Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Vấn đề môi trường và quản lý, khai thác Đồi Cò Ngọc Nhị, Ba Vì

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (437.84 KB, 15 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA MƠI TRƯỜNG

BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI
Vấn đề Mơi trường và quản lý, khai thác Đồi Cị Ngọc
Nhị, thơn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì
Bộ mơn

: Thực tập thực tế

Sinh viên thực hiện
Mã số sinh viên
Lớp

: Ngô Nguyên Tùng
: 19001614
: K64 Công nghệ Kỹ thuật Môi trường

Hà Nội, ngày 14 tháng 02 năm 2022


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu bộ môn “Thực tập thực tế” đến nay, em
luôn nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cơ, gia đình và bạn bè. Với
lịng biết ơn sâu sắc, chân thành nhất, em xin gửi lời cảm ơn tới tồn bộ các thầy cơ
giảng viên bộ mơn Thực tập thực tế, thuộc khoa Môi trường, Đại học quốc gia Hà Nội
đã chỉ bảo, hướng dẫn em tận tình trong suốt thời gian học tập, thực hiện và hoàn thành
tiểu luận thực tập này.


Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn bạn bè lớp K64 Công nghệ Kỹ thuật Mơi trường
đã chia sẻ tài liệu và đóng góp ý kiến q báu trong q trình em hồn thành bài báo
cáo.
Cuối cùng, em xin cảm ơn các thành viên trong gia đình đã ln động viên, ủng
hộ và là chỗ dựa tinh thần giúp em tập trung nghiên cứu và hồn thành tiểu luận thực
tập thực tế của mình.

2


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ........................................................ 6
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................................. 6
1.2. Q trình hình thành và phát triển của Đồi Cị Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba
Vì, Hà Nội ............................................................................................................................. 6
1.3. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài ........................................................................... 7
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU........................................................................................................................................... 9
2.1. Đối tượng, nội dung, phạm vi nghiên cứu .................................................................. 9
2.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 10
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................................ 11
3.1. Hiện trạng và các yếu tố sinh thái môi trường ảnh hưởng, tác động đến các lồi
chim làm tổ ở Đồi Cị Ngọc Nhị ........................................................................................ 11
3.2. Vấn đề quản lý, khai thác Đồi Cị Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì ............. 12
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................................... 14
1. Kết luận ........................................................................................................................... 14
2. Kiến nghị ......................................................................................................................... 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 15


3


MỞ ĐẦU
Huyện Ba Vì là một nơi giàu tiềm năng du lịch, với hệ thống các giá trị tài nguyên
tự nhiên và nhân văn phong phú. Trước hết là sự đa dạng sinh học với vườn quốc gia
Ba Vì, nơi tập trung hàng trăm loài động thực vật đa dạng. Núi Ba Vì, cách trung tâm
thủ đơ Hà Nội khoảng 60 km về phía Tây, từ xưa đã nổi tiếng với nhiều cảnh quan thiên
nhiên đẹp, với nhiều địa danh tự nhiên cũng như lịch sử nổi tiếng như quần thể sinh thái
hồ Suối Hai, khu du lịch Khoang Xanh – Suối Tiên, khu du lịch Ao Vua, khu di tích Đá
Chơng K9… Khơng chỉ vậy, vườn Quốc Gia Ba Vì – vùng núi chuyển tiếp với hệ sinh
thái rừng nhiệt đới cịn tồn tại khá nhiều lồi thực vật, động vật quý hiếm có tên trong
Sách đỏ Việt Nam và thế giới như gà lôi trắng, khỉ, cu li, sóc bay, rắn hổ mang chúa…
rất có giá trị về nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen và giáo dục mơi trường,... Nơi
đây cịn sở hữu một thảm thực vật vô cùng phong phú được xem như lá phổi xanh của
thủ đơ Hà Nội; là nơi phịng hộ đầu nguồn, nơi cung cấp nguồn nước sản xuất, nước
sinh hoạt của người dân sinh sống quanh chân núi Ba Vì và vùng lân cận. Mỗi năm, Ba
Vì đón hàng triệu lượt du khách đến thăm quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu thiên nhiên và
trải nghiệm các hoạt động văn hóa.
Đồi cị Ngọc Nhị là một trong những địa điểm du khách khơng thể bỏ qua khi đến
với Ba Vì. Trải rộng trong khoảng 3.5 ha đất tự nhiên thuộc xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì,
đồi Ngọc Nhị là nơi làm tổ của hàng vạn con cị, với diện tích bao phủ rộng bởi cây
xanh, mà trong đó tre chiếm đa số với nhiều chủng loại. Với số lượng lớn cò về làm tổ
và sinh sản, Vườn cò Ngọc Nhị trở thành đảo chim khổng lồ giữa một vùng đồng bằng
tạo nên một khung cảnh nên thơ, một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn người yêu thiên
nhiên hoang dã.
Với nguồn tài nguyên tự nhiên dồi dào và tiềm năng phát triển, Ba Vì trở thành
mối quan tâm của lãnh đạo các cấp. Tuy nhiên, đi cùng với nỗ lực giữ gìn và phát triển,
cũng có nhiều hệ lụy trong việc khai thác và quản lý khu vực vườn Quốc gia Ba Vì, núi
Ba Vì và các khu vực lân cận. Đặc biệt chính là những vấn đề liên quan đến mơi trường

