BỘ TƯ PHÁP
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN HẢI LONG
432357
ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG
HIỆP ĐỊNH EVFTA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hà Nội – 2022
BỘ TƯ PHÁP
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN HẢI LONG
432357
ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG
HIỆP ĐỊNH EVFTA
Chuyên ngành: Luật kinh tế
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Phạm Phương Thảo
Hà Nội – 2022
i
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
luận, số liệu trong khóa luận tốt nghiệp và trung thực, bảo đảm độ tin cậy./.
Xác nhận của giảng viên hướng
Tác giả khóa luận tốt nghiệp
dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên)
ii
LỜI CẢM ƠN
Tơi xin bày tỏ sự kính trọng, biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường Đại
học Luật Hà Nội và các thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và
tạo điều kiện giúp tơi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Tiến sĩ Phạm Phương Thảo
– người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em hồn thành khóa luận này.
iii
DANH MỤC KÝ HIỆU HOẶC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Cạnh tranh khơng lành mạnh
: CTKLM
Cạnh tranh lành mạnh
: CTLM
Chính sách cách tranh
: CSCT
Cơ quan nhà nước
: CQNN
Doanh nghiệp
: DN
Doanh nghiệp nhà nước
: DNNN
Liên minh Châu Âu
: EU
Luật Cạnh tranh
: LCT
Ngân sách nhà nước
: NSNN
Người tiêu dùng
: NTD
Pháp luật cạnh tranh
: PLCT
Sức mạnh thị trường
: SMTT
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
: OECD
Vi phạm pháp luật
: VPPL
Vị trí thống lĩnh thị trường
: VTTLTT
Hiệp định Thương mại tự do Liên minh Châu EVFTA
Âu – Việt Nam
Điều ước quốc tế
ĐƯQT
iv
MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ .......................................................................................................... i
LỜI CAM ĐOAN ..........................................................................................................ii
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. iii
DANH MỤC KÝ HIỆU HOẶC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ............................................ iv
MỤC LỤC......................................................................................................................v
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu nghiên cứu của khóa luận ....................................................... 3
4. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................... 3
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: ....................................................... 4
6. Những đóng góp mới về khoa học của khóa luận ..................................................... 4
7. Kết cấu nội dung của khóa luận ................................................................................ 5
NỘI DUNG ..................................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH, PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
VIỆT NAM VÀ HIỆP ĐỊNH EVFTA ......................................................................... 6
1.1. Khái quát về cạnh tranh........................................................................................ 6
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh ............................................................... 6
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh ................................................................................. 6
1.1.1.2. Các hình thức cạnh tranh ........................................................................... 7
1.1.1.3. Vai trò của cạnh tranh ................................................................................ 9
1.1.2. Khái quát về chính sách cạnh tranh ................................................................ 9
1.2. Khái quát về Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam .................................................... 11
v
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của Pháp luật Cạnh tranh ............................................ 11
1.2.2. Lịch sử hình thành phát triển của Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam .............. 12
1.2.3. Nội dung cơ bản của Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam hiện hành ................. 13
1.2.4. Nguồn của Pháp luật Cạnh tranh .................................................................. 15
1.3. Khái quát về Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam .. 17
1.3.1. Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam ................... 17
1.3.2. Nội dung những cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA ................ 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ........................................................................................... 27
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
VIỆT NAM VỚI NHỮNG CAM KẾT TRONG HIỆP ĐỊNH EVFTA ................. 28
2.1. Đánh giá quy định Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam về hành vi phản cạnh tranh
so với những cam kết trong Hiệp định EVFTA ............................................................ 29
2.1.1. Quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ................................................ 29
2.1.2. Quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của một
hay nhiều doanh nghiệp ................................................................................................. 32
2.1.3. Quy định về tập trung quyền lực giữa các doanh nghiệp gây cản trở đáng
kể đến cạnh tranh hiệu quả ............................................................................................ 36
2.2. Đánh giá các quy định về tổ chức thực hiện của Pháp luật Cạnh tranh Việt
Nam so với những cam kết trong Hiệp định EVFTA ................................................... 38
2.2.1. Quy định về tính tự chủ trong xây dựng và thực thi luật cạnh tranh .......... 38
2.2.2. Quy định về cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh ........................................... 39
2.2.3. Quy định về đối tượng áp dụng .................................................................. 42
2.2.4. Quy định về các nguyên tắc trong tố tụng cạnh tranh ................................ 43
2.2.5. Quy định về miễn trừ trong Luật Cạnh tranh.............................................. 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ........................................................................................... 45
vi
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM THEO NHỮNG CAM KẾT GIA NHẬP
HIỆP ĐỊNH EVFTA ................................................................................................... 47
3.1. Định hướng hoàn thiện của Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam theo những cam kết
trong Hiệp định EVFTA ................................................................................................ 47
3.2. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam để tương thích
với những cam kết trong Hiệp định EVFTA ................................................................. 50
3.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Pháp luật Cạnh tranh
Việt Nam và phù hợp với những cam kết quốc tế của Hiệp định EVFTA ................... 57
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 .............................................................................................. 58
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 60
vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói, sự tăng trưởng của thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế là một
trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới những CSCT của Việt Nam. Hiện nay, các
rào cản biên giới - thuế quan đang có xu hướng giảm đi và khả năng tiếp cận thị trường
trong nước và quốc tế cũng ngày càng được cải thiện đã tạo điều kiện cho các DN tham
gia nhiều hơn vào việc tiến hành các hoạt động của họ xuyên biên giới.
Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, các hành vi phản cạnh tranh qua biên
giới có thể làm giảm hoặc ngăn cản đáng kể những lợi ích tiềm năng có thể đạt được khi
các DN gia nhập một thị trường mới. Vì vậy, trong trường hợp PLCT Việt Nam được
xây dựng thích hợp, hiệu quả và phù hợp với hồn cảnh kinh tế, xã hội và mơi trường
của một quốc gia sẽ bổ sung cho các chính sách khác của chính phủ, nhằm đạt được tăng
trưởng và phát triển bền vững, thông qua việc loại bỏ và ngăn chặn các hành vi phản
cạnh tranh.
