Tải bản đầy đủ (.pdf) (21 trang)

ĐỀ tài mối QUAN hệ dân số với vấn đề NGHÈO đói THỰC TRẠNG mối QUAN hệ này ở nước TA TRONG THỜI GIAN QUA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (632.09 KB, 21 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ


BÁO CÁO BÀI TẬP NHÓM
ĐỀ TÀI:
MỐI QUAN HỆ DÂN SỐ VỚI VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI.
THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ NÀY Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI GIAN QUA.

GVHD: Huỳnh Viết Thiên Ân.
Tên lớp: ECO3021.
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 11.
Sinh viên thực hiện:
1. Trần Thị Anh Thư (45k04.2)
2. Trịnh Thị Mai (45k04.2)
2. Hà Nhật Thành (45k04.2)
3. Phạm Quốc Hưng (45k04.1)
4. Nguyễn Văn An (46k20.1)

Đà Nẵng, tháng 11 năm 2021


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................2
1. Lí do chọn đề tài..............................................................................................2
2. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................2
4.1. Phương phá sưu tầm.................................................................................2
4.2. Phương pháp phân tích tổng hợp.............................................................3


4.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ: .................................................................3
PHẦN NỘI DUNG..................................................................................................3
I. Mối quan hệ giữa dân số và nghèo đói...........................................................3
1. Khái niệm dân số và nghèo đói...................................................................3
1.1. Dân số và sự gia tăng dân số................................................................3
1.2. Biến đổi dân số và nguyên nhân của biến đổi dân số..........................3
1.3. Nghèo đói và Các chỉ tiêu đánh giá sự nghèo đói................................4
1.3.1. Khái niệm nghèo đói....................................................................4
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự nghèo đói.........................................4
1.3.3. nguyên nhân dẫn đến nghèo đói.............................................5
2. Mối quan hệ giữa dân số và đói nghèo.......................................................6
2.1 Mối quan hệ giữa dân số và đói nghèo...............................................6
2.2 Tác động qua lại của dân số và nghèo đói và chiều tác động ngược
lại............................................................................................................................... 6
2.2.1. Tác động của dân số đến nghèo đói......................................6
2.2.2. Tác động của nghèo đói đến dân số......................................7
2.2.3. Tác động qua lại của dân số với phát triển kinh tế bền
vững.......................................................................................................................... 7
3. Tình trạng đói nghèo và phát triển ở một số nước trên thế giới..............8
4. Nghịch lý giữa phát triển kinh tế và nghèo đói.......................................9
II. Thực trạng mối quan hệ này ở Việt Nam..........................................................9
1. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế, Việt Nam thừa nhận
định nghĩa chung về đói nghèo.......................................................................9
2


1.1. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế....................9
1.2. Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo...........10
2. Thực trạng hiện nay của nước ta..............................................................11
2.1. Thực trạng về biến đổi dân số của nước qua trong thời gian

qua.................................................................................................11
2.2. Thực trạng về đói nghèo của nước ta trong thời gian qua.. .12
3. Nguyên nhân, hậu quả và đề xuất cần có của Việt Nam.........................14
3.1. Nguyên nhân..........................................................................14
3.2. Hậu quả của đói nghèo..........................................................15
3.3. Các đề xuất cụ thể của Việt Nam để giải quyết vấn đề hạn
chế về mối quan hệ giữa dân số và nghèo đói ở nước ta.............15
KẾT LUẬN............................................................................................................17
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................18

3


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Trong nhân khẩu học, dân số thế giới là tổng số người hiện đang sống trên Trái
Đất và được ước tính tại thời điểm ngày 10/5/2021 là 7,86 tỷ người. Và Theo điều
tra của BBC về sự gia tăng dân số của thế giới hiện nay, cứ mỗi giây trên thế giới có
4,2 người được sinh ra và 1,8 người chết đi.
Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, dân số hiện tại của Việt
Nam là 98.434.114 người vào ngày 01/11/2021 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp
Quốc. Hằng năm, dân số Việt Nam tăng không ngừng, trung bình mỗi năm dân số
nước ta tăng thêm 1 triệu người, hiện chiếm 1,25% dân số thế giới. Việt Nam đang
đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 15 trên thế giới trong bảng xếp hạng
dân số các nước và vùng lãnh thổ. Đây là những con số, giúp ta thấy được dân số
Việt Nam khá đông so với thế giới.
Một quốc gia có dân số đơng, sẽ đem lại nhiều cơ hội và thách thức cho nước đó.
Chẳng hạn, dân số đơng tại Việt Nam đã giúp đất nước có nguồn lao động dồi dào,
có thể thu hút các nhà đầu tư hoặc sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công lao
động xã hội,.... Tuy nhiên, đông dân cũng tạo ra nhiều thách thức lớn về các mặt

