TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THƠNG VẬN TẢI TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI : PHÂN TÍCH VỤ VIỆC TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP
CHẤT MA TÚY TẠI THỊ TRẤN ĐỨC TÀI, HUYỆN ĐỨC
LINH, TỈNH BÌNH THUẬN DƯỚI GĨC NHÌN PHÁP LUẬT
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Đồn Cơng Thức
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Phan Khánh Duyên
Mã nhóm học phần: 010100500434
Mã số sinh viên: 2154060032
Lớp: QC21
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................. 1
CHƯƠNG I: KIẾN THỨC PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ........................................... 2
1.1 Ngành luật điều chỉnh ......................................................................................... 2
1.2 Chủ thể của quan hệ pháp luật được đề cập đến ............................................. 2
1.2.1 Người phạm tội ........................................................................................... 2
1.2.2 Người thi hành án ...................................................................................... 3
1.3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể ................................................................... 3
1.4 Khách thể của quan hệ pháp luật ...................................................................... 4
1.5 Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật ........................ 4
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VỤ VIỆC ........................................................................ 5
2.1 Tóm tắt sơ lược vụ việc ....................................................................................... 5
2.2 Phân tích hành vi của chủ thể ............................................................................ 6
2.2.1 Hành vi của Người phạm tội ..................................................................... 6
2.2.2 Hành vi của người thi hành án ................................................................. 6
2.3 Phân tích dấu hiệu, cấu thành vi phạm pháp luật của chủ thể ....................... 7
2.3.1 Phân tích dấu hiệu của vi phạm pháp luật .............................................. 7
2.3.2 Phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật................................. 9
2.4 Cơ sở, mục đích, căn cứ và nguyên tắc áp dụng trách nhiệm pháp lý ......... 11
2.5 Thử làm Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của một chủ thể ........................... 12
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 14
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Xã hội ngày càng phát triển, nhờ đó, đời sống nhân dân được nâng cao, cải thiện.
Tuy nhiên, ở bất cứ quốc gia nào, không riêng Việt Nam, việc tồn tại các loại tệ nạn xã
hội là điều khó tránh khỏi, đặc biệt là việc sử dụng trái phép chất ma túy ngày càng trở
nên khó kiểm sốt, gây nhiều tác hại và khó khăn cho sự phát triển chung của xã hội.
Những năm qua, tình hình tội phạm và tệ nạn liên quan đến ma túy trên địa bàn tỉnh
Bình Thuận nói chung và địa bàn huyện Đức Linh nói riêng diễn biến vô cùng phức tạp.
Số vụ, số đối tượng phạm tội gia tăng. Tình trạng mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép
chất ma túy xảy ra nhiều và ngày càng lộ liễu, gây ra sự lo lắng trong nhân dân.
Trước những tình hình thực tiễn trên, tơi xin chọn đề tài : “Phân tích vụ việc tàng trữ
trái phép chất ma túy tại thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận dưới góc
nhìn pháp luật”. Bằng cách sử dụng một vụ án cụ thể tại huyện nơi tôi sinh sống, vận
dụng những kiến thức pháp luật đã được học trong học phần Pháp luật đại cương, tôi
muốn mang lại những kiến thức trong lĩnh vực pháp luật liên quan đến tệ nạn ma túy,
phân tích vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy ở thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh
Bình Thuận dựa vào những kiến thức trên. Từ đó làm rõ tính chất nghiêm trọng của hành
vi sử dụng, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, góp phần nâng cao
kiến thức pháp luật liên quan đến tệ nạn ma túy của mọi người, tiến tới đẩy lùi tệ nạn ma
túy trên địa bàn huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
2
CHƯƠNG I: KIẾN THỨC PHÁP LUẬT LIÊN QUAN
1.1 Ngành luật điều chỉnh
Buôn bán, tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi bị cấm theo quy
định của nước ta hiện nay. Đây là loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội và người phạm tội
sẽ bị pháp luật xử lý rất nghiêm khắc. Những hình phạt và những vấn đề liên quan đến
hành vi buôn bán, tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định tại: Hiến
pháp; Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Luật Phòng, chống ma túy 2021
( vào thời điểm vụ việc trong bài được đưa ra khởi tố thì Luật này chưa được ban hành);
các Nghị định của Chính phủ quy định về những vấn đề liên quan đến buôn bán, sử dụng,
tàng trữ và vận chuyển trái phép chất ma túy…
1.2 Chủ thể của quan hệ pháp luật được đề cập đến
Quan hệ pháp luật được đề cập đến là quan hệ pháp luật hình sự, bao gồm 2 chủ thể là:
Người phạm tội và Người thi hành pháp luật.
1.2.1 Người phạm tội
Người phạm tội là người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà luật hình sự
điều chỉnh, có đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Người phạm tội về ma túy là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ
tuổi theo quy định tại điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, trong 13 tội phạm về ma túy có 5 tội
quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, đó là: Điều
248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy);
Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất
ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy). 8 tội còn lại, người phạm tội từ đủ 16
tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong quan hệ pháp luật được đề cập đến, có một chủ thể là anh Nguyễn Thành
Cơng, sinh năm 1997, trú tại thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Anh
Cơng có năng lực pháp luật (khơng bị Tịa án hạn chế hay là tước đoạt năng lực pháp
3
luật), đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (tại thời điểm xuất hiện quan hệ pháp luật anh 23
tuổi) và khơng thuộc trường hợp ở trong tình trạng khơng có năng lực nhận thức hoặc
năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội (quy định tại Điều 21 Bộ luật hình
sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy, anh Cơng có năng lực chủ thể và năng
lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.
1.2.2 Người thi hành pháp luật
Trong quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước tham gia với tư cách là bên bảo vệ pháp
luật, bảo vệ cho những lợi ích của tồn xã hội và lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước
được ủy quyền cho các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân,
cơ quan thi hành án hình sự sẽ nhân danh mình để tham gia vào quan hệ pháp luật hình
sự.
Người thi hành pháp luật trong quan hệ pháp luật được phân tích là Tịa án nhân dân
huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên Cơng an
huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức
Linh, tỉnh Bình Thuận.
1.3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
Trong quan hệ pháp luật hình sự, quyền của chủ thể này tương ứng sẽ là nghĩa vụ
của chủ thể còn lại. Nhà nước (hoặc cơ quan được ủy quyền, trong quan hệ pháp luật này
là Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều
tra viên Cơng an huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận) có quyền buộc người phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự về việc thực hiện tội phạm thơng qua các hoạt động tố tụng như điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án. Người phạm tội (trong quan hệ pháp luật được phân tích là
anh Nguyễn Thành Cơng) có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự, chịu bị điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án. Tuy vậy, họ cũng có quyền yêu cầu Nhà nước (hoặc cơ quan
được ủy quyền) truy cứu họ đúng với các quy định của pháp luật, đúng người đúng tội.
Phương pháp điều chỉnh của ngành luật hình sự là phương pháp mệnh lệnh- phục tùng.
Theo đó, Nhà nước (hoặc cơ quan được ủy quyền) trong quan hệ pháp luật hình sự có
quyền buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, chịu hình phạt- biện pháp
4
cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất, người phạm tội khơng có cách nào khác ngồi
nghĩa vụ tn thủ.
1.4 Khách thể của quan hệ pháp luật
Vì đây là quan hệ pháp luật hình sự, nên khách thể của quan hệ pháp luật này chính
là các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm. Khách thể bảo vệ của pháp luật hình sự là
hệ thống các quan hệ xã hội được nhà nước xác lập và bảo vệ bằng các quy phạm pháp
luật hình sự.