tự nhiên Ba Vì, trong đó bao gồm cả những vấn đề mơi trường tại đồi cị Ngọc Nhị.
Hiện trạng khai khẩn đất đồi khiến số lượng cây giảm mạnh ảnh hưởng đến việc cư trú
làm tổ của đàn cò, vấn đề giữ gìn vệ sinh mơi trường khi mà lượng khách tham quan
khá đông, hay nghiêm trọng hơn là việc đàn cò, vạc hoang dã bị săn bắt trái phép để
làm thực phẩm… đều là những vấn đề môi trường, sinh thái liên quan đến sự phát triển
bền vững của đồi cò Ngọc Nhị.
Là một sinh viên chuyên ngành Công nghệ Kỹ thuật Môi trường, nhận thức được
ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bảo vệ và giữ gìn mơi trường đồi cị Ngọc Nhị nói
riêng cũng như huyện Ba Vì nói chung, em đã lựa chọn đề tài “Vấn đề môi trường và
quản lý, khai thác Đồi Cị Ngọc Nhị, thơn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì” nhằm
góp phần diễn tả hiện trạng về những vấn đề mơi trường của đồi cị Ngọc Nhị, Ba Vì,
thơng qua đó sẽ hiểu rõ hơn về những hoạt động quản lý và khai thác nơi đây; từ đó sẽ
đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác cũng như
giữ gìn và phát triển bền vững môi trường tự nhiên khu du lịch sinh thái Ba Vì.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong bài là tổng hợp và phân tích,
thu thập thơng tin và số liệu từ những nghiên cứu liên quan, cũng như từ nguồn thông
tin trực tiếp liên quan đến đối tượng nghiên cứu.
Về bố cục tiểu luận, ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu
tham khảo, tiểu luận gồm ba chương:
4


Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Đối tượng, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận

5


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý luận
Các vấn đề môi trường là những hành vi có hại do ảnh hưởng của hoạt động con
người đến môi trường. Bảo vệ môi trường là việc thực hiện các hành vi bảo vệ môi
trường tự nhiên xuất phát từ cá nhân, tổ chức hay các cấp chính quyền, vì lợi ích của cả
mơi trường và con người. Các vấn đề môi trường lớn hiện tại được đề cập bao gồm:
biến đổi khí hậu, ơ nhiễm mơi trường, suy thối mơi trường, cạn kiệt tài ngun thiên
nhiên.
Khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể
quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn
lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến
động”. Theo một cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, đơn
vị sự nghiệp, doanh nghiệp…) đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân
hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong
môi trường nhất định (khách thể quản lý) [3].
- Với khái niệm trên, quản lý phải bao gồm các yếu tố sau:
+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất một
đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể có quan
hệ gián tiếp của chủ thể quản lý. Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên
tục nhiều lần.
+ Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng quản lý và chủ
thể quản lý. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể quản lý đưa ra các tác động quản lý.
+ Chủ thể phải biết tác động và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả.
+ Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, hoặc một cơ quan quản lý còn đối tượng
quản lý có thể là con người (một hoặc nhiều người) giới vơ sinh hoặc sinh vật. Quản lý
chính là sự tổng hòa được mọi nỗ lực chung của mọi người trong tổ chức và sử dụng
hiệu quả nhất các nguồn lực của tổ chức để đạt tới mục tiêu chung của tổ chức và mục
tiêu riêng của mỗi người.
Để khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng phát triển bền vững chúng ta
cần thức hiện một số giải pháp:
- Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch một cách hợp lý và giảm thiểu