Ở hầu hết các nước phát triển trên thế giới, PLCT cũng đóng vai trị như một
cơng cụ quan trọng để khuyến khích, gia tăng sự hiệu quả của sản xuất công nghiệp, tiến
bộ khoa học – kỹ thuật và phân bổ, tối ưu nguồn lực. Kể từ vài thập kỉ gần đây, các hành
vi phản cạnh tranh có xu hướng chủ yếu được coi là một hiện tượng trong nước, tuy
nhiên hầu hết các khía cạnh của việc thực thi PLCT hiện nay đều mang tầm quan trọng
quốc tế. Theo đó, sự gia tăng mạnh mẽ trong phạm vi và tầm quan trọng của các hiệp
định thương mại tự do hai bên gần đây, chẳng hạn như các quốc gia mới nổi với một
quốc gia đã và đang phát triển ngày càng được ưa chuộng để thúc đẩy cạnh tranh trên
trường thương mại quốc tế. Các quy định về CSCT trong các hiệp định thương mại quốc
tế này tạo điều kiện cho một môi trường kinh doanh thuận lợi, công bằng, hiệu quả.
Thông qua các quy định như vậy, lợi ích của thương mại tự do không bị suy giảm bởi
các hành động của khu vực công hoặc khu vực tư nhân ở biên giới. Một vấn đề thách
thức đặt ra trong lĩnh vực này là làm thế nào để tận dụng được các quy định này vì sự
khác biệt giữa hệ thống pháp luật, nền kinh tế của mỗi bên.
Ngày 30/6/2019, Việt Nam và EU đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại
Tự do (EVFTA). Với 17 chương, hai nghị định thư và nhiều biên bản ghi nhớ kết nối
với các nội dung thiết yếu bao gồm thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, phòng vệ
thương mại, cạnh tranh, DN nhà nước, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại,
1
phát triển bền vững và các vấn đề pháp lý và thể chế, EVFTA được coi là một hiệp định
toàn diện, chất lượng cao, đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU. EVFTA
bao gồm toàn bộ chương kiểm soát CSCT với các quy định chi tiết, thiết thực và với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, môi trường cạnh tranh ở Việt Nam cần
tạo điều kiện tốt nhất để DN phát triển, NTD được hưởng lợi và phúc lợi xã hội.
Trong bối cảnh chưa có nhiều nghiên cứu về các điều khoản liên quan đến cạnh
tranh của EVFTA hiện nay, tác giả xin phép lựa chọn đề tài “Đánh giá sự phù hợp của
pháp luật cạnh tranh Việt Nam với những cam kết trong Hiệp định EVFTA” làm đề
tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Khóa luận này sẽ cung cấp thông tin về lý thuyết
chung về PLCT Việt Nam và phân tích sâu hơn về CSCT (các điều khoản liên quan đến
cạnh tranh) trong EVFTA. Sau đó, trên cơ sở phân tích sự tương thích giữa CSCT ở Việt
Nam và những cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định EVFTA, khóa luận sẽ đưa ra một
số khuyến nghị cho Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết này một cách hiệu quả.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực luật và
CSCT, nhưng hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu tập trung vào CSCT trong EVFTA.
Nguyên nhân là do EVFTA mới chỉ kết thúc đàm phán vào cuối tháng 6 năm 2019. Tuy
nhiên, các nghiên cứu về luật và CSCT quốc tế cũng như CSCT ở Việt Nam là một bộ
sưu tập thực sự to lớn. Theo đó, tác giả xin phép đưa ra một số đánh giá chung về một
số nghiên cứu tiêu biểu và nổi bật sau đây:
Thứ nhất, cuốn sách về CSCT và thực hành của Massi Motta trình bày các khái
niệm quan trọng và giải đáp về cách thức mà chính sách và LCT có thể thúc đẩy vai trị
quan trọng trong việc đạt được tăng trưởng và phát triển bền vững và tồn diện. Đây là
một cuốn sách đối phó với cả lý thuyết và thực tiễn của CSCT. Đây là một cuốn sách
giáo khoa cực kỳ quan trọng trong kinh tế học của giảng viên, sinh viên, nhà kinh tế và
luật sư. Nó dựa trên tài liệu của các tổ chức cơng nghiệp và dựa trên các phân tích ban
đầu để tiết lộ những ảnh hưởng tiêu cực mà hoạt động phản cạnh tranh của các công ty
đối với phúc lợi của người tiêu và xây dựng các khuyến nghị cho các chính sách nhằm
hạn chế hành vi phản cạnh tranh này. Sự tương thích giữa lý thuyết và thực hành là một
trong những đặc điểm cơ bản của cuốn sách, bao gồm các tài liệu tham khảo khác nhau
về các trường hợp CSCT (chủ yếu từ EU và Hoa Kỳ) và một số nghiên cứu điển hình
được phát triển đầy đủ.
2
Thứ hai, một số nghiên cứu về Hợp tác quốc tế trong thực thi LCT của các chuyên
gia nhóm hoặc tổ chức kinh tế quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
(OECD): Những thách thức của Hợp tác quốc tế trong thực thi LCT; Các khía cạnh của
LCT của Francisco Gonzalez de Cassio; Các Điều khoản Cạnh tranh trong các Hiệp định
Thương mại Khu vực: Cách Đảm bảo Lợi ích Phát triển (LHQ); CSCT trong Trật tự
Thương mại Mới: Tăng cường Hợp tác Quốc tế và Quy tắc (EC)… đóng một vai trị
quan trọng trong việc cung cấp các phân tích cập nhật về luật và CSCT thực tiễn ở cấp
độ toàn cầu. Ủy ban Cạnh tranh của OECD đã đóng một vai trị quan trọng trong việc
định hình khn khổ hợp tác quốc tế giữa các cơ quan thực thi PLCT và đã tiến hành
“hỗ trợ điều tra” như một công cụ để tăng cường thực thi tại một khu vực tài phán với
sự trợ giúp của các cơ quan thực thi ở các khu vực tài phán khác. Hầu hết trong số 35
thành viên OECD đến từ châu Âu và 4 thành viên khác đến từ châu Mỹ. Do đó, bài báo
này cũng đã tham khảo nhiều báo cáo và Nghệ thuật của các nhóm chuyên gia từ OECD.