Khách thể của quan hệ pháp luật có tội phạm về ma túy là chế độ thống nhất quản lý
các chất ma túy của Nhà nước. Chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước là tổng thể
các quy định do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định liên quan đến
vấn đề sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tồn trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao
đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, kê đơn, bán thuốc, giám định,
nghiên cứu chất ma túy, tiền chất. Các quy định về chế độ quản lý các chất ma túy được
thể hiện trong Hiến pháp; Luật phịng, chống ma túy; các Nghị định của Chính phủ quy
định về những vấn đề liên quan đến chế độ quản lý các chất ma túy, tiền chất quy định
của các bộ, ngành (nhất là quy định của Bộ Y tế) liên quan đến chế độ quản lý chất ma
túy. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm
đoạt, sử dụng các chất ma túy cũng như các tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép
chất ma túy.
Ngoài việc xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma
túy, người phạm tội về ma túy còn xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm tính
mạng, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của giống nòi dân tộc.
1.5 Căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật
Căn cứ để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật là sự kiện pháp lý.
Sự kiện pháp lí là những sự kiện thực tế mà sự xuất hiện hay mất đi của chúng được pháp
luật gắn với việc hình thành, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật.
Trong quan hệ pháp luật được đề cập, sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp
luật là: Ngày 20/12/2020, anh Nguyễn Thành Công điều khiển xe gắn máy đến xã E,
huyện T, tỉnh Bình Thuận mua 02 bịch ma túy đá giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)
5
của một người tên P (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) với mục đích mua về để sử dụng.
Đây là sự kiện pháp lí phát sinh phụ thuộc vào ý chí con người (Hành vi).
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VỤ VIỆC
2.1 Tóm tắt sơ lược vụ việc
Vào khoảng 09 giờ ngày 21/12/2020, Công an thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh,
tỉnh Bình Thuận cử cán bộ đến nhà Nguyễn Thành Công, sinh năm 1997 trú tại khu phố
10 thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận là đối tượng thuộc diện quản lý
theo dõi, giáo dục sau khi cai nghiện để xác minh. Khi lực lượng Cơng an thị trấn Đức
Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận yêu cầu Nguyễn Thành Công về trụ sở làm việc
thì Nguyễn Thành Cơng có thái độ chống đối và bỏ chạy, thấy có biểu hiện nghi vấn, lực
lượng Cơng an thị trấn Đức Tài đã tiến hành khống chế Nguyễn Thành Cơng và kiểm tra
thì phát hiện trong túi áo khốc bên phải Cơng đang mặc trên người có 01 bao thuốc lá
hiệu BASTO màu đỏ bên trong bao thuốc lá có 02 bịch ni lon hàn kín chứa chất màu
trắng. Qua làm việc Nguyễn Thành Công khai nhận 02 bịch ni lon trên là ma túy đá,
Công mua về để sử dụng.
Công an thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã lập biên bản phạm
tội quả tang và thu giữ vật chứng, trong đó có 02 bịch ni lon được hàn kín, có chứa chất
màu trắng ( 01 bịch có kích thước 03cm x 6,5cm và 01 bịch có kích thước 1,2cm x
2,5cm).
Tại kết luận giám định số 1406/LKGĐ-PC09, ngày 24/12/2020 của Phịng kỹ thuật
hình sự Cơng an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,3450
gam là Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thành Cơng đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy. Ngày 20/12/2020, Nguyễn Thành Công điều khiển xe gắn máy đến xã
E, huyện T, tỉnh Bình Thuận mua 02 bịch ma túy đá giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)
của một người tên P (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) với mục đích mua về để sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS-HS ngày 16/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã truy tố Nguyễn Thành Cơng ra trước Tịa án nhân
dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
6
theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017.
2.2 Phân tích hành vi của chủ thể
2.2.1 Hành vi của Người phạm tội
Anh Nguyễn Thành Cơng có hành vi: Ngày 20/12/2020, anh đã điều khiển xe gắn
máy đến xã E, huyện T, tỉnh Bình Thuận mua 1,3450 gam Methamphetamine của một
người tên P (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) với mục đích mua về để sử dụng.
Đây là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, dưới dạng hành động và trái với pháp
luật. Cụ thể, hành vi này đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm
2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:
Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận
chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Hêrơin, cơcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1
gam đến dưới 05 gam.
