Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Kiến trúc trường học vùng đồng bằng sông Cửu Long ứng phó với biến đổi khí hậu theo hướng thích ứng, linh hoạt, đa chức năng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (723.52 KB, 7 trang )

Hội thảo Khoa học Quốc tế Phát triển Xây dựng bền vững trong điều kiện Biến đổi khí hậu khu vực đồng bằng Sông Cửu Long

SCD2021

KIẾN TRÚC TRƯỜNG HỌC VÙNG ĐỒNG BẰNG
SƠNG CỬU LONG ỨNG PHĨ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
THEO HƯỚNG THÍCH ỨNG, LINH HOẠT, ĐA CHỨC NĂNG
Dỗn Minh Khơi*, Dỗn Thanh Bình*, Nguyễn Mạnh Cường**
Khoa kiến trúc Quy hoạch, trường ĐHXD
Viện Quy hoạch và Kiến trúc đô thị, trường ĐHXD

TĨM TẮT:
Trường học vùng đồng bằng sơng Cửu Long luôn phải đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu,
trong đó đáng chú ý là tình trạng bão lũ, nước biển dâng và khả năng bị ngập lụt do dịng chảy từ thượng lưu
sơng Mê Kơng đổ về. Những tác động đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới kiến trúc, hạ tầng trường học, đòi
hỏi kiến trúc trường học cần phải có giải pháp thích ứng (đối với từng loại thiên tai), linh hoạt (cho cả hai mùa
ngập và không ngập), và đa chức năng (cho các không gian kiến trúc trường học chủ động biến đổi chức năng).
Bài báo nghiên cứu các giải pháp kiến trúc theo hướng đáp ứng ba vấn đề trên, với mục tiêu giảm thiểu tối đa
tác động của thiên tai vào cơ sở vật chất trường học và tạo sự ổn định hoạc tập của học sinh trong mùa bão lũ.
Phương pháp nghiên cứu dựa trên các nghiên cứu khoa học về các trường hợp tương tự trong nước và quốc tế,
phương pháp nghiên cứu so sánh, nghiên cứu biến đổi chuyển hóa và khảo sát thực tiễn tại một số thành phố
điển hình thuộc vùng đồng bằng sơng Cửu Long.
Từ khóa: Đồng bằng sơng Cửu long, Biến đổi khi hậu, Kiến trúc Trường học, thích ứng, linh hoạt, đa chức năng.

1. GIỚI THIỆU
Vùng ĐBSCL là phần hạ lưu cuối cùng của
sông Mê Kông nên nhận một khối lượng nước
khổng lồ trước khi đổ ra biển, nhưng phân bố
không đều. Vùng đồng bằng hiện đang chịu hai
tác động dòng chảy, dòng chảy của sông Mê Kông
từ thượng nguồn đổ về và dòng triều do tác động


biển xâm nhập vào đất liền. Trong vài chục năm
tới, nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn
ĐBSCL vốn đã bị ngập lụt hàng năm, Sẽ có từ
15.000 – 20.000 km2 đất thấp ven biển bị ngập
hoàn toàn [7]. Khu vực dải ven biển vùng ĐBSCL
là một trong những khu vực bị tổn thương nhiều
nhất bởi hiện tượng nước biển dâng, lũ lụt, bão
và áp thấp nhiệt đới [1]. Đánh giá mức độ ngập
lụt ở các khu vực đồng bằng sông Cửu Long căn
cứ theo cao độ địa hình - có thể chia ra thành 3
mức: (1) Vùng ngập nặng bao gồm các tỉnh Đồng
Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, U Minh thượng