kinh tế, xã hội, con người và đặc biệt là vấn đề nghèo đói tại Việt Nam.
Dân số đông gây sức ép đến vấn đề y tế, giáo dục, nhà ở, thất nghiệp và thiếu
việc làm. Điều đó, khiến cho hàng nghìn người rơi vào tình cảnh nghèo đói. Đói
nghèo là vấn đề tồn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức
độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của từng khu
vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương. Việt Nam là một nước nông nghiệp
với 70% dân số sống ở nông thơn. Với trình độ dân trí, canh tác cịn hạn chế nên
năng suất lao động chưa cao, thu nhập của nơng dân cịn thấp, tình trạng đói nghèo
vẫn diễn ra rộng khắp các khu vực. Vì thế việc nghiên cứu về thực trạng đói nghèo
một cách hệ thống, có khoa học để từ đó làm cơ sở đưa ra các chính sách xóa nghèo
giảm cho từng đối tượng ở từng địa phương một cách hợp lí là vấn đề mang tính cấp
thiết để từng bước đưa Việt Nam thốt khỏi tình trạng đói nghèo, trở thành một
nước phát triển.Và vì tính bức thiết của vấn đề, nhóm chúng em đã quyết định chọn
đề tài “ MỐI QUAN HỆ DÂN SỐ VỚI VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI. THỰC TRẠNG
MỐI QUAN HỆ NÀY Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA”.
2. Phạm vi nghiên cứu.
Về không gian: đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và đói nghèo ở
Việt Nam và thế giới cũng như trong khu vực.
Về thời gian: đề tài nghiên cứu về tình hình dân số và đói nghèo ở Việt Nam từ
năm 1995- 2020. Đây là giai đoạn có biến đơỉ sâu sắc và mạnh mẽ về tình hình kinh
tế - xã hội và những thay đổi rõ nét về quy mô và đặc điểm dân số cũng như tình
hình đói nghèo ở Việt Nam .
4


3. Mục đích nghiên cứu.
Phân tích những số liệu về dân số và sự biến động của dân số, từ đó thấy được sự
tác động qua nhiều khía cạnh kinh tế- xã hội và đặc biệt tập trung vào sự nghèo đói,
thực trạng mối quan hệ này ở nước ta như thế nào?, những mặt tích cực và hạn chế,
những mặt trái của lí thuyết so với thực tiễn. Từ đó tìm ra được ngun nhân và

định hướng sự phát triển dân số của Việt Nam nhằm phát triển cân đối giữa dân số
với phát triển và đói nghèo

4. Phương pháp nghiên cứu.
4.1. Phương phá sưu tầm: đây là một phương pháp quan trọng vì trên cơ sở số liệu
đã sưu tầm trên sách báo, Internet liên quan đến chủ đề, từ đó có thể rút ra được các
đặc điểm của dân số cũng như đánh giá chính xác mối quan hệ giữa dân số và đói
nghèo
4.2. Phương pháp phân tích tổng hợp: trong q trình nghiên, các số liệu cụ thể về
dân số và nghèo đói thu thập được cần được phân tích – tổng hợp để có những cái
nhìn tổng quan về vấn đề đang nghiên cứu.
4.3. Phương pháp bản đồ, biểu đồ: việc sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn
đề được nghiên cứu được cụ thể, trực quan và trực diện hơn
PHẦN NỘI DUNG
I. Mối quan hệ giữa dân số và nghèo đói.
1. Khái niệm dân số và nghèo đói.
1.1.
Dân số và sự gia tăng dân số.
Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một
không gian nhất định, thường được đo lường bằng cuộc điều tra dân số và biểu hiện
bằng tháp dân số.
Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý hay
kinh tế hoặt một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định
Cơ cấu dân số được hình thành dưới tác động của sự thay đổi mức sinh, mức chết
và di dân. Sự phân chia tổng số dân của một nước hay một vùng thành các nhóm,
các bộ phận theo một tiêu thức đặc trưng nhất định gọi là cơ cấu dân số.
Sự gia tăng dân số là sự thay đổi trong dân số theo thời gian, và có thể được định
lượng như sự thay đổi trong số lượng của các cá thể của bất kỳ giống lồi nào sử
dụng cách tính tốn "trên đơn vị thời gian".
1.2.