2.2.2 Hành vi của người thi hành án
Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận;
Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận có hành vi,
quyết định tố tụng và điều tra, truy tố anh Nguyễn Thành Công.
Đây là hành vi dưới dạng hành động và được Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh
Bình Thuận nhận định rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra,
Điều tra viên Cơng an huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Q trình điều tra và tại phiên
tịa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khơng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành
7
vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp
pháp.
2.3 Phân tích dấu hiệu, cấu thành vi phạm pháp luật của chủ thể
Đối với chủ thể là Người thi hành án, xét thấy hành vi của chủ thể khơng có các dấu
hiệu của vi phạm pháp luật, cũng như không thỏa các yếu tố cấu thành vi phạm pháp
luật. Vì vậy, đây là hành vi hợp pháp, không trái với pháp luật. Nên tơi sẽ tập trung phân
tích dấu hiệu, cấu thành vi phạm pháp luật của Người phạm tội là anh Nguyễn Thành
Cơng.
2.3.1 Phân tích dấu hiệu của vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật có bốn dấu hiệu sau:
Dấu hiệu thứ nhất: Phải là hành vi của con người
Con người có thể là cá nhân, tổ chức nói chung. Khơng có hành vi của con người thì
khơng thể có vi phạm pháp luật: các hiện tượng tự nhiên như mưa gió tuy gây ra thiệt
hại nhưng khơng phải là hành vi vi phạm pháp luật. Suy nghĩ, tình cảm… của con người
cho dù có nguy hiểm đến đâu cũng không thể bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Hành
vi của con người có thể thể hiện bằng hành động hoặc khơng hành động.
Như đã phân tích ở mục 2.2.1, trong quan hệ pháp luật này có hành vi của anh
Nguyễn Thành Công, thể hiện bằng hành động. Vì vậy thỏa dấu hiệu 1 của vi phạm pháp
luật.
Dấu hiệu thứ hai: Hành vi phải trái pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được
pháp luật bảo vệ, xác lập
Hành vi của con người, xét dưới góc độ pháp lý, có thể chia thành hai loại: hợp pháp
hoặc không hợp pháp. Hành vi vi phạm pháp luật luôn là hành vi không hợp pháp. Các
hành vi vi phạm pháp luật có thể là hành vi khơng thực hiện, thực hiện không đúng, hoặc
thực hiện vượt quá yêu cầu cần thiết …. Những hành vi trái với các quy định của các tổ
chức xã hội, vi phạm các quy tắc tập quán, tôn giáo… nhưng không trái pháp luật thì
8
không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Tất cả những gì pháp luật khơng cấm, khơng
xác lập và bảo vệ thì dù có làm trái, có xâm hại cũng không thể coi là vi phạm pháp luật.
Cũng như đã phân tích ở mục 2.2.2, hành vi của anh Nguyễn Thành Công là hành vi
phạm pháp luật. Cụ thể, hành vi của anh đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ
luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy thỏa dấu hiệu thứ 2 của vi
phạm pháp luật.
Dấu hiệu thứ ba: Có lỗi của chủ thể
Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của
mình. Như vậy những hành vi tuy là trái luật nhưng chủ thể bị bắt buộc phải thực hiện
trong điều kiện không được tự do ý chí thì khơng thể coi là vi phạm pháp luật. Tất cả
mọi vi phạm pháp luật trước hết phải xuất phát từ hành vi trái pháp luật nhưng không
phải bất cứ hành vi trái pháp luật nào cũng bị coi là vi phạm pháp luật. Khơng có lỗi thì
khơng có vi phạm pháp luật.
Hành vi trên của anh Nguyễn Thành Cơng là hành vi có lỗi, thuộc lỗi cố ý trực tiếp,
thể hiện thái độ của anh đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi
đó gây ra. Vì vậy thỏa dấu hiệu thứ 3 của vi phạm pháp luật.