- hạ, Ô Môn, Phụng Hiệp, Cần Giờ, Nhơn Trạch
là những vùng thấp trũng. (2) Vùng ngập cấp độ 2
bao gồm các tỉnh An Giang, Long An, Tiền Giang,
Kiên Giang, Vĩnh Long, TP Cần Thơ, Hậu Giang.
(3) Vùng cấp độ 3 là những nơi có địa hình cao
tối đa 5m so với mực nước biển thường thấy ở rìa
mạn bắc, mạn tây ven thềm phù sa cổ hoặc ven
các bờ sông Tiền – sông Hậu (gọi là các đê sông)
[10]. Nếu căn cứ theo tính chất của thiên tai cũng
có thể chia thành 3 mức : (1) Mức ngập năng xảy
ra khi nước lũ từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ
về; (2) mức ngập trung bình với các hiệu ứng mưa
bão, nước biển dâng; (3) mức độ nhẹ đối với các
trận mưa kéo dài.
Trường học ln phải thích ứng với cả 2 mùa
khô - mưa. Mùa khô - nắng hạn (tháng 12 - tháng 4)
và mùa mưa - ngập lụt (tháng 5 - tháng 11). Mục

tiêu của nghiên cứu là xây dựng giải pháp thiết kế
Trường học (Quy hoạch và Kiến trúc), thích ứng
29


SCD2021

International Conference on sustainable construction development in the context of climate change in the Mekong Delta

trong cả hai mùa nhờ khả năng cấu trúc linh hoạt
khơng gian ngồi trời và trong nhà (quy hoạch và
kiến trúc) tùy theo diễn biến của thiên tai. Việc
nghiên cứu không chỉ tạo không gian an tồn cho
việc dạy và học mà cịn tạo cho học sinh hệ thống
kiến thức và hành động ứng phó với BĐKH. Thực
tế cho thấy học sinh cịn có nhiều hạn chế trong
hiểu biết về thích ứng với BĐKH. Đó là sự hiểu
biết về thiên nhiên, văn hóa bản địa cũng như tinh
thần chủ động thich ứng, cùng cộng đồng chia sẻ
giúp đỡ nhau trong mùa bão lũ. Việc thiết kế theo
cốt cao độ sẽ là bài học sống động giữa lý thuyết và
thực tế [6]. Việc sử dụng chung không gian trường
học cho cả cộng đồng là một xu hướng xã hội hiện
đại, nhằm cung cấp các khả năng tiếp cận xã hội
địa phương của học sinh. Vì vậy, các trường học có
thiết kế các khơng gian linh hoạt để tổ chức các sự
kiện cộng đồng đều được đánh giá cao. [3]
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp khảo
sát, điều tra, thu thập sô liệu, nghiên cứu lý
thuyết về tính thích ứng, linh hoạt, đa chức

năng của kiến trúc trường học với các nghiên
cứu so sánh (compare) mức độ ngập lụt tại
các khu vực khác nhau, để xác định cao độ
an toàn cho khu vực học tập. Chúng được
tiến hành đồng thời với nghiên cứu phân loại
(typology) các thể loại không gian chức năng là
cơ sở để ứng dụng linh hoạt không gian đa chức
năng. Cuối cùng là nghiên cứu biến đổi cấu trúc
không gian (transition) theo diễn biến của thiên
tai. Kết quả nghiên cứu là đề xuất các mơ hình
và giải pháp thiết kế kiến trúc trường học theo
hướng thích ứng (adaptive), linh hoạt (flexible)

và đa chức năng (multifunction).
2. THỰC TRẠNG TRƯỜNG HỌC VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG
MÙA BÃO LŨ
Trường học tại khu vực ĐBSCL có cơ sở vật
chất khơng đồng đều, có sự chênh lệch lớn giữa
thành thị và nơng thơn. Mặc dù đã xóa bỏ các
trường học tranh tre nứa lá, tuy nhiên vẫn còn
nhiều trường học xây dựng tạm bợ tại vùng sâu
vùng xa, dễ dàng bị phá hoại hoàn toàn khi xảy
ra lũ lụt. Khả năng đáp ứng nhu cầu học tập tại
chỗ của các địa phương khi gặp thiên tai còn rất
bị động. [11]
Các nghiên cứu số liệu kết hợp khảo sát cho thấy,
mức độ ngập lụt trong mùa mưa lũ tại một số trường
là khác nhau. Tại Trường tiểu học Vĩnh Trinh 3,
tp Cần thơ: mức độ ngập lụt trung bình. Tại Trường