Khi xem xét PLCT của Việt Nam, có rất nhiều tài liệu được tham khảo, một trong
số đó là báo cáo về LCT Việt Nam của Mayer Brown năm 2019. Báo cáo như là bằng
chứng cho sự cải tiến của LCT năm 2018 so với LCT năm 2004, chi tiết thể hiện điểm
nổi bật của các điều khoản.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Báo cáo tóm tắt LCT Việt Nam
(2012) của Cục Quản lý cạnh tranh và Đánh giá của OECD về Luật và CSCT Việt Nam
là hai loại hình nghiên cứu chuyên biệt hơn trong lĩnh vực này. Trước những vấn đề
được báo cáo nổi lên từ việc thực thi PLCT của Việt Nam, nó là có thể thấy rằng Việt
Nam cần xây dựng lại một bộ quy định trong LCT của Việt Nam để phù hợp với bối
cảnh của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ tồn cầu hóa.
3. Mục đích nghiên cứu nghiện cứu của khóa luận
Mục tiêu của khóa luận là làm rõ các vấn đề của CSCT trong hợp tác quốc tế
thơng qua việc phân tích, lý giải các điều khoản liên quan đến cạnh tranh trong EVFTA
và phân tích sự tương thích giữa PLCT của Việt Nam và các cam kết trong Hiệp định
EVFTA. Sau khi xác định rõ vấn đề, khóa luận đưa ra một số khuyến nghị để thực hiện
cam kết của EVFTA về CSCT một cách hiệu quả nhất.
4. Phạm vi nghiên cứu
3
Về nội dung, khóa luận tập trung vào các cam kết về cạnh tranh trong Hiệp định
EVFTA và sự tương thích giữa PLCT Việt Nam và những cam kết đó. Phạm vi của khóa
luận này như sau:
- Đối với phạm vi địa lý: nghiên cứu nhằm tiến hành một cái nhìn thực tế sâu sắc
liên quan đến các cam kết của Việt Nam với EU về luật và CSCT tại Việt Nam.
- Đối với phạm vi thời gian: đề tài tập trung phân tích, tổng hợp tình hình CSCT
của Việt Nam từ năm 2018 và các tác động của Hiệp định EVFTA từ tháng 8 năm 2020.
Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị nhằm tuân thủ các cam kết về cạnh tranh trong Hiệp
định EVFTA.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về cạnh tranh. Đồng thời
trong q trình nghiên cứu, khóa luận còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích: được sử dụng nhằm chia nhỏ các vấn đề thuộc phạm
vi nghiên cứu;
- Phương pháp tổng hợp: được sử dụng để khái quát hóa nội dung cần nghiên
cứu một cách có lơ-gic, hệ thống;
- Phương pháp thống kê: được sử dụng nhằm thu thập và xử lý số liệu có liên
quan đến vấn đề kết hơn trái pháp luật, nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng, từ
đó, làm tiền đề thực tiễn để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh;
- Phương pháp so sánh: được sử dụng nhằm làm sáng tỏ các điểm tương đồng và
khác biệt giữa các các vấn đề pháp lý.
6. Những đóng góp mới về khoa học của khóa luận
Trong nhiều thập kỷ qua, PLCT Việt Nam luôn là một công cụ quan trọng để
thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng và làm cho thị trường hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt
trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Từ năm 2004, bằng việc ban hành LCT
năm 2004 và ban hành các chính sách liên quan, Chính phủ Việt Nam đã từng bước
nâng cao PLCT Việt Nam để đạt được sự cạnh tranh hiệu quả và bảo vệ quyền lợi của
khách hàng. Tham gia nhiều Hiệp định thương mại thế hệ mới như: CPTPP, EVFTA…
đặt ra một yêu cầu cho Chính phủ Việt Nam phải chuẩn bị cải cách CSCT toàn diện bao
gồm vai trò của khu vực quốc doanh, các quy định chống cạnh tranh và cải cách cạnh
tranh luật để đảm bảo hiệu lực cho các cam kết của mình. Cùng với việc LCT mới năm
4
2018 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2019, Việt Nam đã và đang trên đường giải
quyết hiệu quả các vấn đề nổi cộm của hợp tác quốc tế trong bối cảnh các cam kết
EVFTA. Những đóng góp của cơng trình này được trình bày như sau:
- Phân tích ba khung lý thuyết và khái niệm chính: khái niệm về cạnh tranh; mối
quan hệ giữa CSCT, quy LCT và phát triển kinh tế; và mục tiêu của PLCT Việt Nam.
Sau đó, xem xét kỹ lưỡng cách PLCT Việt Nam điều chỉnh bối cảnh chống cạnh tranh
của toàn cầu hóa, đặc biệt là về mặt hình thức của các điều khoản trong các hiệp định
thương mại tự do.
- Phân tích lý thuyết và có hệ thống ở trên là cần thiết để đánh giá chi tiết hơn
liệu Việt Nam có pháp luật tồn diện về cạnh tranh quy định hành vi chống cạnh tranh
hoặc nghiêm cấm hành vi phản cạnh tranh của cơng ty có VTTLTT,… và cung cấp các
công cụ thực thi cần thiết để phát hiện ra các hành vi bất hợp pháp đó hay khơng; (ví dụ:
các chương trình khoan hồng, quyền điều tra, v.v.) hoặc đủ quyền lực để thực hiện hành
động thích hợp đối với hành vi đó nhằm đảm bảo các mục tiêu này hay không?
- Sau khi khẳng định những phát hiện về những tồn tại, thậm chí là kẽ hở trong
CSCT ở Việt Nam, khóa luận sẽ đề xuất những kiến nghị để cải thiện khung pháp lý
hiệu quả, cơ quan cạnh tranh độc lập và có nguồn lực tốt, mơi trường CTLM để chuẩn
bị tốt cho EVFTA.
7. Kết cấu nội dung của khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án
bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh Việt Nam và Hiệp
định EVFTA.
- Chương 2: Đánh giá sự phù hợp của pháp luật cạnh tranh Việt Nam với những
cam kết trong Hiệp định EVFTA.
- Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh
Việt Nam theo những cam kết gia nhập hiệp định EVFTA.