Dấu hiệu thứ tư: Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật
Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể do
nhà nước quy định. Đối với cá nhân: độ tuổi (tuỳ vào những quan hệ khác nhau), khả
năng lý trí và có tự do ý chí.
Như đã phân tích ở mục 1.2.1, anh Nguyễn Thành Cơng sinh năm 1997, có năng lực
pháp luật (khơng bị Tịa án hạn chế hay là tước đoạt năng lực pháp luật), đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự (tại thời điểm xuất hiện quan hệ pháp luật anh 23 tuổi) và không
thuộc trường hợp ở trong tình trạng khơng có năng lực nhận thức hoặc năng lực điều
khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội (quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015,
9
sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy, anh Cơng có năng lực trách nhiệm pháp lí đầy đủ và
thỏa dấu hiệu thứ 4 của vi phạm pháp luật.
2.3.2 Phân tích các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật được cấu thành bởi bốn yếu tố: Mặt khách quan, mặt chủ quan,
chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật.
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Là những biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật, có thể được nhận biết bằng
trực quan. Mặt khách quan của vi phạm pháp luật bao gồm các yếu tố chủ yếu sau:
-
Hành vi vi phạm pháp luật:
Đây là yếu tố bắt buộc phải có vì khơng có hành vi vi phạm pháp luật thì
khơng có cấu thành vi phạm pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể
thể hiện tính trái pháp luật có thể được thực hiện dưới dạng hành động hoặc
khơng hành động, không phù hợp với các quy định của pháp luật gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội.
Yếu tố này đã được phân tích ở dấu hiệu thứ 2 của vi phạm pháp luật (Mục
2.3.1)
-
Hậu quả của vi phạm pháp luật:
Hậu quả là những tổn thất thực tế về mặt vật chất, tinh thần và những thiệt hại
khác cho xã hội. Mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật được xác định
thông qua mức độ thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây thiệt hại cho xã hội mà
hành vi đó gây ra.
Hành vi của anh Nguyễn Thành Công để lại những hậu quả: ảnh hưởng đến
trật tự trị an tại địa phương; ảnh hưởng đến nếp sống văn minh và thuần phong
mỹ tục của dân tộc; là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội
khác…
-
Mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả: Hậu quả phải là từ hành vi gây ra. Hành vi
và hậu quả từ hành vi của anh Nguyễn Thành Công thỏa yếu tố trên.
10
-
Ngoài các yếu tố nêu trên, mặt khách quan của vi phạm pháp luật còn kể đến các
yếu tố khác: thời gian, địa điểm thực hiện hành vi vi phạm, công cụ thực hiện
hành vi vi phạm...
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của chủ thể
có hành vi trái pháp luật, được thể hiện bao gồm các yếu tố sau:
-
Lỗi của chủ thể vi phạm: Đã phân tích ở dấu hiệu thứ ba của vi phạm pháp luật
(Mục 2.3.1)
-
Động cơ vi phạm:
Động cơ vi phạm là nguyên nhân bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật.
Động cơ vi phạm của anh Nguyễn Thành Cơng là vì anh đã từng bị nghiện và
có tiền sự cai nghiện.
-
Mục đích vi phạm:
Mục đích vi phạm là kết quả cuối cùng mà chủ thể mong muốn khi thực hiện
hành vi. Mục đích vi phạm thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi. Trong
thực tế, mục đích vi phạm khơng nhất thiết đồng nhất với hậu quả xảy ra.
Mục đích vi phạm Nguyễn Thành Cơng khi thực hiện hành vi vi phạm của
mình là mua về để sử dụng.
Chủ thể của vi phạm pháp luật
Chủ thể của vi phạm pháp luật là những cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm
pháp lý. Chủ thể có khả năng chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật do mình
gây ra trước nhà nước. Họ có hành vi vi phạm pháp luật.
Chủ thể của vi phạm pháp luật trong vụ việc cần phân tích là anh Nguyễn Thành
Cơng, tương tự với chủ thể của quan hệ pháp luật cũng là anh Nguyễn Thành Cơng đã
được phân tích tại mục 1.2.1 của Chương I.