hiệu quả chất thải ra môi trường
- Phát triển du lịch phải gắn liền với nỗ lực bảo tồn tính đa dạng của tài nguyên
- Phát triển du lịch phải phù hợp với quy hoạch kinh tế - xã hội vì du lịch có tính
liên ngành, liên vùng cao nên mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch
phải phù hợp
- Nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các thành phần tham gia du lịch
trong việc khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch. Đồng thời tăng cường tính trách nhiệm
trong hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch [2].
1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Đồi Cò Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh,
huyện Ba Vì, Hà Nội
Ba Vì là một huyện của thành phố Hà Nội, có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa
dạng, có giá trị lớn về kinh tế và khoa học nhất là về cảnh quan môi trường. Phục vụ
phát triển du lịch sinh thái trong những năm gần đây, ở Ba Vì đã hình thành một cụm
cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn nhiều khách tham quan, nghỉ ngơi và giải trí. Đó là Vườn
Quốc Gia Ba Vì, hồ Suối Hai, Ao Vua, thác Hương, rừng thông Đá Chông, khu du lịch
6


Đầm Long… Đặc biệt vườn chim Ngọc Nhị ở thôn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh đã thu hút
nhiều khách tới tham quan. Vườn chim được hình thành chính thức bắt đầu từ năm
1975, trước đó vào năm 1972 có một vài đơi Cị trắng, Cị ngàng, Vạc bay đến làm tổ ở
hai quả đồi khu vực xã Cẩm Lĩnh. Ở quả đồi Rận phía Bắc, chúng bị những nhà dân ở
đây săn bắt, riêng quả đồi Đưng ở phía Nam là đất của gia tộc anh Phùng Đoài Học.
1.3. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ những năm gần đây kể từ năm 2010, mỗi sáng bình minh hoặc chiều hồng
hơn, người dân phố Hiến – thành phố Hưng n, tỉnh Hưng n đều được ngắm nhìn
từng đàn cị trắng chao liệng trên bầu trời thành phố. Những tìm hiểu cho thấy Cơng
Viên Nam Hịa (thành phố Hưng n) được bao quanh bởi những con đường rộng
thoáng và rợp cây rất nhiều, từ lâu đã trở thành nơi trú ngụ của một số loài chim. Nhận
thấy những giá trị về tiềm năng sinh thái của mảnh đất “lành” nên các cấp chính quyền,

người dân ở đây đã tìm mọi cách để bảo vệ và phát triển đàn cò, vạc. Trích lời anh
Nguyễn Văn Thắng, phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Lê Lợi: “Đất có lành thì
chim mới đậu”, phường đã xác định việc bảo tồn thiên nhiên sinh thái là trách nhiệm
các cấp lãnh đạo địa phương, đặc biệt là nhân dân sống quanh khu vực Công viên Nam
Hòa bằng cách thường xuyên tuyên truyền trên loa phát thanh của phường, gắn vào
những buổi sinh hoạt văn hóa văn nghệ của địa phương... Nhưng để đàn chim trời an
cư, sinh sôi lâu dài trên đảo nhỏ cũng cần tới nhiều yếu tố như: Trồng thêm cây xanh
làm nơi trú ngụ cho cị, vạc; có người bảo vệ chuyên trách, chăn nuôi thủy sản để tạo
nguồn thức ăn cho đàn cò, vạc... Theo kinh nghiệm của người cao tuổi là không được
làm thay đổi quy luật sống của đàn cị, vạc; chất phóng xạ, tiếng ồn (như khơng được
bắn pháo hoa ở cơng viên, khơng được cố tình tạo tiếng động xua đuổi hay dọa đàn cò).
Đặc biệt phải nghiêm cấm việc săn bắn tự do để bảo vệ số lượng đàn chim trời ở Cơng
viên Nam Hịa, để nơi đây mãi là mảnh "đất lành". [1]
Năm 2004, UNESCO công nhận Vườn Quốc gia Xuân Thủy (Giao Thủy, Nam
Định) là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới khu vực Đồng bằng Châu Thổ
sông Hồng. Đây là một điểm du lịch sinh thái lý thú cho những ai thích tìm hiểu đời
sống hoang dã của những loài chim di trú. Cấu trúc địa lý đặc biệt đã hình thành nơi
đây thành một khu dự trữ thiên nhiên với nhiều sinh cảnh độc đáo của hệ sinh thái đất
ngập nước với nhiều động thực vật hoang dã và các loài chim di cư quý hiếm. Xác định
được vai trò, vị thế và tầm quan trọng của vùng đất ngập nước Xuân Thủy, trong suốt
những năm qua, Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm
bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, đồng thời cũng góp phần phát triển
kinh tế - xã hội tại địa phương. Những nghiên cứu thu thập số liệu cho thấy chính quyền
địa phương cũng như Ban quản lý Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã phối hợp chặt chẽ để
đảm bảo việc kết hợp bảo tổn gắn với sinh kế cộng đồng, hướng tới phát triển bền vững.
Cụ thể: với nghề sản xuất mật ong từ rừng sú vẹt, vườn đã phối hợp với Viện Khoa học
Nông nghiệp hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ chăm sóc, quản lý đàn ong
cũng như tìm hiểu cặn kẽ về nguồn hoa nuôi ong, cách thu hoạch, sơ chế và tiêu thụ sản
phẩm. Hàng năm từ cuối tháng 4 đến tháng 7 có khoảng từ 6000-8000 đàn ong được
người dân mang vào vườn để thu hoạch mật hoa sú, vẹt, với sản lượng dự kiến 80-100

tấn/năm. Đến nay vườn đã đăng ký xây dựng thương hiệu sản phẩm mật ong Xuân Thủy
để xây dựng bền vững cho mật ong Xuân Thủy. Với nghề nuôi ngao – nghề truyển
thống của địa phương, nhận thấy do tập tục canh tác và điều kiện thiên nhiên hay biến
đổi khí hậu gây ra các rủi ro cho người dân, Vườn đã cùng chính quyền địa phương tổ
7


chức các buổi tập huấn nuôi ngao bền vững, kiểm soát số lượng ngao thả cũng như kiểm
soát được dịch bệnh, môi trường sống của ngao. Vườn cũng chú trọng tới các chương
trình, dự án trồng rừng, phục hồi rừng kết hợp thực hiện cơ chế khai thác bền vững
nguồn lợi thủy sản, từ đó duy trì được hiện trạng đa dạng sinh học và tạo ra nguồn thu
nhập ổn định cho người dân. Với việc quyết tâm từ chính quyền, sự quan tâm trách
nhiệm của lãnh đạo vườn và sự chung tay của người dân vùng đệm tới đây vườn quốc
gia Xuân Thủy sẽ bảo tồn và phát triển hơn nữa từ đó giúp địa phương phát triển kinh
tế từ thế mạnh của khu đất ngập nước Xuân Thủy [6].

8


CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, nội dung, phạm vi nghiên cứu
Vấn đề về môi trường và quản lý, khai thác Đồi Cị Ngọc Nhị được nghiên cứu tại
thơn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì. Do việc thực hiện nghiên cứu cả tác động
qua lại giữa các yếu tố điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội nên phải xét đến trong phạm
vi khu vực, không thể chỉ xét trong phạm vi nhỏ hẹp ngay tại vườn chim
Cẩm Lĩnh là một xã thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Xã Cẩm
Lĩnh có diện tích 26,63km2, cách trung tâm huyện khoảng 10 km.
- Về địa hình, thổ nhưỡng: Cẩm Lĩnh là xã trung du, tiếp giáp với phía tây điểm
cuối dãy núi Hồng Liên Sơn, Cẩm Lĩnh có địa hình đồi gị thấp, bị chia cắt liên tục,