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH, PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VÀ
HIỆP ĐỊNH EVFTA
1.1.
Khái quát về cạnh tranh
1.1.1. Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiều
chi phối của quan hệ sản xuất và có mối quan hệ hữu cơ với các quy luật kinh tế khác
như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu… Đây là một khái
niệm rất rộng và từ trước đến nay đã có khá nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về
thuật ngữ này.
Chẳng han như theo Black’s law Dictionary, cạnh tranh được định nghĩa là “sự
nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích
giống nhau từ chủ thể thứ ba”1. Hay theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong từ điển
ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) được hiểu là “một sự kiện hoặc một
cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đối với phía
mình”2. Tuy vậy, Từ điển tiếng Việt lại định nghĩa “cạnh tranh” là “cố gắng giành phần
hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi
ích như nhau”.3
Do tính chất đa dạng và phức tạp của q trình cạnh tranh trong nền kinh tế hiện
đại, các định nghĩa về cạnh tranh mặc dù nêu được chừng mực nhất định những đặc
điểm căn bản của cạnh tranh, tuy nhiên, chúng đều có những hạn chế và chưa đảm bảo
tính khái quát cao và bao trùm trong thực tiễn. Trong lĩnh vực khoa học kinh tế, cạnh
tranh được các nhà kinh tế học hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị
trường nhằm mục đích lơi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng. Cạnh tranh
có thể xuất hiện ở cả giữa những người bán hàng và giữa những người mua hàng, nhưng
cạnh tranh xuất hiện giữa những người bán hàng là phổ biến.
Bryan A. Garner, Black’ Law Dictionary (St. Paul, 1999), tr 278
CUTS – All About Competition Policy & Law For the advanced learner, 2000, page 1.
3
Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học, Nxb, Đà Nẵng, 1997, tr. 108.
1
2
6
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu hiện nay cũng rất khó có
thể đưa ra một khái niệm chuẩn chung và đầy đủ cho hiện tượng cạnh tranh với tư cách
là một đối tượng điều chỉnh của pháp luật. Đến nay, LCT ban hành năm 2018 của Việt
Nam cũng như luật về cạnh tranh của một số nước trên thế giới (Trung Quốc, Hàn Quốc,
Nhật Bản…) vẫn chưa đưa ra khái niệm về cạnh tranh nhưng có ban hành các quy phạm
quy định tạo lập và duy trì một mơi trường kinh doanh bình đẳng và cơng bằng giữa các
chủ thể.
1.1.1.2. Các hình thức cạnh tranh
(i) Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời sống
kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết
của nhà nước
Cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh thoát khỏi mọi sự can thiệp của Nhà
nước và thị trường cạnh tranh tự do “tồn tại khi khơng có sự can thiệp của Chính phủ và
tại đó, các tác nhân cung cầu được phép hoạt động tư do”4.
Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước là hình thức cạnh tranh được can thiệp
bằng các CSCT của Nhà nước để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và
phát triển theo trật tự nhất định, bảo đảm, tạo lập và duy trì mơi trường kinh doanh bình
đẳng.
(ii) Căn cứ vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành,
một lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh
khơng hồn hảo và độc quyền
Thứ nhất, cạnh tranh hồn hảo (Perfect Competition) hay cịn được gọi là cạnh
tranh thuần túy (Pure Competition) là hình thức cạnh tranh diễn ra trên thị trường có
những đặc tính sau:
- Có sự tham gia của nhiều người bán và nhiều người mua trên thị trường, thị
phần của người bán và khả năng tiêu thụ của người mua đều nhỏ đến mức khơng ai có
đủ sức mạnh tác động tới giá cả của sản phẩm.
- Sản phẩm do những người bán cung ứng khơng có sự khác biệt dẫn đến các sản
phẩm trên thị trường được bán ở cùng một mức giá. Giá cả sản phẩm được hình thành
David W. Pearce, Từ điển kinh tế học hiện đại (Hà Nội: tái bản lần 4, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 1999), tr
397.
4
7
khách quan thông qua quan hệ cung cầu và không chịu sự tác động của các chủ thể tham
gia thị trường.
- Các chủ thể kinh doanh tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường.
Thứ hai, cạnh tranh không hồn hảo là hình thức cạnh tranh diễn ra trong thị
trường có sự khuyết đi một trong các yếu tố của cạnh tranh hoàn hảo. Thực tế, trên mỗi
thị trường cạnh tranh khơng hồn hảo, mỗi thành viên đều có một sức mạnh nhất định,
đủ để tác động đến giá cả của sản phẩm theo những mức độ nhất định.
Thứ ba, độc quyền là hình thức cạnh tranh tồn tại trên thị trường có đặc trưng:
- Chỉ có chủ thể duy nhất cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm mà khơng có sản
phẩm thay thế cùng loại hay gần giống với nó.
- DN độc quyền là người có quyền quyết định giá sản phẩm đối với loại mặt hàng
nhất định. Họ có thể nâng giá hoặc hạ giá sản phẩm để thu được nhiều lợi nhuận độc
quyền nhất.
- Rào cản gia nhập thị trường rất lớn làm cho các DN khác rất khó khăn hoặc
khơng thể tham gia thị trường được.
(iii) Căn cứ vào tính chất của các phương thức cạnh tranh, cạnh tranh được
chia thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh khơng lành mạnh
Thứ nhất, CTLM là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng
giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh.5 CTLM là những hoạt động nhằm thu hút
khách hàng mà pháp luật không cấm, phù hợp với tập quán thương mại và đạo dức kinh
doanh truyền thống như: nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ
khách hàng, hạ giá bán hàng hóa trên cơ sở đổi mới cơng nghệ, giảm chi phí..
Thứ hai, CTKLM là phương thức cạnh tranh được DN thực hiện bởi những cách
thức không lành mạnh nhằm mục đích gây phản cạnh tranh như ấn định giá bất hợp lý
với khách hàng, sắp đặt mức giá thấp hơn giá thị trường để loại bỏ đối thủ, quảng cáo,
khuyến mại với mục đích lơi kéo khách hàng của đối thủ…
(iv) Căn cứ vào tác động bất lợi của hành vi cạnh tranh gây ra đối với môi
trường cạnh tranh, pháp luật của một số nước đã chia cạnh tranh thanh hành vi
hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
5
Bryan A. Garner, sdd, tr. 279.