tiểu học “C” An Thạnh Trung, tỉnh An Giang: mức
độ ngập lụt khá lớn, nước tràn vào phòng học.
Tại trường tiểu học Trưng Vương ở huyện Hồng
Ngự, tỉnh Đồng Tháp, mức độ ngập sâu. Điểm
chung của các trường là xây dựng một tầng, lộ ra
những nhược điểm: Một là khơng an tồn khi mực
nước dâng tràn vào tầng 1. Hai là phương án quy
hoạch tổng mặt bằng buộc phải phân tán các lớp
học 1 tầng, việc đầu tư bị dàn trải trên diện rộng
khó sử dụng và khơng kinh tế. Ba là thực tế học
sinh cần không gian mở có mái ngay cả trong mùa
khơ. Vì vậy phương án nâng tầng, tạo không gian
trống ở tầng 1 khả thi vì cơng năng tập trung, giảm
rủi ro. Kết cấu khung BTCT phù hợp với nền đất
yếu và theo hướng Công nghiệp hóa.

Hình 1,2,3: (từ trái qua phải) (1) Trường tiểu học Vĩnh Trinh 3 – Cần Thơ;
(2) Trường tiểu học “C” An Thạnh Trung, tỉnh An Giang;
(3) trường tiểu học Trưng Vương ở huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp vào mùa lũ [12]

30


Hội thảo Khoa học Quốc tế Phát triển Xây dựng bền vững trong điều kiện Biến đổi khí hậu khu vực đồng bằng Sông Cửu Long

Bảng 1: Số liệu giáo dục tiểu học các tỉnh đồng bằng sơng Cửu Long
(Tính đến ngày 30/9/2010) Nguồn: Tổng cục thống kê
STT

Tên tỉnh


1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

Long An
Tiền Giang
Bến Tre
Trà Vinh
Vĩnh Long
Đồng Tháp
An Giang
Kiên Giang
Cần Thơ
Hậu Giang
Sóc Trăng
Bạc Liêu
Cà Mau
Tổng số


Trường học
(trường)
247
226
189
215
241
321
396
128
180
168
297
154
263
3195

3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ
Tính thích ứng, linh hoạt, đa chức năng
trong kiến trúc trường học
Thích ứng là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên
hoặc con người đối với hồn cảnh hoặc mơi
trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng
bị tổn thương do biến đối khí hậu và tận dụng
các cơ hội do chính nó mang lại [4]. Từ kinh
nghiệm ứng phó với vùng ngập lụt ở sơng Hồng
Hà, Trung Quốc đã rút ra 3 bài học chiến lược thích
ứng. Đó là hoặc bố trí di dời các cơng trình quan
trọng lên vùng đất cao, hoặc xây đê bao để bảo vệ;
hoặc là đào ao trong thành phố để nước chảy về

chỗ trũng [5]. Rút kinh nghiệm trường hợp vùng
ĐBSCL, giải pháp di dời hay đắp đê đã từng được
ứng dụng với tinh thần đối phó nhiều hơn là thích
ứng. Chúng tơi đánh giá cao tính thích ứng của
giải pháp tạo “nước chảy chỗ trũng” trong trường
hợp trên. Hồn tồn có thể nghiên cứu ứng dụng
theo phương cách này, Đó là kiểu Kiến trúc trường
học thích ứng với mực nước dâng và cơ chế vận
hành linh hoạt.
Linh hoạt là một thuật ngữ rất được quan tâm
trong thời đại ngày nay. Nó như một điều kiện

Lớp học
(lớp)
4292
4335
3465
3395
3064
5529
6366
6695
3125
2615
4821
2911
4961
55574

Giáo viên

(người)
5616
5806
4697
4732
4172
7045
7969
8330
4392
3586
6416
3550
6033
72344

Học sinh
(nghìn)
122
140
99.5
81.6
80.2
142
182
163
92
67
122
81

123
1500.4

tiên quyết để mở rộng khả năng thích ứng thơng
qua các chiến lược và các giải pháp mang tính
chủ động. Một là, tạo khả năng chuyển đổi của
các bộ phận khơng gian tịa nhà để thích ứng với
điều kiện mới. Hai là, tạo các xử lý không gian
đa dạng tùy theo sự phức tạp của môi cảnh [4].
Tính linh hoạt được thể hiện trong giải pháp
kiến trúc trường học cho phép các khơng gian
học tập có thể chuyển đổi từ ngòai trời vào trong
nhà, từ tầng thấp lên tầng cao một cách an tồn
mà khơng ảnh hưởng tới quy trình học tập. Một
số phịng an tồn (chắc chắn và trên cao) có thể
trở thành nơi trú ngụ tạm thời của cộng đồng
địa phương khi phải đối phó với ngập lụt ở mức
độ lớn.
Đa chức năng là khả năng sử dụng một không
gian cho nhiều chức năng đồng thời khi u cầu
địi hỏi [4]. Khi khơng có thiên tai, các phòng sử
dụng đúng với chức năng chỉ định của nó. Nhưng
khi có thiên tai, nó có thể đảm nhiệm nhiều chức
năng bổ sung để bù cho những phịng khác bị
ngập lụt khơng sử dụng được. Điều đó đòi hỏi
Kiến trúc sư phải thiết kế các phòng đa chức năng
này với cách tính tốn khả năng tích hợp cao nhất.
Trường Rosyth là một thí dụ về mơ hình kiến
trúc trường học của Xingapor đã triển khai thành
31


SCD2021


SCD2021

International Conference on sustainable construction development in the context of climate change in the Mekong Delta

công một số thử nghiệm là: Tăng chiều rộng lịng
nhà, tạo khơng gian hành lang giữa rộng để tạo
nên một khơng gian học tập ngồi lớp; Khớp nối
linh hoạt các khơng gian trong và ngồi nhà nhờ
hệ thống không gian mở; Sân thượng được dùng

làm sân thể thao; Tính hình học và đơn giản của
hình khối đã cung cấp nhiều thuận lợi hướng tới
KT xanh; Màu sắc được sử dụng cẩn thận để thể
hiện bản sắc và tính chất của trường. [8]

Hình 4. Trường Rosyth (Singapore)

4. PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ KHÔNG GIAN
KIẾN TRÚC TRƯỜNG HỌC
4.1. Mức độ ưu tiên của các bộ phận Không
gian kiến trúc trường học
Theo TCVN 8793-2011, các trường Tiểu học
có chiều cao 2 tầng, Trung học có chiều cao 3 tầng
[11]. Thực tiễn xây dựng trường học tại các đô
thị, cho phép khối lớp học 2 tầng đối với tiểu học,


3 tầng đối với Trung học. Các bộ phận chức năng
cấu thành không gian kiến trúc trường học bao gồm
không gian trong nhà với: không gian học tập, khối
phục vụ học tập, khối phịng hành chính quản trị,
khối phục vụ sinh hoạt và các không gian mở cho
học sinh sinh hoạt cộng đồng. Khơng gian ngồi
trời bao gồm: Khu vực bao quanh khối học tập,
khu sân chơi bãi tập thể dục, vườn thực vật, khu vệ
sinh và bãi để xe. [2]

Hình 5. Sơ đồ phân loại và đánh giá khơng gian Kiến trúc, Quy hoạch trường học (tác giả)

32


Hội thảo Khoa học Quốc tế Phát triển Xây dựng bền vững trong điều kiện Biến đổi khí hậu khu vực đồng bằng Sông Cửu Long

Các bộ phận không gian trong nhà chia thành
3 nhóm có mức độ ưu tiên khác nhau: (1) không
gian rất quan trọng, cần ưu tiên là khối phịng học;
(2) khơng gian quan trọng, là khối phục vụ học tập,
hành chính quản trị, phục vụ sinh hoạt; (3) khơng
gian ít quan trọng t là khơng gian trống ở tầng trệt.
Trước những thách thức của BĐKH, sự an toàn
nhất phải giành cho hoạt động dạy và học. Vì vậy
khơng gian học tập phải là khơng gian quan trọng
nhất. [9]
4.2. Mức độ biến đổi linh hoạt của không
gian kiến trúc trường học
Nhóm khơng gian có khả năng biến đổi cao là

những khơng gian lớn như Phịng ăn, hội trường,
nhà thi đấu. Nhóm khơng gian có khả năng biến
đổi trung bình là những khơng gian trống tầng
trệt, khơng gian giao thơng … Nhóm khơng gian
ít có khả năng biến đổi là những phịng nhỏ có
nhiều trang thiết bị, đảm nhận các chức năng
quan trọng và ổn định (khối phòng học, hành
chính quản trị).

5. GIẢI PHÁP QUY HOẠCH HẠ TẦNG THÍCH
ỨNG THEO CAO ĐỘ MỰC NƯỚC DÂNG
Đó là giải pháp quy hoạch chiều cao các khơng
gian ngồi nhà, được kiến nghị như sau: Cốt cao
nhất bố trí nền nhà khu học tập. Cốt trung gian
bố trí sân trường, với các hoạt động tập trung,
vui chơi, thể thao ngoài trời. Cốt thấp nhất bố trí
vườn thực vật, khu vệ sinh và bãi để xe. Với mức
nước dâng khơng nhiều thì khu vực ngập nước
là : Vườn, sân chơi..., Khi nước dâng lên gần nửa
tầng hoặc gần hết một tầng thì khơng gian trống
tầng 1 trở thành khơng gian thốt hiểm, có bố trí
thang ngồi trời kết nối với tầng 2.
Cách bố trí này có uu điểm tạo sự an tồn
cho khơng gian học tập trong trường hợp bị
ngập úng, tạo độ dốc thốt nước từ độ chênh
cốt, việc vệ sinh khơng gian ngoài nhà thuận
lợi hơn, nước và bùn đất cháy về khu vực vườn,
ao… cho phép tận dụng các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, chuyển hóa những yếu tố tiêu cực
thành tích cực.


Hình 6. Sơ đồ giải pháp thiết kế quy hoạch hạ tầng Trường học, với các cốt cao độ ngoài nhà (tác giả)

33

SCD2021


SCD2021

International Conference on sustainable construction development in the context of climate change in the Mekong Delta

6. GIẢI PHÁP KIẾN TRÚC THÍCH ỨNG THEO
CƠ CHẾ LINH HOẠT - ĐA CHỨC NĂNG
Căn cứ cấp độ quan trọng của không gian trong
nhà, giải pháp kiến trúc thích ứng kiến nghị như
sau: khơng gian hạ tầng là khơng gian rất quan
trọng được bố trí cố định ở tầng 2. Không gian
tầng 1 và 3 có thể biến đổi linh hoạt trong mùa
mưa. Tầng 1 là khơng gian ít quan trọng cho các
chức năng mở của học sinh. Tầng 3 là không gian
khá quan trọng, có tính linh hoạt cao, cho phép



bổ sung các chức năng của tầng 1, của tầng 2,
thậm chí là khơng gian trú ngụ tạm thời cho cộng
đồng trong mùa mưa lũ. Phương án tạo hành lang
giữa là phù hợp với điều kiện thiên tai bão lũ. Nó
trở thành khơng gian an tồn, giảm ½ chiều dài

và tăng gấp 2 chiều rộng nhà. Các hành lang giữa
không chỉ là không gian giao thơng kết nối các
tịa nhà, mà cịn là khơng gian linh hoạt đa chức
năng. Nó cũng đồng thời là hành lang thơng gió
tới các phịng học.

ế

Hình 7. Sơ đồ phân khu chức năng và giải pháp kiến trúc thích ứng (tác giả)

7. KẾT LUẬN
Tính thích ứng với thiên tai của kiến trúc trường
học, trước hết đi từ giải pháp kiến trúc hợp lý. Nhà
học cao 3 tầng với cấu trúc kiểu hành lang giữa làm
tăng chiều dầy, giảm chiều dài, giảm hành lang,
giảm chiều cao, giảm độ rỗng của hành lang bên
sẽ đảm bảo công năng tập trung, kết cấu khung
BTCT hợp lý trên nền đất yếu và giảm tải trọng gió
theo chiều ngang. Việc bố trí cố định không gian
học tập ở tầng 2 là hợp lý nhờ sự mát mẻ trong mùa
khơ, và an tồn trong mùa mưa. Việc tạo khơng
gian ngồi nhà chia thành các cốt khác nhau theo
nguyên tắc cân bằng đào đắp, không chỉ tạo cảnh
quan sinh động trong mùa khơ, mà cịn tạo khả
34

năng thốt lũ nhanh trong mùa mưa. Mơ hình
này có thể ứng dụng thích ứng cho các thành phố
khu vực ĐBSCL với sự điều chỉnh linh hoạt chiều
cao các cấp độ khơng gian ngồi trời và trong nhà

tùy theo chỉ số mức nước dâng khác nhau tại địa
phương trong mùa mưa lũ, được quan trắc theo
thời gian do diễn biến của biến đổi khí hậu.
Tính thích ứng với thiên tai của vùng ĐBSCL,
thực chất chính là giải pháp ứng phó với sự dâng
nổi của mặt nước ở các mức độ khác nhau tùy
theo mưa dài ngày, nước biển dâng hay ngập úng.
Các giải pháp quy hoạch và kiến trúc trường học
có thể giải mã được hiện tượng này với cấu trúc
linh hoạt các không gian học tập và sinh hoạt ở


Hội thảo Khoa học Quốc tế Phát triển Xây dựng bền vững trong điều kiện Biến đổi khí hậu khu vực đồng bằng Sơng Cửu Long

trong và ngồi nhà. Nó cịn có thể thích ứng với
các thiên tai khác như gió bão và nắng nóng trong
mùa khơ nhờ giải pháp kiến trúc linh hoạt. Mơ
hình này có thể nhân rộng cho các địa phương
theo thiết kế điển hình hóa và ứng dụng linh hoạt
tùy từng nơi chốn, địa điểm, cho phép ứng dụng
phù hợp với các giải pháp công nghệ hiện đại,
thông minh kể cả sử dụng kết cấu khung lắp ghép
và vật liệu tái chế.
8. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với
biến đổi khí hậu (Triển khai thực hiện Nghị quyết
số 60/2007/NQ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của
Chính phủ).
[2]. Dỗn Minh Khơi, Dỗn Thanh Bình. Đổi mới
thiết kế trường học đáp ứng đổi mới giáo dục phổ

thơng. Tạp chí Kiến trúc, Hội KTSVN, 3/2020.
[3]. Ellen Larson Vaughan. Secondary School.
[4]. Hanieh FarokhiFirouzi (a Department
Architecture, Faculty of Art & Architecture, Islamic
Azad University, Khorramabad Branch, Iran). A
review on flexibility in architectural design.
International Transaction Journal of Engineering,
Management, & Applied Sciences & Technologies.

[5]. Kongjian Yu, Zhang Lei, Li Dihua, “Living With
Water: Flood Adaptive Landscapes in the Yellow River
Basin of China”.
[6]. Laura Bojerding & Mathnew Kloser. Middle and
high school student’s conception ò climate change
mitigation and adaptation strategy. 2013.
[7]. Le Anh Tuan, Trương Quốc Cần, Lê Văn Du,
Cantho University. Tổng hợp một số hoạt động ứng
phó BĐKH tại đồng bằng sông Cửu Long.
[8]. Lisa Gelfand with Eric Corey Freed. Sustainable
School Architecture. Design for elementary and
Secondary School. John Wiley & Sonc, Inc. 2010.
[9]. Peter Dewitt & Sean Slade. Scholl Climate
change. 2014.
[10]. Phạm Phú Cường. Nghiên cứu định hướng phát
triển kiến trúc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đề tài
NCKH cấp Bộ. Trường ĐHKT tp Hồ Chí Minh, 2016.
[11]. TCVN 8793:2011 Trường Tiểu học; TCVN 8794:
2011 Trường Trung học.
[12]. Viện Quy Hoạch và Kiến trúc đô thị UAI. Khảo
sát kiến trúc trường học các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

2019.

35

SCD2021



×