phân chia thành 2 vùng: vùng đồi cao nằm về phía tây nam có độ cao trung bình từ 30
– 80 m, địa hình gồ ghề nhiều đồi núi đan xen nhau, diện tích 168 ha, chiếm 26,8% diện
tích tồn vùng; vùng gị và đồng ruộng thấp nằm ở phía đơng bắc, diện tích 202 ha,
chiếm 73,2% diện tích tồn xã, phần lớn là các cánh đồng bằng phẳng xen lẫn các đồi
gị. Có thể đánh giá hiện trạng đất đai trong khu vực như sau [4]:
+ Đất đồi gò: chủ yếu là đất feralite nâu vàng phát triển trên đá mẹ phiến thạch
sét. Chất đất từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, kết cấu viên hạt rất thích hợp cho cây rừng
sinh trưởng và phát triển.
+ Đất trồng lúa: có thành phần cơ giới thay đổi, song phổ biến nhất là đất thịt nhẹ.
+ Đất ngập nước: chủ yếu là đất phù sa bao gồm các ao, hồ, đầm trong khu vực.
Đồi Cò Ngọc Nhị tọa lạc trên ngọn đồi thuộc thơn Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội. Đồi Cị có diện tích khoảng 3,5 ha do gia đình ơng Phùng
Đồi Học quản lý. Độ cao của quả đồi là 23,5m so với mực nước biển, nhưng độ chênh
cao khơng lớn nên đồi có độ dốc nhỏ, từ đó có thể hạn chế xói mòn tầng mặt. Tầng đất
ở đây khá dày và là một trong các yếu tố quan trọng để thảm thực vật phát triển tốt.
- Về khí hậu, thủy văn: Theo số liệu Phịng dự báo Đài khí tượng thủy văn khu
vực đồng bằng Bắc Bộ cho thấy khí hậu ở khu vực Ba Vì là khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Khí hậu trong năm phân biệt thành bốn mùa rõ rệt. Nhờ thời gian chiếu sáng của mặt
trời trong ngày đồng đều nên hằng năm ở đây có khả năng thu được một lượng bức xạ
mặt trời khá lớn. Đặc biệt ở đây cũng là khu vực thường xảy ra dông lớn, chịu ảnh
hưởng trực tiếp của bão mỗi khi bão đổ bổ vào đồng bằng Bắc Bộ. Về thủy văn, khu
vực Ba Vì có dịng sơng Đà chảy ở phía Bắc, sau đó gặp sơng Hồng cách khơng xa;
ngồi ra có rất nhiều đầm, hồ tự nhiên và nhân tạo, hệ thống đầm hồ này cùng với sông
suối và các cánh đồng lúa nước tạo nên các khu đất ngập nước, là nơi các động vật thủy
sinh là thức ăn của các loài chim làm tổ [4].
- Đặc điểm kinh tế, xã hội:
+ Dân cư: Theo số liệu năm 2009 của Ủy ban nhân dân xã Cẩm Lĩnh, tính đến
15/12/2009. Xã có 2.273 hộ, số nhân khẩu là 11.527 người trong đó có 7.279 lao động
được phân bố ở 11 thơn. Đó là: Bằng Tạ, Đơng Phương, Ngọc Nhị, Tân Thành, Cẩm
An, Tân An, Cẩm Tân, Cẩm Thuỷ, Phú Phong, Vô Qui và thôn An Thái. Tổng giá trị

sản xuất của xã ước đạt 70 tỷ 744 triệu đồng, bình quân giá trị làm ra 6,6 triệu
đồng/người/năm. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt quy thóc ước đạt 4.649 tấn,
bình quân lương thực đầu người đạt 460 kg/ người/năm.
+ Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, vườn hộ: Làm tốt cơng tác khuyến nơng, dự
báo kịp thời tình hình sâu bệnh trên cây lúa và cây màu. Trồng mới được 18 ha rừng,
9


chăm sóc và bảo vệ được nhiều dự án rừng, nâng cao được bình quân thu nhập từ vườn
hộ và trồng rừng [4].
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết này, các phương pháp nghiên cứu khoa học đã được sử dụng kết
hợp đa dạng như sau:
- Phương pháp kế thừa, thu thập và phân tích số liệu: chọn lọc số liệu, tài liệu báo
cáo tổng quan khu vực cần nghiên cứu đã được cơng bố trước đó
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: từ những số liệu, tài liệu đã được chọn lọc,
ta thực hiện việc phân tích thơng tin chính xác hơn, từ đó tổng hợp được các luận điểm
cần nếu ra trong bài báo cáo

10


CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng và các yếu tố sinh thái môi trường ảnh hưởng, tác động đến các
lồi chim làm tổ ở Đồi Cị Ngọc Nhị
3.1.1. Thảm thực vật
Đối với các lồi chim (Cị) làm tổ ở vườn cị Ngọc Nhị, ngồi các yếu tố sinh thái
như thức ăn, độ an toàn, nơi kiếm ăn thì cấu trúc thảm thực vật là yếu tố mơi trường
quan trọng quyết định sự thay đổi về số lượng cá thể. Như chúng ta đã biết thì thực vật
là nơi chim trú ngụ, nơi dùng làm giá thể đặt tổ, làm nguyên liệu để các loài làm tổ khi

