Trần Trung Hiếu _ 31211027456 _ 22D1POL51002452 _ B2-408
Ngày nay, các quốc gia trên thế giới trong q trình phát triển đã từng bước tạo
lập nên các mối quan hệ song phương và đa phương nhằm từng bước tham gia vào
các liên kết kinh tế quốc tế với những mức độ khác nhau, nhằm đưa lại lợi ích thiết
thực cho mỗi bên. Chính các liên kết kinh tế quốc tế là sự biểu hiện rõ nét của hai xu
hướng khu vực hố và tồn cầu hố đang diễn ra hết sức sơi động và đặc biệt quan
trọng trong những năm gần đây. Vậy nên, hồn tồn chính xác để có thể nói rằng việc
hội nhập kinh tế của Việt Nam là một tất yếu khách quan.
Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế tại Việt Nam.
Tồn cầu hố kinh tế là hình thành một thị trường thế giới thống nhất, một hệ thống
tài chính tín dụng tồn cầu, là việc phát triển và mở rộng phân cơng lao động quốc tế
theo chiều sâu, là sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học – cơng nghệ giữa các nước
trên quy mơ tồn cầu, là việc giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội có tính chất tồn
cầu như vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ mơi trường sinh thái nhằm mục
đích hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển, tiến tới tự do hố hồn tồn những di
chuyển nói trên giữa các nước thành viên trong khu vực.
Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc
tế. Hội nhập quốc tế cũng như các hình thức hợp tác quốc tế khác đều vì lợi ích quốc
gia, dân tộc. Các quốc gia tham gia quá trình này cơ bản vì lợi ích cho đất nước, vi sự
phồn vinh của dân tộc mình. Mặc khác, các quốc gia thực hiện hội nhập quốc tế cũng
góp phần thúc đẩy thế giới tiến nhanh trên con đường văn minh, thịnh vượng.
Nhìn tổng thể thì hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính là: Hội nhập tồn cầu, khu vực
và song phương. Các phương thức hội nhập này được triển khai trên các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội. Cho đến nay, đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế được triển
khai trên 3 lĩnh vực chính gồm: Hội nhập trong lĩnh vực kinh tế (hội nhập kinh tế quốc
tế), hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trong
lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác. Tuy
nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các
lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu khách quan trong thế giới ngày nay. Đối với
các nước đang và kém phát triển (trong đó có Việt Nam) thì hội nhập kinh tế quốc tế
là con đường tốt nhất để rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước khác và có điều
kiện phát huy hơn nữa những lợi thế so sánh của mình trong phân cơng lao động và
hợp tác quốc tế.
Có thể nói sự hội nhập của nền kinh tế các nước trong khu vực đang đưa lại những lợi
ích kinh tế khác nhau cho cả người sản xuất và người tiêu dùng trong các nước thành
viên. Đặc biệt là nước ta thì mở cửa và hội nhập với các nước trong khu vực và trên
tồn thế giới đang là xu thế tất yếu.
Chính sự hội nhập này đã đem lại cho Việt Nam nhiều lợi ích đáng kể. Cụ thể:
Thứ nhất: Tạo lập quan hệ mậu dịch mới giữa các nước thành viên, mở rộng
hơn nữa khả năng xuất, nhập khẩu hàng hố của Việt Nam với các nước, các khu vực
khác trên thế giới.
Thứ hai: Hội nhập khu vực cịn góp phần chuyển hướng mậu dịch, sự chuyển
hướng này diễn ra phổ biến khi hình thành liên minh thuế quan vì khi đó các điều kiện
cơ bản giữa các nước thành viên trong liên minh sẽ trở nên thuận lợi hơn, hấp dẫn hơn
Thứ ba: Hội nhập vào khu vực, thực hiện tự do hố Thương Mại tạo điều kiện
cho nước ta có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu vốn, cơng nghệ, trình độ quản
lý…từ các quốc gia khác trong liên minh. Về lâu dài tự do hố Thương Mại góp phần
tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, tự do hố Thương Mại giúp tăng trưởng
kinh tế bằng hai cách: tăng xuất khẩu và tăng năng suất cận biên của 2 yếu tố sản xuất
là vốn và lao động.
Tồn cầu hố, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hố thương mại đã và đang là
xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến
nay, Việt Nam đã tiến hành cơng cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
với phương châm “đa dạng hố, đa phương hố quan hệ đối ngoại. Việt Nam sẵn sàng
là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hồ bình, độc lập và
phát triển”. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế,
tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.
Tình hình thực trạng của hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn
170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hố tới trên
230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại
song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống
đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hố song phương với các nước và
các tổ chức quốc tế. Việt Nam đã thiết lập quan hệ tốt với tất cả các nước lớn, trong
đó có 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (P5 “5 cường quốc”), các
nước trong nhóm G8(7 quốc qua có nền cơng nghiệp hàng đầu thế giới); nâng quan hệ
đối tác chiến lược với Trung Quốc trở thành đối tác chiến lược tồn diện, gia tăng nội
hàm của quan hệ đối tác chiến lược với Nga, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với
Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Anh, Tây Ban Nha. Số lượng các cơ quan đại diện của
ta ở nước ngồi cũng tăng lên (91 cơ quan) với 65 đại sứ qn, 20 tổng lãnh sự qn,
4 phái đồn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế, 1 văn phịng kinh tế văn hóa.
- Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với
các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế
giới, Ngân hàng thế giới. Ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương. Tháng
7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đơng Nam Á (ASEAN) và chính
thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996. Đây được coi
là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam. Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu
(ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á - Thái Bình Dương (APEC).
Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi
quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức
này.
Việt Nam đang tích cực tham gia và phát huy vai trị thành viên trong các tổ chức kinh
tế quốc tế. Với tư cách là thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế: WTO, ASEAN,
APEC, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết và tích cực tham
gia các hoạt động trong khn khổ các tổ chức này. Cụ thể như sau:
* Trong khn khổ WTO:
- Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại
theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ở các cam kết đa
phương về pháp luật và thể chế cũng như các cam kết mở cửa thị trường hàng hố,
dịch vụ.
* Trong khn khổ ASEAN
- Sau 16 năm tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đơng Nam Á (ASEAN, 1995-2011),
mối quan hệ hợp tác khu vực giữa Việt Nam với ASEAN ngày càng phát triển tồn
diện và có tác động sâu sắc tới đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của Việt Nam, góp
phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn hợp tác khu vực và thế giới. Đối
với Việt Nam, ASEAN ln là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất (riêng năm 2009,
ASEAN là nhà đầu tư lớn thứ 2 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ).
- Việc thực hiện các cam kết hội nhập sâu rộng nhằm xây dựng Cộng đồng ASEAN
vào năm 2015 đã đóng góp thiết thực cho việc cải thiện mơi trường luật pháp trong
nước, tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi,
cũng như làm cơ sở, làm tiền đề giúp Việt Nam tham gia các khn khổ hợp tác song
phương và đa phương khác.
* Trong khn khổ APEC
- Đối với Việt Nam, Diễn đàn APEC có ý nghĩa hết sức quan trọng. APEC là khu vực
dành viện trợ phát triển lớn nhất, chiếm tới 65% tổng số vốn đầu tư nước ngồi, 60%
giá trị xuất khẩu, 80% giá trị nhập khẩu, và 75% tổng số khách du lịch quốc tế đến
Việt Nam.
* Trong khn khổ ASEM
- Là diễn đàn đại diện hơn 60% dân số thế giới và đóng góp hơn 50% tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) tồn cầu, ASEM khơng chỉ là cầu nối cho quan hệ đối tác mới giữa
hai châu lục Á-Âu mà cịn hướng tới mục tiêu đem lại những đóng góp thiết thực cho
hịa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới.
Chúng ta cần phải làm gì để giảm thiểu tối đa tiêu cực và tối đa hóa hiệu
quả của việc hội nhập kinh tế của Việt Nam ?
Bên cạnh những lợi ích kinh tế chủ yếu trên đây, cũng cần phải thấy rằng việc hội
nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực với các hình thức liên kết đa dạng từ
thấp đến cao đang đặt ra cho nước ta những thử thách mới cần phải ứng xử cho phù
hợp với q trình tự do hố Thương Mại.
Những thử thách đó là:
- Phải nhanh chóng điều chỉnh lại các cân đối trong nền kinh tế trên cơ sở xố
bỏ những hạn chế về Thương Mại như thuế quan, hàng rào phi thuế quan.
- Vấn đề việc làm và giải quyết thất nghiệp.
- Cải cách hệ thống tài khố, đặc biệt là những trường hợp thuế quan mậu dịch
có tỷ trọng đáng kể trong nguồn thu ngân sách và do đó làm nảy sinh những khó khăn
trong q trình cân đối ngân sách của chính phủ.
- Cần phải thiết lập khn khổ pháp lý chung (Luật chơi chung) đối với các
nước thành viên.
- Vấn đề giải quyết cơng bằng, bình đẳng trong xã hội và giữa các nước trong
nội bộ khu vực.
Nổi bật lên trong những năm gần đây là Đề án :” Tăng cường quản lý nhà nước
về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và gian lận xuất xứ”.Đề án nhằm
nâng cao hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc iệt là tham gia các HIệp định
Thương mại tự do thế hệ mới, bảo đảm thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các cam kết
trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới( WTO), các Hiệp định Thương mại tự
do (FTA) đã ký kết. Giải pháp chủ yếu của đề án là tăng cường quản lý nhà nước đối
với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư nước ngoài; nâng cao nhận thức, hiệu quả
thực thi quy định pháp luật về phịng vệ thương mại; rà sốt, xây dựng, sửa đổi, bổ
sung các văn bản quy phạm pháp luật về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương
mại, gian lận xuất xứ, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi lẩn tránh biện pháp
phòng vệ thương mại. Sau đây là một số chủ trương, chính sách để kinh tế nước ta
vững mạnh hơn trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới:
1 .Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng , toàn dân.
2 .Khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế kinh tế phù
hợp với các nguyên tắc và quy định của WTO; phát huy tối đa hiệu quả nguồn lực vốn
có.
3 .Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
4 .Nâng cao năn lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm.
5 .Bổ sung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo phát triển nông nghiệp và nông
thôn.
6 .Giải quyết tốt các vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình thực thi cam kết
WTO.
7 .Bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc.
8 .Giải quyết tốt các vấn đề mơi trường trong q trình phát triển.
9 .Giữ vững và tăng cường quốc phòng, an ninh quốc gia trong q trình hội
nhập.
10.Hồn thiện các thiết chế dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng.
Như vậy, việc hội nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực, hình thành các dạng
liên kết kinh tế quốc tế ln đưa lại cho nước ta những thuận lợi và những khó khăn,
những lợi ích kinh tế khác nhau. Vì vậy, chúng ta cần tính tốn cân nhắc, lựa chọn để
đưa ra những quyết định thích hợp trong q trình hội nhập nhằm đạt được hiệu quả
kinh tế cao.
Tài liệu tham khảo: />ItemID=5 .
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN