.
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
4. TỔNG QUAN NHANH VỀ
QUÁ TRÌNH LẬP NGÂN SÁCH
VÀ LỊCH TRÌNH NGÂN SÁCH
Luật ngân sách nhà nước 2015 quy định
khung thể chế chung dành cho các mối
quan hệ tài chính liên chính phủ. Bộ luật
này bao gồm q trình lập ngân sách ở
các cấp chính quyền (nhà nước, tỉnh, quận/
huyện và xã). Kế hoạch ngân sách của các
địa phương sẽ được xây dựng và đệ trình
thơng qua một quy trình từ dưới lên, trong
đó các cơ quan lập pháp tại địa phương
sẽ xem xét và điều chỉnh ngân sách địa
phương một cách phù hợp trước khi đệ trình
lên chính quyền ở cấp cao hơn. Cuối cùng,
sau khi tổng hợp các đề xuất về ngân sách
trung ương và địa phương, Cơ quan lập pháp
quốc gia sẽ tiến hành phân bổ Ngân sách
Nhà nước trên toàn quốc. Cụ thể, các tỉnh,
quận/huyện, và xã được giao trách nhiệm
phân bổ các nguồn lực trong phạm vi quyền
hạn của mình. Các cơ quan hành chính ở
mỗi cấp chính quyền sẽ chịu trách nhiệm
theo chiều ngang trước Hội đồng Nhân dân
theo cấp của mình (về tài chính), nhưng
cũng đồng thời chịu trách nhiệm theo chiều
dọc trước các sở chức năng ở cấp cao hơn
trực tiếp và cuối cùng là các bộ ngành trung
ương (về mặt kỹ thuật). Các bộ ngành chịu
trách nhiệm thiết lập các chính sách và tiêu
chuẩn quốc gia. Ngân sách ở mỗi cấp do
Hội đồng nhân dân và chính quyền cấp trên
phê duyệt. Quốc hội có quyền lập pháp tối
cao đối với các quyết định về ngân sách ở
các cấp chính quyền (xem Phụ lục 1 để biết
thời gian chi tiết về quy trình lập ngân sách
hàng năm).
Về phân cấp chi tiêu tại Việt Nam, chính
quyền địa phương chịu trách nhiệm đối với
hơn một nửa tổng chi tiêu của chính phủ.43
Đến năm 2018, các chính quyền địa phương
đã phụ trách triển khai gần 55% tổng chi đầu
43 Ngân hàng Thế giới (2017). Đánh giá Chi tiêu
công 2017.
tư.44 Việc chi tiêu này được các chính quyền
địa phương triển khai trực tiếp (tỉnh thành,
huyện và xã) từ tổng nguồn thu được huy
động và được giữ lại theo quyền hạn của
chính quyền và từ các khoản chi ở chính
quyền cấp trên. Do đó, chính quyền địa
phương đóng vai trị to lớn trong việc cung
cấp dịch vụ cho trẻ em.
Về tính minh bạch ngân sách, sự tham gia
và giám sát, Việt Nam xếp thứ 77 trên tổng
số 117 nước tham gia. Sẽ cần nhiều nỗ lực
hơn nữa về khía cạnh minh bạch (với 38/100
điểm) và tham gia (11/100 điểm).45
Về lĩnh vực trẻ em, chính phủ (Bộ TC và các
bộ ngành) đã phải đối diện với thách thức
về giới hạn dữ liệu và số liệu được phân
chia và toàn diện về chi tiêu ngân sách Nhà
nước cho trẻ em từ tổng quản lý tài chính
cơng. Đồng thời, việc báo cáo triển khai các
chương trình và dự án cho trẻ em từ ngân
sách Nhà nước ở cấp địa phương cịn chậm
chạp và hạn chế. Ngồi ra, sự giám sát của
Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp còn
thiếu và chưa được xác định rõ ràng do chi
tiêu ngân sách cho trẻ em còn phân tán ở
nhiều ngành và cấp hành chính và thiếu sự
phối hợp liên ngành trong việc theo dõi và
báo cáo ngân sách nhà nước dành cho trẻ
em.46
44 Bộ Tài chính (2018) Dữ liệu từ Bộ TC do nhà
nghiên cứu tính tốn cho Báo cáo đánh giá quy
trình lập ngân sách cho trẻ em.
45 Báo cáo chỉ số công khai ngân sách (2019) Kết
quả công khai ngân sách năm 2019 tại Việt Nam.
46 Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài
chính (2020) Đánh giá theo dõi và báo cáo ngân
sách nhà nước dành cho trẻ em.
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CƠNG CHO MƠI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
21
5. KẾT LUẬN
Để đạt được những mục tiêu đề ra cho
Chương trình nghị sự Phát triển Bền vững
2030 và khơng để ai bị bỏ lại phía sau, đây
là thời điểm quan trọng để quốc gia ưu tiên
đầu tư vào phát triển nguồn vốn con người,
bảo vệ môi trường và hành động vì khí hậu.
Mặc dù COVID-19 đã ảnh hưởng mạnh mẽ
đến chi tiêu của chính phủ, điều đó cũng đã
nhấn mạnh vào tính cấp thiết trong việc đẩy
mạnh đầu tư vào các ngành xã hội và hành
động vì khí hậu.
Trong trung hạn và dài hạn, đầu tư vào phát
triển toàn diện cho trẻ em là những con
đường quan trọng để cải thiện nguồn vốn
con người tại Việt Nam. Bằng chứng cho
thấy những can thiệp đúng thời điểm, theo
vòng đời mang lại cho trẻ em một khởi đầu
tốt nhất - bao gồm những cơ hội tốt nhất để
phát triển nhận thức và thể chất trong thời
thơ ấu và trong suốt những năm đi học- sẽ
giúp hạn chế những tổn thất về nguồn vốn
con người và tối đa hóa tiềm năng tăng năng
suất lâu dài.
22
Để đưa ra các quyết định và chính sách có
hiệu quả, điều quan trọng là phải biết Ngân
sách nhà nước đã được chi bao nhiêu và
hiệu quả ra sao từ các ngành xã hội, mơi
trường và khí hậu. Bản tóm tắt chính sách
này nêu rõ tầm quan trọng của việc tiếp
tục thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu
tài chính được phân tổ theo ngành và phân
ngành liên quan để cung cấp thơng tin cho
việc lập chính sách trong bối cảnh đang có
nhiều thay đổi.
Phụ lục 1: Lịch quy trình lập ngân sách hàng
năm tại Việt Nam.
Phụ lục 2: Dữ liệu ngân sách về các ngành xã
hội, khí hậu và mơi trường
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
PHỤ LỤC 1: LỊCH QUY TRÌNH LẬP NGÂN SÁCH
HÀNG NĂM TẠI VIỆT NAM
31/12
QLĐT hồn thành dự tốn chi tiêu ngân sách
nhà nước của chính quyền địa phương và kế
hoạch phân bổ ngân sách chính quyền cấp
tỉnh để đệ trình lên Hội đồng nhân dân tỉnh.
10/12
20/11
Thủ tướng gửi dự toán chi tiêu ngân
sách trong năm tiếp theo tới dự toán
ngân sách nhà nước trung ương cấp 1
và các tỉnh thành.
Bộ KHĐT hoàn thiện kế hoạch phân
bổ chi tiêu vào đầu tư phát triển của
ngân sách nhà nước trong năm tiếp
theo, sau đó gửi đến Bộ TC để tổng
hợp.
15/11
20/9
Bộ TC tổng hợp và xây dựng dự toán
chi tiêu Ngân sách Nhà nước và kế
hoạch phân bổ ngân sách chính phủ
trung ương và đệ trình lên Ủy ban
Thường vụ Quốc hội (QH).
20/7
• Bộ Tài chính (Bộ TC) hướng dẫn
lập dự tốn ngân sách cho năm
tiếp theo.
• Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ
KHĐT) hướng dẫn lập kế hoạch
đầu tư cho phát triển ngân sách
Nhà nước cho năm tiếp theo
Dựa trên Kế hoạch
Phát triển Kinh
tế - Xã hội 5 năm
(KHPTKTXH), Thủ
tướng ban hành
các quy định về lập
KHPTKTXH và dự
toán ngân sách Nhà
nước cho năm tiếp
theo.
QH quyết định chi tiêu
ngân sách Nhà nước
cho năm tiếp theo
và dự tốn kế hoạch
phân bổ cho ngân
sách chính phủ trung
ương.
31/8
15/8
Dự toán chi tiêu
của CTMTQG và
kế hoạch phân
bổ được đệ trình
lên Bộ TC và Bộ
KHĐT.
Các bộ, ban ngành, cơ quan
chính phủ, các cơ quan trung
ương và QLĐT ở các cập phải
hồn thành việc gửi dự tốn
ngân sách tới các đơn vị và
QLĐT nội bộ trực thuộc.
•
Dự tốn ngân sách đơn vị cấp 1 cấp trung ương gửi
dự toán ngân sách cho năm tiếp theo và gửi đến
Bộ TC và Bộ KHĐT.
•
QLĐT dự tốn ngân sách cho năm tiếp theo đến Bộ
TC và Bộ KHĐT.
•
Dự tốn ngân sách Các Chương trình mục tiêu
quốc gia (CTMTQG) gửi đến các cơ quan phụ trách.
15/6
•
Dự tốn ngân sách
đơn vị cấp 1 ở cấp
trung ương (các bộ
ban ngành trung ương)
hướng dẫn lập dự toán
ngân sách cho năm
tiếp theo.
•
Hội đồng Quản lý Đấu
thầu (QLĐT) hướng
dẫn thành lập dự tốn
ngân sách cho năm
tiếp theo.
1/6
15/5
TĨM TẮT XU HƯỚNG CHI TIÊU CÔNG CHO MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM (2018-2020)
23