Biến đổi dân số và nguyên nhân của biến đổi dân số.
Biến đổi dân số là sự biến đổi trong từng nhóm tuổi trong từng thời kỳ tại một
quốc gia. Trong nữa thế kỷ qua, dân số và cấu trúc tuổi dân số ở nhiều nước trên thế
5


giới đã có sự biến đổi mạnh mẽ và sự biến đổi này có những tác động mạnh mẽ tới
phát triển kinh tế xã hội nói chung và đói nghèo ở mỗi quốc gia nói riêng.
Sự biến đổi dân số phụ thuộc vào
 Mức sinh: Là một nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng dân số, mức
sinh là thông tin đầu vào cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách về
dân số và phát triển. Mức sinh chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sinh học, kinh
tế, văn hóa, xã hội, y tế và mơi trường.
 Mức tử: Tỷ suất chết thơ được tính bằng số người chết đi trên tổng số dân
trung bình cùng thời điểm đó. Tỷ suất chết thơ ở mỗi quốc gia là khác nhau.
Theo nghiên cứu CDR theo các vùng địa lý-kinh tế cho thấy đã xuất hiện
khá rõ tác động của cơ cấu dân số theo độ tuổi lên tỷ suất chết thơ.
 Q trình biến đổi dân số tự nhiên, biến đổi dân số cơ học
 Tỷ lệ giới tính: Là thương số giữa nam và nữ, nếu xét trên phạm vi rộng tỷ
lệ này xấp xỉ này thường là 1:1
 Tỷ lệ và cơ cấu của tháp tuổi: Ở mỗi quốc gia sẽ có cơ cấu dân số khác
nhau. Gồm cơ cấu dân số già, cơ cấu dân số trẻ và thời kỳ vàng của dân số.
Ở mỗi loại hình cơ cấu sẽ có những thuận lợi và khó khăn riêng cho việc
phát triển kinh tế- xã hội của một đất nước.
Ở Việt Nam, sau khi chiến tranh kết thúc, quá trình dân số đã trải qua giai đoạn
bùng nổ với tỷ suất sinh tăng đột biến gắn liền với tỷ suất chết giảm mạnh. Tuy
nhiên, ngay sau việc ban hành và thực thi quyết liệt về chính sách dân số mà trọng
tâm là nỗ lực giảm tỷ suất sinh, nâng cao chất lượng dân số cùng với sự ổn định về
chính trị, xã hội đã làm cho cả tỷ suất sinh và tỷ suất chết đều giảm mạnh, dân số
Việt Nam có những biến đổi rõ rệt. Tỷ lệ trẻ em giảm, tuổi thọ và dân số cao tuổi

tăng dần và đặc biệt là sự tăng lên mạnh mẽ của dân số trong tuổi lao động.
1.3.
Nghèo đói và các chỉ tiêu đánh giá sự nghèo đói.
1.3.1. Khái niệm nghèo đói.
Ngày nay có những quan điểm khác nhau về nghèo đói, được nhiều nước trên thế
giới dùng. Tuy nhiên có một khái niệm chung được nhiều quốc gia thừa nhận trong
đó có Việt Nam là: “nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư khơng được hưởng
và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội
thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của
từng địa phương.”
Ở mỗi quốc gia thì tình trạng nghèo đói cũng khác nhau về mức độ và số lượng,
nó được thay đổi theo khơng gian và thời gian, ở quốc gia này với mức thu nhập
như thế thì chưa được xem là nghèo đói nhưng ở quốc gia khác thì với mức thu
nhập tương tự vẫn chưa được xem là nghèo đói. Vì vậy để đánh giá đúng mức độ
của nghèo đói, thế giới dùng khái niệm “nghèo khổ” và được nhận định theo 4 khía
cạnh: về thời gian, về không gian, về giới và về môi trường.
6


Qua việc phân tích 4 khía cạnh của nghèo khổ, nhiều nước cịn phân chia nghèo
đói thành hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con
người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia. Người nghèo thường khơng có điều kiện
tiếp cận các dịch vụ xã hội như việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thơng tin,
v.v…và điều đó khiến cho họ ít có cơ hội thoát nghèo. Do vậy, mở rộng cơ hội lựa
chọn và nâng cao năng lực cho người nghèo là phương thức tốt nhất để giảm nghèo
bền vững.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự nghèo đói.
Để đánh giá sự nghèo đói của các nước trên thế giới người thường sử dụng chỉ
tiêu chính là thu nhập quốc dân bình qn đầu người (GDP). Nhưng do hiện nay,

giữa các nước có sự phân cách về giàu nghèo cành rõ rệt. Như vậy, ở những nước
này, những hộ giàu chiếm phần lớn của cải của người dân. Do vậy mà chỉ đánh giá
nghèo đói qua chỉ tiêu GDP là chưa đủ và từ đó tổ chức hội đồng phát triển hải
ngoại (ODC) đã chỉ ra chỉ số chất lượng cuộc sống để đánh giá bao gồm ba chỉ tiêu
cơ bản sau:
 Tuổi thọ
 Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh
 Tỷ lệ xóa mù chữ
Trong những năm gần đây, UNDP đã thêm chỉ số phát triển con người FDI, bao
gồm ba chỉ tiêu sau:
 Tuổi tác
 Tình trạng biết chữ của người lớn
 Thu nhập
Để đánh giá nước giàu và nước nghèo của các quốc gia thì người ta vẫn căn cứ
vào GDP là chính.
Về hộ nghèo: giới hạn về nghèo đói được biểu hiện dưới dạng thu nhập quốc dân
bình quân tính theo đầu người, nếu nằm dưới giới hạn ghèo thì hộ đó được coi là hộ
nghèo.
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu
thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng
những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới
mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây chính là chuẩn nghèo
đơn chiều do Chính phủ quy định.
Tuy nhiên trong những năm gần đây ở Việt Nam có hai phương pháp chủ yếu để
đo lường nghèo. Phương pháp thứ nhất do Bộ Lao động, Thương binh và Các Vấn
đề Xã hội (gọi tắt là phương pháp MOLISA) áp dụng nhằm đưa ra cách phân loại để
xác định những đối tượng được thụ hưởng trong các chương trình giảm nghèo của
cả nước cũng như để theo dõi tình trạng nghèo trong ngắn hạn. Một phương pháp
7