11
Khách thể của vi phạm pháp luật
Khách thể của vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ. Những quan hệ này bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, gây ra các thiệt hại hoặc
đe dọa trực tiếp gây ra thiệt hại.
Khách thể của của vi phạm pháp luật trong vụ việc cần phân tích tương tự với khách
thể của quan hệ pháp luật, đã được phân tích ở mục 1.4 của Chương I.
2.4 Cơ sở, mục đích, căn cứ và nguyên tắc áp dụng trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm của các chủ thể vi phạm pháp luật trước nhà
nước, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước
hoặc người có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật
xác lập và điều chỉnh. Đối với vụ việc được phân tích, chủ thể vi phạm pháp luật trong
vụ việc là anh Nguyễn Thành Cơng, nên sau đây tơi sẽ phân tích cơ sở, mục đích, căn cứ
và nguyên tắc áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể là anh Nguyễn Thành Công.
Cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý
Cơ sở thực tế của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật của chủ
thể. Như vậy, cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với anh Nguyễn Thành Cơng
chính là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của anh ấy.
Mục đích của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý
Truy cứu trách nhiệm pháp lý nhằm: Bảo vệ các quan hệ pháp luật bị xâm hại, trừng
trị các hành vi xâm hại các quan hệ pháp luật; Khôi phục các quan hệ pháp luật bị xâm
hại; Giáo dục, phòng ngừa các hành vi tương tự khác có thể xảy ra.
Mục đích của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với anh Nguyễn Thành Công là
để bảo vệ chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước; trừng trị hành vi
tàng trữ chất ma túy của chủ thể; răn đe mọi người, hướng tới đẩy lùi hành vi tàng trữ
trái phép chất ma túy nói riêng và tệ nạn ma túy nói chung.
Căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý
Các căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý gồm: Hành vi vi phạm pháp luật (Tàng
trữ trái phép chất ma túy); Mức độ nguy hiểm, trái pháp luật của hành vi đó (Tội phạm
ít nghiêm trọng) ; Hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra (Đã nêu ở mục 2.3.2); Mối
12
quan hệ giữa hành vi vi phạm pháp luật và hậu quả do hành vi gây ra (Đã nêu ở mục
2.3.2); Các yếu tố khác: thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện hành vi vi phạm …; Thời
hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý; Được ân xá; Miễn trách nhiệm pháp lý.
Nguyên tắc áp dụng trách nhiệm pháp lý:
- Chỉ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp
luật, có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý, thực hiện hành vi trái pháp luật, có lỗi.
- Truy cứu đúng người, đúng tội, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, đúng pháp
luật.
- Đảm bảo tính cơng bằng, hành vi như nhau, gây thiệt hại giống nhau thì phải chịu
trách nhiệm giống nhau.
- Cá biệt hố, tính đến hồn cảnh từng trường hợp.
- Truy cứu kịp thời.
2.5 Thử làm Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của một chủ thể
Tơi xin chọn chủ thể là anh Nguyễn Thành Công làm thân chủ để bảo vệ quyền và
và lợi ích hợp pháp của anh ấy, cụ thể như sau:
Kính thưa q tịa!
Đối với hành vi tàng trữ trái phép của thân chủ tôi, theo điểm c khoản 1 Điều 249
của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, thân chủ của tơi sẽ nhận hình
phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như khởi tố, thân
chủ của tơi đã có thái độ ăn năn, hối cãi cũng như thành khẩn khai báo cho Cơ quan cảnh
sát điều tra, Điều tra viên Cơng an huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận mà khơng hề giấu
giếm, bao che. Vì những điều trên, áp dụng điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự. Tơi xin đề nghị q tịa xem xét, giảm nhẹ mức phạt cho thân chủ của tôi
và cho thân chủ tôi được hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt quy định tại
khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội tàng
trữ trái phép chất ma túy đó là 01 năm tù.
Trên đây là tồn bộ nội dung bào chữa của tôi. Trân trọng cảm ơn quý tòa và mọi
người đã chú ý lắng nghe.
13
KẾT LUẬN
Tóm lại, qua những phân tích trên đây, tơi đã nêu được những kiến thức pháp luật
liên quan đến vấn đề tàng trữ trái phép chất ma túy, từ đó làm rõ các yếu tố pháp lí trong
vụ việc tàng trữ trái phép chất ma túy tại thị trấn Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình
Thuận, cũng như thử sử dụng những kiến thức về pháp luật của mình để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của chủ thể Nguyễn Thành Công trong quan hệ pháp luật trên.
Qua bài tiểu luận này, mong rằng mọi người có thể “bỏ túi” cho mình những kiến
thức pháp luật cơ bản nói chung và những kiến thức pháp luật về hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy nói riêng, từ đó nâng cao ý thức của bản thân, góp phần đẩy lùi tệ nạn
ma túy trên địa bàn, giúp cho xã hội ngày càng văn minh, phát triển. Thêm vào đó, mong
rằng qua vụ việc đã phân tích sẽ giúp cho mọi người nhận thấy được mức độ nghiêm
trọng của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cũng như tầm quan trọng của việc thành
thật khai báo, giúp các cơ quan chức năng điều tra, xử lí vụ việc một cách nhanh chóng,
chính xác hơn. Từ đó, mong mọi người sẽ nghiêm túc chấp hành các qui định của pháp
luật. Nếu chưa từng có những hành vi trên thì tiếp tục phát huy, nếu đã và đang có những
hành vi vi phạm trên thì hãy mau chóng cảnh tỉnh và thành thật khai báo cho cơ quan
chức năng để nhận được sự khoan hồng từ Nhà nước và pháp luật.
14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Văn bản quy phạm pháp luật
1. Quốc hội, Luật Số: 100/2015/QH13 – Bộ Luật Hình Sự, được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thơng qua ngày
27 tháng 11 năm 2015.
2. Quốc hội, Luật số: 12/2017/QH14 – Luật, sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Hình sự số 100/2015/QH13, được Quốc hội nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XIV thơng qua ngày 20 tháng 6 năm 2017.
Website
3. phuquy.binhthuan.gov.vn – Công an huyện Đức Linh tạm giữ 3 đối tượng tàng
trữ mua bán trái phép chất ma túy
Công an huyện Đức Linh tạm giữ 3 đối tượng tàng trữ mua bán trái phép chất ma
túy (binhthuan.gov.vn)
Ngày truy cập: 03/01/2022
4. thuvienphapluat.vn – Bản án 16/2021/HS-ST ngày 09/04/2021 về tội tàng trữ trái
phép chất ma túy.
Bản án 16/2021/HS-ST ngày 09/04/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
(thuvienphapluat.vn)
Ngày truy cập: 04 – 09/01/2022
5. Lê Minh Trường (Ngày đăng 20/05/2021) – Tội phạm về ma túy là gì? Quy định
pháp luật về tội phạm ma túy.
Tội phạm về ma túy là gì ? Quy định pháp luật về tội phạm ma túy
(luatminhkhue.vn)
Ngày truy cập: 04 – 05/01/2022
6. Ls. Luyện Ngọc Hùng (Ngày đăng 13/08/2021) – Quan hệ pháp luật hình sự là
gì?
[GIẢI ĐÁP] QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ LÀ GÌ, CHỦ THỂ NÀO?
(luathungson.vn)
15
Ngày truy cập: 04 – 05/01/2022
7. pbgdpl.moj.gov.vn – Đặc san tuyên truyền pháp luật số 01/2017: Chủ đề Một số
vấn đề chung của Bộ luật hình sự.
Tài liệu PBGDPL (moj.gov.vn)
Ngày truy cập: 04 – 05/01/2022
8. Th.S Đồn Cơng Thức – Tài liệu mơn học Pháp luật đại cương
Khóa: Pháp luật đại cương_Nhóm_34_HKI (ut.edu.vn)
Ngày truy cập: 04 – 09/01/2022