8
Thứ nhất, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi hình thành từ những thủ đoạn
lũng đoạn thị trường của các tập đoàn kinh tế tư bản độc quyền ở Hoa Kỳ vào cuối thế
kỉ XIX và luôn hướng tới việc hình thành SMTT hoặc lạm dụng SMTT làm cho tình
trạng cạnh tranh trên thị trường bị bóp méo.
Thứ hai, hành vi CTKLM là những hành vi của DN nhằm mục đích cạnh tranh
trái với chuẩn mực đạo đức, đi ngược với thơng lệ thiện chí, trung thực trong kinh doanh.
Những hành vi này phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các DN đã đẩy cạnh tranh
lên quá mức bằng những thủ đoạn thái quá gây thiệt hại cho đối thủ hoặc một bộ phận
NTD,
1.1.1.3. Vai trò của cạnh tranh
Thứ nhất, cạnh tranh là một trong những động lực quan trọng góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội. Hệ quả của cạnh tranh là DN nào có tiềm lực, có chiến lược
kinh doanh đúng đắn, hiệu quả sẽ tiếp tục vươn lên tồn tại, DN nào không đáp ứng được
nhu cầu của thị trường sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.
Thứ hai, cạnh tranh khuyến khích việc áp dụng khoa học, kỹ thuật mới, cải tiến
công nghệ nhằm kinh doanh có hiệu quả và tạo ra nhiều sản phẩm tốt hơn trên thị trường.
Thứ ba, cạnh tranh dẫn đến giá thấp hơn cho NTD và làm thỏa mãn nhu cầu của
NTD. Bởi vậy, trong điều kiện có cạnh tranh, NTD là thượng đế, là trung tâm thị trường
và có quyền lựa chọn những sản phẩm mà họ muốn mua.
Thứ tư, cạnh tranh buộc các DN cũng như các quốc gia phải sử dụng các nguồn
lực, đặc biệt là nguồn tài nguyên một cách tối ưu và mang lại hiệu quả cũng như năng
suất cao nhất.
1.1.2. Khái quát về chính sách cạnh tranh
1.1.2.1. Khái niệm về chính sách cạnh tranh
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về CSCT. Có quan điểm cho rằng,
CSCT bao gồm các quy tắc và quy định nhằm thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế.6
Bên cạnh đó, nhiều nhà kinh tế và các luật gia cho rằng cần hiểu CSCT theo nghĩa
rộng hơn. Theo đó, chính sách cạnh tranh là tổng thể các biện pháp, công cụ vĩ mô của
Nhà nước nhằm đảm bảo tự do cạnh tranh và điều tiết cạnh tranh trong nền kinh tế, duy
6
Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế (sách dịch), Nxb. Thống kê, Hà Nội, 1997, tr. 58
9
trì mơi trường cạnh tranh cơng bằng, bình đẳng phù hợp với lợi ích chung của xã hội.7
Theo nghĩa này, CSCT là một phần của chính sách kinh tế sẽ bao gồm hàng loạt các cải
cách và chính sách mà Chính Phủ đưa ra ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của DN và cấu
trúc ngành trong quá trình cạnh tranh,.
1.1.2.2. Nội dung của chính sách cạnh tranh
CSCT được ban hành với mục tiêu chủ yếu là để duy trì và phát huy cạnh tranh
như phương thức để phẩn bổ nguồn lực hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi cho các DN
gia nhập và rút lui khỏi thị trường đồng thời tạo điều kiện để NTD được cung cấp đầy
đủ hàng hóa với chất lượng tốt nhất và giá cả rẻ nhất. CSCT bao gồm nhưng không giới
hạn những nội dung chính sau:
(i) Chính sách thương mại quốc tế: Chính sách thương mại quốc tế của một
quốc gia có thể đóng vai trị quan trọng trong việc hình thành cạnh tranh trong nền kinh
tế. Lượng hàng hóa trong nội địa phụ thuộc vào độ mở của nền kinh tế với nước ngồi.
Do đó nếu thắt chặt chính sách thương mại với nước ngồi có thể dẫn đến các DN trong
nước thao túng thị trường.
(ii) Chính sách cơng nghiệp: Các quy định điều chỉnh về việc gia nhập và thành
lập DN ở một quốc gia có ý nghĩa quan trọng đối với môi trường cạnh tranh hiệu quả.
Nếu một quốc gia thực hiện chính sách hạn chế sự gia nhập và tăng trưởng của các công
ty gắn với điều kiện cấp phép và các điều kiện nghiêm ngặt cho việc ra đời của DN thì
sẽ ít cơng ty tham gia vào thị trường do đó mức độ cạnh tranh sẽ thấp. Do đó, một CSCT
có hiệu quả là ủng hộ việc gỡ bỏ các rào cản và tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng đầu
tư cũng như các thủ tục hành chính đơn giản cho hoạt động đầu tư thành lập DN.
(iii) Chính sách tư nhân hóa (cổ phần hóa): Để đảm bảo mơi trường cạnh tranh,
chính phủ các nước đều áp dụng giải pháp tư nhân hóa, cổ phần hóa để nâng cao hiệu
quả phát triển của tồn bộ nền kinh tế.
(iv) Chính sách lao động: Các quy tắc lao động ảnh hưởng lớn đến chi phí và
tiện ích sản xuất, do đó, nếu quy định của luật lao động nghiêm ngặt có thể được coi là
rào cản gia nhập và rút lui khỏi thị trường, từ đó làm giảm hành vi hạn chế cạnh tranh.
Trường đại học Ngoại Thương Hà Nội, Giáo trình luật cạnh tranh, Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. 29, Tài
liệu của khóa học, “Đào tạo chun sâu luật và chính sách cạnh tranh” ngày 21 - 24/9/2010 tại Thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh.
7
10
(v) Cải cách điều tiết kinh tế ngành: Sự mở cửa các các lĩnh vực như điện, nước,
viễn thông cho tư nhân tham gia kinh doanh cho thấy nhu cầu cấp thiết phải có quy định
pháp luật điều tiết hoạt động kinh tế trong lĩnh vực này.