đến mùa sinh sản. Kết quả điều tra thành phần loài thực vật tại vườn cò Ngọc Nhị thống
kê được 171 lồi thực vật bậc cao có mạch thuộc 60 họ. Trong đó có hơn nửa là lồi
cây gỗ, cịn lại là tre nứa. Đây chính là các lồi cây chủ yếu các loài chim chọn làm nơi
xây tổ. Từ kết quả điều tra có thể thấy thành phần lồi cây trong vườn chim là khá phong
phú. Nguồn gốc các cây thân gỗ là các cây của thân thực vật còn sót lại, một số ít là
trồng bổ sung, các cây tre nứa là cây trồng chủ yếu trong vườn.
3.1.2. Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng
Cây cho các loài chim làm tổ, cụ thể là các loài trong họ cỏ như tre gai, bương,
mai, nứa… và cùng một số ít loài cây gỗ. Những loại cây này trong nhiều năm qua đã
bị chặt phá đi nhiều để làm đun củi hoặc phục vụ xây dựng. Tuy nhiên các loài chim ở
đây như cò bợ, cò trắng, cò ruồi, cò ngàng, vạc… cùng một số lồi cị phổ biến khác do
khơng quen nên người dân không thấy chúng làm tổ ở phần vườn mở rộng trồng một
số loại cây khác thay thế.
Sự suy giảm về diện tích, hình thức khai thác các vùng đất ngập nước là nơi kiếm
ăn của các lồi cị ở vườn trong hay ngồi mùa sinh sản. Các vùng đất ngập nước là một
trong các hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao và là nơi cung cấp năng suất sơ cấp
để các loài động vật và thực vật tồn tại. Vì vậy, các vùng đất ngập nước có vai trị rất
quan trọng cho nhiều quần thể chim nước trong và ngoài mùa sinh sản. Tại khu vực
nghiên cứu, nhận thấy những vùng đất ngập nước như ao hồ, đầm hoặc ruộng nước là
những bãi ăn của chim đang bị thu hẹp dần diện tích, chẳng hạn như khu vực xung
quanh rừng Bằng Tạ trước đây là vùng đất ngập nước rộng thì nay đều thành ruộng lúa
và các loại hoa màu khác. Vùng đất ngập nước gần nhất Đầm Long cũng đang bị thu
hẹp diện tích. Nhiều ao ở các thơn trong xã Cẩm Lĩnh và các xã lân cận cũng trong tình
trạng đang bị thu hẹp, do bị lấp đi để làm nhà hoặc làm vườn.
Bên cạnh đó, tính đa dạng của các lồi thủy sinh như cá, ốc, cua,… cũng bị suy
thối do ô nhiễm nguồn nước tại các vùng đất ngập nước của khu vực nghiên cứu. Đó
là do việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật không hợp lý. Việc sử dụng
thuốc trừ sâu để diệt các lồi cơn trùng gây hại cho cây trồng cũng đã gây nhiều tổn hại
tới các quần thể sinh vật khác xung quanh. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh nồng độ
thuốc trừ sâu tăng đến một mức cao trong các tế bào cơ thể của nhiều lồi chim thì sẽ

khiến cơ thể của chúng yếu đi và đẻ ra các quả trứng có vỏ mỏng. Điều này rõ ràng sẽ
là mối lưu ý với chính quyền và người dân khu vực Đồi Cị Ngọc Nhị trong việc bảo vệ
mơi trường sống của quần thể vật nơi đây, đặc biệt là các lồi Cị.
Ảnh hưởng của du lịch sinh thái trong mùa chim sinh sản: Tại Đồi Cò Ngọc Nhị,
vào mùa sinh sản hằng năm (từ tháng 4 đến tháng 9), vườn chim trở thành một điểm du
lịch sinh thái hấp dẫn. Tuy nhiên qua các khảo sát cho thấy hoạt động du lịch sinh thái
có những tác động tiêu cực nhất định đến các loài chim ở đây. Đầu tiên phải kể đến
hành động xả rác bừa bãi của các du khách gây ra ô nhiễm môi trường sống của chim,
11


thậm chí là ơ nhiễm những vùng đất ngập nước là những nơi kiếm ăn chính của các lồi
chim. Tiếp theo việc phục vụ ăn uống cho du khách thông qua việc săn bắt và chế biến
các loại chim non, cò sẽ khiến cho số lượng cò bị khai thác tăng đáng kể, từ đó có thể
khiến cho đàn cị di trú đi nơi khác. Tiếp theo nữa là việc tham quan mà khơng tn
theo quy định Đồi Cị của phần lớn du khách sẽ khiến cho đàn cò sợ hãi, ảnh hưởng đến
chất lượng sinh sản cũng như chất lượng đời sống của chúng.
3.2. Vấn đề quản lý, khai thác Đồi Cò Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì
Đồi Cị Ngọc Nhị do gia đình ơng Học trực tiếp quản lý với 3 người trong gia
đình, 5 lao động chính và 1 người bảo vệ vườn. Đồi Cị ngày càng thu hút được sự quan
tâm của nhiều thành phần du khách. Với số lượng du khách ngày càng tăng, việc khai
thác cò cũng tăng theo. Việc khai thác trong vườn liên tục như vậy đã làm giảm đáng
kể số lượng cá thể trong vườn. Thậm chí rất có thể đến một lúc nào đó khi bị khai thác
quá mức, sẽ dẫn tới đàn cò di chuyển nơi di trú và làm tổ ở nơi khác.
Theo những nguồn tin đáng tin cậy của người dân khu vực, hiện tại khách đến tìm
hiểu các lồi chim hoang dã, chiêm ngưỡng cảnh đẹp thì ít mà đến thưởng thức những
món ăn được chế biến từ cị thì nhiều. Theo như tìm hiểu được, chủ vườn cò Ngọc Nhị
cũng ký cam kết với Hạt Kiểm lâm Ba Vì: Khơng kinh doanh, mua bán, vận chuyển,
săn bắn, bẫy bắt, tàng trữ, nuôi nhốt, giết thịt, chế biến thức ăn từ động vật hoang dã có
nguồn gốc khai thác từ tự nhiên. Tuy nhiên, chính bản thân chủ vườn cị lại đang hàng

ngày, hàng giờ nướng, rán, xáo măng cả hàng chục, hàng trăm con cị. Trong khn
viên của vườn cị Ngọc Nhị, đã xuất hiện cả một hệ thống nhà hàng ăn uống có thể phục
vụ lượng lớn lượt khách mỗi ngày. Tình hình săn bắt, sát hại lồi chim hoang dã tại Đồi
Cò Ngọc Nhị đã kéo dài hàng chục năm nay, trong khi người dân vẫn bất bình vì thực
trạng này thì chính quyền địa phương và lực lượng Kiểm lâm huyện Ba Vì cũng vẫn
chưa có biện pháp hữu hiệu để bảo vệ, quản lý.
Về vấn đề quản lý, ông Nguyễn Xuân Dung – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ba Vì
cho biết, có tình trạng bắt, thịt cị để chế biến các món ăn phục vụ khách tại vườn cị
Ngọc Nhị. Ông Dung cho rằng, lực lượng kiểm lâm Ba Vì đã làm hết sức mình để bảo
vệ đàn cị, song vẫn khơng ngăn cản được vì khơng phải lúc nào lực lượng kiểm lâm
cũng có cán bộ ở đó và khi thấy bóng dáng kiểm lâm đến kiểm tra thì họ tìm mọi cách
để đối phó gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý. Hàng năm, Hạt Kiểm lâm Ba Vì
đều tổ chức tuyên truyền bảo vệ rừng và tổ chức ký cam kết thực hiện các quy định về
quản lý, bảo vệ động vật hoang dã với chủ vườn cò cho nên họ phải tự ý thức được việc
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên quốc gia [5].
Đề cập tới việc quản lý nhà nước về tài nguyên, mơi trường trên địa bàn, ơng
Nguyễn Thanh Sơn, Trưởng phịng Tài ngun – Mơi trường huyện Ba Vì cho biết:
Tồn bộ số diện tích đất vườn cị Ngọc Nhị do gia đình ơng Học quản lý vẫn chưa có
hồ sơ sử dụng đất và cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ nhiều
đời nay, gia đình ông Học vẫn tự sử dụng, khai thác tài nguyên trên đất, chưa phải nộp
bất kỳ khoản phí, lệ phí gì. Huyện Ba Vì cũng chưa hề kiểm tra việc bảo vệ mơi trường
nói chung và mơi trường sinh thái nói riêng tại đây. Đối với số diện tích hơn 5 ha mà
chủ vườn mở rộng là do giữa các hộ dân và chủ vườn cò tự ý chuyển đổi cho nhau, chưa
được cấp có thẩm quyền cho phép và cũng chưa làm thủ tục thuê đất theo đúng quy
định của pháp luật. Cũng theo ông Sơn, hiện tại, môi trường sinh thái của khu vực vườn
cị chưa có gì đáng báo động [5]. Có thể thấy theo cung cách quản lý và tư duy như các

12



cán bộ Kiểm lâm thì Đồi Cị Ngọc Nhị đến lúc tận diệt hết đàn cị thì mới là lúc cần báo
động.
Đồi Cị Ngọc Nhị có giá trị về mặt sinh thái như vậy, những biến động về đất đai,
tài nguyên môi trường tại đây diễn ra trong suốt thời gian dài mà chính quyền từ xã đến
huyện vẫn chưa có sự quan tâm cần thiết. Ngay từ những năm 1990, Nhà nước đã có
chủ trương quốc hữu hóa, chuyển vườn cò Ngọc Nhị thành khu bảo tồn thiên nhiên,
được bảo vệ một cách nghiêm ngặt, chỉ dành cho các hoạt động nghiên cứu khoa học,
đào tạo và quan trắc môi trường, song chủ trương vẫn chỉ là chủ trương và hơn 20 năm
rồi vẫn chưa thực hiện được [5].