(vi) Chính sách về quyền sở hữu trí tuệ: CSCT có liên quan đến chính sách về
quyền sở hữu trí tuệ và ln ủng hộ việc các DN tham gia vào các lĩnh vực tồn tại độc
quyền. Bởi vậy, một cách lý tưởng nhất là luật sở hữu trí tuệ vừa tạo ra các cơ chế linh
hoạt cho phép bảo hộ người sáng tạo, đồng thời tạo khoảng trống để chính phủ có thể
hành động trong trường hợp có sự lạm dụng những quyền này.
(vii) Luật cạnh tranh: PLCT đóng một vai trị quan trọng trong hiệu quả của việc
thực thi CSCT. Việc có một khung pháp lý chặt chẽ và hoàn thiện sẽ giúp tạo lập mơi
trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng, tự do. Cơ sở pháp lý tạo điều kiện và bảo
đảm cho cạnh tranh tồn tại là các quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại
bình đẳng của các DN. Chỉ khi được tự do gia nhập thị trường, tự do giao kết và bảo
đảm quyền thì các chủ thể tham gia thị trường mới có đủ năng lực để quyết định phương
thức kinh doanh. Lúc đó, cạnh tranh mới có thể tồn tại và phát huy tác dụng. PLCT còn
giúp cho quyền lợi của DN và NTD được bảo vệ. Việc xóa bỏ mọi kiềm chế không phù
hợp đối với hoạt động kinh doanh, PLCT giúp đảm bảo cho các DN hoạt động kinh
doanh tự do trên một thị trường tự do. Sự hiện diện của PLCT giúp thiết lập trật tự thị
trường, giải phóng các DN khỏi những biểu hiện khơng lành mạnh. Một trong những
vai trò của PLCT là bảo vệ NTD. Với tư cách là công cụ pháp lý được sử dụng để loại
bỏ các biểu hiện không lành mạnh trên thị trường quốc gia, PLCT có ý nghĩa quan trọng
trong việc bảo vệ sự lành mạnh và khả năng phát triển tự thân của nền kinh tế nội địa,
thúc đẩy q trình tồn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, hiệu quả trên tinh thần phát triển
lợi thế so sánh của từng thị trường thành viên.
1.2. Khái quát về Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của Pháp luật Cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của cơ chế thị trường, đồng thời
còn là thuộc tính của kinh tế thị trường, vì vậy, nó hiện diện trong nền kinh tế như một
yếu tố tất yếu. Xét theo phương diên tích cực, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát
triển nền kinh tế, song xét theo những phương diện khác, chính cạnh tranh là yếu tố đưa
lại những hậu quả tiêu cực về kinh tế - xã hội. Cạnh tranh gay gắt sẽ dẫn đến tình trạng
CTKLM, hạn chế cạnh tranh, và tất yếu độc quyền xuất hiện, gây ảnh hưởng xấu và bóp
11
méo thị trường. Vì vậy, một nhu cầu tất yếu là PLCT phải ra đời và điều tiết cũng như
bảo đảm mơi trường CTLM trong kinh doanh và duy trì động lực phát triển nền kinh tế.
Pháp lụật cạnh tranh Việt Nam nếu được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm pháp luật
chống CTKLM, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, những quy định điều chỉnh hoạt
động tố tụng cạnh tranh trong các văn bản pháp luật có liên quan. Theo nghĩa hẹp, PLCT
là một đạo luật và những văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh hoạt động cạnh tranh
nhằm bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường cũng như mơi trường cạnh tranh bình
đẳng và cơng bằng.8
Khác với các lĩnh vực pháp luật về kinh tế khác, PLCT có các đặc trưng cơ bản:
Thứ nhất, PLCT chỉ quy định các hành vi bị ngăn cấm trong hoạt động canh tranh
chứ không hướng dẫn các chủ thể kinh doanh cần làm những gì hoặc phải làm gì trong
quá trình cạnh tranh trên thị trường (nói cách khác, PLCT có tính tiếp cận từ mặt trái).
Bởi vậy, PLCT thuộc loại pháp luật mang tính “can thiệp” hay “ngăn cản”.
Thứ hai, PLCT thường đặt ra các điều khoản mở và những quy định miễn trừ cho
phép cơ quan thi hành LCT có thể áp dụng một cách linh hoạt. Trên thực tế, có những
hành vi ở thời điểm này được xác định là gây ảnh hưởng xấu tới môi trường cạnh tranh
nhưng ở thời điểm và hồn cảnh khác thì hành vi đó lại khơng xâm phạm tới ích cơng
và khơng đáng bị ngăn cản.
Thứ ba, ngồi các quy định về nội dung điều chỉnh hành vi cạnh tranh, PLCT cịn
có các quy định để đảm bảo thực thi LCT. Đó là các quy định điều chỉnh hoạt động tố
tụng cạnh tranh và xử lý vi phạm PLCT. Cụ thể, khơng giống như các lĩnh vực pháp luật
khác, PLCT cịn bao gồm nhiều quy phạm quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các
vụ việc thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm hay các hành vi CTKLM và
các biện pháp xử lý đối với các chủ thể có hành vi VPPL.
1.2.2. Lịch sử hình thành phát triển của pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Trước thời kỳ đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế (trước Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI của Đảng năm 1986), nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch
hóa tập trung nên chưa có điều kiện cho sự tồn tại của cạnh tranh.
Từ sau năm 1986, nền kinh tế đất nước chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, theo định
8
Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Cơng an nhân dân, Hà Nội;tr.66.
12
hướng xã hội chủ nghĩa nên hình thành các điều kiện để cạnh tranh tồn tại. Trong thời
gian này, mặc dù chưa có văn bản pháp luật riêng biệt điều chỉnh hoạt động cạnh tranh
nhưng trong một số văn bản luật khác đã xuất hiện các quy định nhằm điều tiết cạnh
tranh, góp phần tạo nên mơi trường CTLM. Chẳng hạn như trong Hiến pháp năm 1992
(được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định một số vấn đề mang tính ngun tắc làm
tiền đề để bảo vệ duy trì cạnh tranh như: ghi nhận nguyên tắc tự do kinh doanh (Điều
57); ghi nhận quyền bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh doanh thuộc mọi
thành phần kinh tế (Điều 22), Bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các nhà sản xuất và NTD
(Điều 28)… Ngoài ra, việc điều chỉnh hành vi CTKLM và hành vi hạn chế cạnh tranh
trong một số lĩnh vực cụ thể đã xuất hiện trong một số văn bản pháp luật khác nhau như:
Trong lĩnh vực quảng cáo: Luật thương mại năm 1997, Pháp lệnh bảo vệ NTD năm
1999, Pháp lệnh chất lượng hàng hoá năm 2000;…
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần điều tiết nền kinh tế thị trường, kiểm soát độc
quyền và tạo lập, duy trì mối trường kinh doanh bình đẳng, Quốc Hội khóa XI đã ban
hành LCT năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2005. Sau đó, các CQNN có thẩm
quyền của Việt Nam cũng lần lượt ban hành các văn bản để hướng dẫn, thực thi Luật,
trong đso có văn bản quy định chi tiết thi hành một số điều của LCT, văn bản quy định
về xử lý VPPL trong lĩnh vực cạnh tranh… Tuy nhiên, sau hơn 12 năm thi hành, với sự
thay đổi của bối cảnh và điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường pháp lý và xu hướng hội
nhập kinh tế quốc tế, Luật năm 2004 đã dần bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập cần
được sửa đổi, bổ sung nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi, đáp ứng các yêu cầu
thực tiễn.9 Đến ngày 12/6/2018, Quốc hội đã thơng qua LCT số 23/2018/QH14 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 với 10 chương và 118 điều luật đã khắc phục
được khá nhiều bất cập trong LCT năm 2004.
1.2.3. Nội dung cơ bản của pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành
LCT năm 2018 quy định một số nội dung cơ bản như sau:
(i) Xác định thị trường liên quan, xác định thị phần và thị phần kết hợp.
Xuất phát từ tầm quan trọng và tính xuyên suốt của quy định về thị trường liên quan, thị
phần trong việc kiểm soát các hành vi vi phạm PLCT, LCT năm 2018 đã xây dựng một
Chương riêng quy định về thị trường liên quan và thị phần, trên cơ sở thừa kế các điều,
9
Xen thêm tại: />
13
khoản trong LCT năm 2004 và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 09 năm
2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của LCT.
(ii) Các vấn đề liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Đây là
chương mới được xây dựng trên cơ sở Mục 1, Mục 4 Chương II LCT năm 2004. Việc
tách các quy định tại Mục 1 và Mục 4 Chương II LCT năm 2004 thành chương riêng do
đây là nhóm quy định riêng biệt về một trong những hành vi phản cạnh tranh cơ bản
được điều chỉnh, là một trong những trụ cột của PLCT.
(iii) Các vấn đề liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường,
lạm dụng vị trí độc quyền. Đây là chương mới được xây dựng trên cơ sở Mục 2 Chương
II LCT năm 2004, trong đó tách các quy định về làm dụng VTTLTT, làm dụng vị trí
độc quyền thành chương riêng, do đây là những nhóm quy định về hành vi riêng biệt.
(iv) Các vấn đề liên quan đến tập trung kinh tế và hành vi cạnh tranh không
lành mạnh bị cấm. Về tập trung kinh tế, đây là chương mới, được tách từ Mục 3
Chương II LCT năm 2004. Việc tách tập trung kinh tế thành một chương riêng xuất phát
từ sự thay đổi về cách tiếp cận trong kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế nhằm ngăn
ngừa việc tập trung kinh tế có thể hình thành nên SMTT, tiềm ẩn khả năng gây hạn chế
cạnh tranh trên thị trường. Về hành vi CTKLM bị cấm, trên cơ sở chuẩn hóa các quy
định về hành vi CTKLM, đồng thời rà sốt, loại bỏ các hành vi khơng phù hợp về mặt
bản chất, Điều 45 LCT năm 2018 đã sửa đổi, bổ sung một số hành vi được quy định tại
Điều 39 LCT năm 2004.
(v) Quy định một số cơ quan Nhà nước có chức năng quản lý như Ủy ban
Cạnh tranh quốc gia, thành viên của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. LCT năm 2018
quy định thành lập Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trên quan điểm tổ chức lại các cơ quan
cạnh tranh theo LCT năm 2004 bao gồm: Cơ quản quản lý cạnh tranh (hiện nay là Cục
Cạnh tranh và Bảo vệ NTD) và Hội đồng Cạnh tranh (bao gồm cả bộ phận giúp việc là
Văn phòng Hội đồng Cạnh tranh).
(vi) Các vấn đề liên quan đến tố tụng cạnh tranh và xử lý vi phạm pháp luật
về cạnh tranh. Các quy định về trình tự, thủ tục trong tố tụng cạnh tranh trong Luật đã
được hoàn thiện theo hướng đơn giản hơn, rút ngắn thời gian và có sự phân định rõ các
khâu trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh, từ phát hiện, điều tra cho đến xử lý
và giải quyết khiếu nại.
14
(vii) Một số vấn đề liên quan đến sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ quy định trong
một số luật khác không phù hợp với quy định của Luật cạnh tranh, điều khoản
chuyển tiếp và hiệu lực thi hành. Về sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ quy định trong một số
luật khác (Điều 116), để đảm bảo hiệu lực thi hành của các quy định và tính thống nhất
của hệ thống pháp luật, điều này quy định về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các quy định.
Về điều khoản chuyển tiếp (Điều 118), để đảm bảo hiệu lực thi hành của Luật, tránh xảy
ra các khoảng trống pháp lý trong việc điều tra, xử lý các vụ việc cạnh tranh khi
LCT năm 2018 có hiệu lực.
1.2.4. Nguồn của Pháp luật cạnh tranh
PLCT bao gồm các văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật trực tiếp hoặc
gián tiếp, điều chỉnh hoạt động cạnh tranh, hoạt động tố tụng cạnh tranh, các quy định
về tổ chức, hoạt động cũng như thẩm quyền của cơ quan cạnh tranh và các biện pháp xử
lý VPPL về cạnh tranh.
Ở Việt Nam hiện nay, PLCT bao gồm các văn bản pháp luật chủ yếu sau:
Thứ nhất, điều ước quốc tế. ĐƯQT liên quan đến cạnh tranh là sự thỏa thuận giữa
các chủ thể của công pháp quốc tế (chủ yếu là các quốc gia) nhằm thiết lập những nguyên
tắc pháp lý bắt buộc để xác định thay đổi hoặc hủy bỏ quyền và nghĩa vụ với nhau trong
hoạt động cạnh tranh. ĐƯQT có giá trị áp dụng trên toàn lãnh thổ của tất cả các quốc
gia tham gia điều ước và được ưu tiên áp dụng tại Việt Nam khi có sự mâu thuẫn và
khác biệt với quy định của LCT. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã và đang không
ngừng tăng cường quan hệ hợp tác, đầu tư với nhiều quốc gia trên thế giới và đã kí kết
hoặc tham gia một số ĐƯQT song phương hoặc đa phương liên quan đến cạnh tranh.
Một số ĐƯQT nổi bật:
- Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA): EVFTA chính thức có
hiệu lực từ ngày 1/8/2020, là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi
ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO). Các nội dung chính của Hiệp định gồm: Thương mại hàng hóa (lời
văn về quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), Quy tắc xuất xứ, Hải quan và
thuận lợi hóa thương mại, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động
thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Thương mại dịch vụ (lời
văn về quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), Đầu tư, Phòng vệ thương mại,
15
Cạnh tranh, DNNN, Mua sắm của Chính phủ, Sở hữu trí tuệ (gồm cả chỉ dẫn địa lý),
Phát triển bền vững, Hợp tác và xây dựng năng lực, Các vấn đề pháp lý.
- Hiệp định Đối tác toàn diện, tiến bộ xun Thái Bình Dương (CPTPP) chính
thức có hiệu lực từ ngày 14/01/2019. Hiệp định được ký kết bởi 11 Quốc gia và được
đánh giá là mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra khơng ít thách thức đối với kinh tế
Việt Nam. CSCT của hiệp định CPTPP đưa ra các nguyên tắc chung nhằm đảm bảo
khuôn khổ cạnh tranh bình đẳng trong khu vực qua đó thúc đẩy mục tiêu về thương mại
và đầu tư của Hiệp định. Theo đó, các nước thành viên CPTPP cam kết phải đảm bảo
một số yêu cầu chung như sau: Ban hành và thực thi PLCT quốc gia để xử lý các hoạt
động gây nguy hại đến môi trường cạnh tranh, đảm bảo hiệu quả kinh tế và lợi ích của
NTD; Duy trì cơ quan thực thi PLCT, bảo vệ mơi trường cạnh tranh trên nguyên tắc
không phân biệt đối xử….
Thứ hai, các văn bản luật được Quốc Hội thông qua, bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013
- LCT năm 2018 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2019 và các văn
bản hướng dẫn thi hành LCT là nguồn quan trọng nhất của PLCT.
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (bao gồm các quy định liên quan đến hợp đồng vơ
hiệu, quyền u cầu đình chỉ hành vi...)
- Ngồi ra cịn có một số các quy định gián tiếp điều chỉnh hoạt động cạnh tranh
của DN được quy định trong Luật Thương Mại năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm
2020, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005...
Thứ ba, các văn bản dưới Luật do Chính phủ và các CQNN có thẩm quyền ban
hành hướng dẫn thi hành LCT và các luật khác có liên quan đến hoạt động cạnh tranh.
Có thể kể đến một số văn bản thuộc nguồn này như Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày
24/03/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của LCT năm 2018; Nghị định
số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/09/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực cạnh tranh….
16
1.3. Khái quát về Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam
1.3.1. Hiệp định Thương mại Tự do Liên minh Châu Âu – Việt Nam
1.3.1.1. Khái quát về Hiệp định EVFTA
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU), gọi tắt
là Hiệp định EVFTA đã được khởi động và kết thúc trong bối cảnh quan hệ song phương
giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt là trong các
lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư.
EVFTA được bắt đầu khởi động đàm phán từ tháng 6 năm 2012. Đây là một
HĐTM thế hệ mới với mức độ hội nhập sâu rộng và tồn diện nhất từ trước đến nay.
Khơng giống như các HĐTM trước đây, EVFTA có một số đặc điểm nổi bật như: Phạm
vi cam kết rất rộng, không chỉ bao gồm các cam kết thương mại thuần túy mà mở rộng
thêm những cam kết khác như lao động, DN nhà nước, mua sắm công,…; Mức độ mở
cửa rộng hơn so với WTO: xóa bỏ hầu hết các dịng thuế, mở cửa mạnh các lĩnh vực
hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ cạnh tranh, và lộ trình thực thi cam kết
tương đối ngắn: thông thường khoảng từ 5 – 10 năm.
Đối với Việt Nam, việc thực hiện EVFTA là bước đi quan trọng nhằm đa dạng
hóa đối tác thương mại – đầu tư, đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, tránh phụ thuộc
vào một khu vực cụ thể. Có thể thấy, trong giai đoạn trước năm 2010, hầu hết các FTA
mà Việt Nam tham gia đều với các đối tác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
như: HĐTM tự do mà Việt Nam cùng ASEAN ký với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật
Bản,… Từ năm 2010 trở lại đây, Việt Nam mới tích cực thúc đẩy đàm phán các thỏa
thuận thương mại tự do với đối tác ở nhiều khu vực khác nhau như EU, CPTPP, trong
đó có một số nước châu Mĩ, Liên minh Kinh tế Á – Âu trong dó có Nga, khối các nước
Bắc Âu (EFTA),… Các thỏa thuận này khi được thực hiện sẽ tạo thành một hệ thống
quan hệ thương mại tự do toàn diện và ổn định giữa Việt Nam với tất cả các đối tác
thương mại lớn trên thế giới.
1.3.2.2. Hành trình đàm phán ký kết EVFTA.
Tháng 10 năm 2010: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch EU đã đồng ý
khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA.
Tháng 6 năm 2012: Bộ trưởng Công Thương Việt Nam và Cao ủy Thương mại
EU đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA.
17