13


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua thời gian tìm hiểu, thu thập tài liệu và nghiên cứu Đồi Cò Ngọc Nhị, xã Cẩm
Lĩnh, huyện Ba Vì, ta rút ra được những vấn đề còn tồn đọng khá nhiều. Vấn đề về môi
trường như các vùng đất ngập nước là nơi kiếm ăn của các loài chim làm tổ ở vườn bị
suy giảm về số lượng cũng như chất lượng, ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng
và phát triển của vườn chim; bên cạnh đó việc khai thác quá mức cả những cò trưởng
thành và cò non để chế biến các món ăn phục vụ lượng lớn khách tham quan là tác động
lớn nhất đến sự tồn tại của Đồi Cò. Vấn đề thứ hai ta rút ra được kết luận là vấn đề quản
lý và khai thác Đồi Cị Ngọc Nhị, đó là việc để cho một hộ gia đình quản lý cả vườn cị
rộng lớn, ít nhân lực tham gia nên việc bảo vệ và chăm sóc nơi cư trú của đàn cị chưa
được sát sao. Chính quyền địa phương cũng như kiểm lâm khu vực chưa có biện pháp
hướng dẫn, quan tâm đến việc quản lý, khai thác đồi cò, cũng như còn nhiều thiếu sót,
bất cập trong khâu thủ tục hành chính, nên vẫn chưa có cơ quan đồn thể nào đứng ra
chịu trách nhiệm chính cho sự tồn tại và phát triển của đồi cò Ngọc Nhị. Điều này đặt
ra yêu cầu cấp bách về việc hợp pháp hóa quản lý và khai thác đồi cị Ngọc Nhị, để có
thể giữ gìn và bảo vệ khu vực sinh thái có nhiều giá trị khoa học này.

2. Kiến nghị
Thơng qua việc tìm hiểu và phân tích đề tài, một số kiến nghị để khắc phục hệ
quả trong việc khai thác đồi cò Ngọc Nhị được đưa ra như sau:
- Cần tiếp tục nghiên cứu các yếu tố sinh thái, yếu tố con người ảnh hưởng, tác
động trực tiếp hay gián tiếp đến các loài chim ở Đồi Cò Ngọc Nhị, đồng thời quan tâm
sát sao hơn đến các yếu tố môi trường xung quanh như đất đai, tài nguyên môi trường
tại khu vực.
- Cần có những nghiên cứu sâu hơn về phương thức quản lý thích hợp Đồi Cị để
có chính sách đầu tư, hỗ trợ tư nhân tham gia quản lý tài nguyên thiên nhiên. Chính
quyền cũng nên có các phương pháp kêu gọi tổ chức quốc tế về bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên, từ đó hướng đến sự phát triển bền vững cho Đồi Cị Ngọc Nhị nói riêng.
- Tăng cường tun truyền, giáo dục cho người dân đia phương và du khách đến
thăm về ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ các lồi chim và khuyến khích các hoạt động
lành mạnh hơn trong việc khai thác Đồi Cò Ngọc Nhị.

14


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2010), Nơi đất lành chim đậu, Báo điện tử Đảng Cộng
Sản Việt Nam
2. Hoàng Thị Lan (2014), Khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam, Tạp chí
Làng Việt
3. Học viện tài chính (2008), Giáo trình khoa học quản lý, Học viện tài
chính, Hà Nội
4. Trần Văn Long (2010), Nghiên cứu thành phần loài và các yếu tố sinh thái ảnh hưởng
đến các loài chim làm tổ ở vườn chim Ngọc Nhị, xã Cẩm Lĩnh, Ba Vì, Hà Nội, Luận
văn Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm Nghiệp.
5. Tuệ Minh (2011), Vườn Cò Ngọc Nhị: Bảo vệ cò cho… dân nhậu?, Báo điện tử Sức
khỏe và Đời sống.

6. Viết Dũng (2021), Vườn Quốc gia Xuân Thủy – Phát triển bền vững dựa vào cộng
đồng, Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường

15



×