riêng biệt khác được Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới (gọi tắt là phương
pháp GSO-WB) áp dụng chủ yếu để tìm hiểu về những thay đổi tình trạng nghèo
trong dài hạn. việc áp dụng các phương pháp khác nhau để theo dõi thay đổi tình
trạng nghèo và để định hướng các chương trình của chính phủ cũng là hình thức phổ
biến trên thế giới.
1.3.3. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói.
Những ngun nhân chính đẫn đến nghèo được liệt kê ra là chiến tranh, cơ cấu
chính trị, cơ cấu kinh tế, thất bại quốc gia, tụt hậu về cơng nghệ dẫn đến khó phát
triển kinh tế, tụt hậu về giáo dục, thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển q nhanh
khơng thể kiểm sốt được và khơng có bình đẳng nam nữ.
Yếu tố nguy hiểm chính cho sự nghèo đói tương đối là thất nghiệp và thiếu việc
làm. Ngồi ra cịn những yếu tố khác như phân bổ thu nhập quá mất cân bằng, thiếu
giáo dục.
2. Mối quan hệ giữa dân số và đói nghèo.
2.1.
Mối quan hệ giữa dân số và đói nghèo.
Có hai quan điểm trái ngược nhau về mối quan hệ giữa gia tăng dân số và nghèo
đói:
- Một số người tin rằng mức sinh cao gây ra đói nghèo và mức sinh thấp hơn
là chìa khóa để giảm nghèo (chủ nghĩa tân Malthus). Họ lập luận cho rằng
do tỷ lệ sinh cao tạo ra một lượng lớn trẻ em so với số lượng người lớn đang
đi làm, các khoản tiết kiệm có thể được đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát
triển của đất nước thay vào đó phải được chuyển hướng sang đáp ứng nhu
cầu thực phẩm, chăm sóc sức khỏe, nhà ở và giá dục cho trẻ em và thanh
thiếu niên. Điều này ngăn cản quốc gia và các gia đình thực hiện các khoản
đầu tư dài hạn cần thiết để giúp họ thốt khỏi nghèo đói.
- Những người khác lại tin rằng: khi lao dân số đơng chính là một nguồn lao
động dồi dào, điều này tác động mạnh tới nền kinh tế. Người nghèo thường
muốn có thêm con vì con cái đại diện cho sự giàu có, cung cấp sức lao động

trong gia đình và là hình thức an sinh xã hội duy nhất dành cho các bậc cha
mẹ khi về già.
2.2.
Tác động qua lại của dân số và nghèo đói và chiều tác động ngược
lại.
2.2.1. Tác động của dân số đến nghèo đói.
Các lập luận kinh tế đơn giản sẽ cho thấy rằng sự tăng trưởng dân số quá nhanh
làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói:
-

Ở các quốc gia nghèo đông dân cư với áp lực về đất đai, tăng trưởng dân số
làm tăng tình trạng thiếu đất sinh sống và canh tác dẫn đến tỷ lệ đói nghèo
tăng.
8


-

-

Dân số tăng được cho là có tác động tiêu cực đáng kể đến tăng trưởng thu
nhập và chi tiêu của người dân. Làm giảm cơ hội kiếm thu nhập, cùng với
số lượng trẻ em tăng lên, các hộ gia đình phải cắt giảm chi tiêu - trong một
số trường hợp, họ thậm chí có thể phải bắt trẻ em bỏ học và đưa chúng đi
làm. Điều này có xu hướng làm gia tăng nghèo đói, kìm hãm chất lượng của
lao động, làm giảm tiền lương và làm giảm đi sự phân phối thu nhập.
Tác động bất lợi đến sức khỏe trẻ em và giáo dục, làm gia tăng tình trạng
nghèo đói trong thế hệ tiếp theo. Quy mơ gia đình lớn kìm hãm sự phát triển
thể chất của trẻ em, có thể thơng qua việc chăm sóc thai sản chất lượng thấp
hơn và chế độ dinh dưỡng kém hơn.


Có ba kênh chính mà qua đó dân số ảnh hưởng đến đói nghèo đó là: kênh tăng
trưởng, kênh phân phối và kênh chuyển đổi:
-

Kênh tăng trưởng đề cập đến tác động của các biến nhân khẩu học đối với
mức độ hoặc mức độ tăng trưởng phúc lợi có thể đạt được trên mỗi người.
Kênh phân phối đề cập đến tác động làm thay đổi phân phối thu nhập dựa
trên phúc lợi có thể đạt được trên mỗi người.
Kênh chuyển đổi đề cập đến những thay đổi về sức khỏe thực tế hoặc khả
năng do phúc lợi có thể đạt được cho mỗi người.
2.2.2. Tác động của nghèo đói đến dân số.

Nghèo đói ảnh hưởng đến dân số ở các nước đang phát triển thông qua các yếu
tố về mức sinh, tỉ lệ tử vong, tuổi thọ và di dân:
-

-

-

Nghèo đói có thể gây ra mức sinh cao - tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh cao, đặc
biệt là gia tăng tình trạng phụ nữ thiếu giáo dục, thu nhập gia đình q ít để
đầu tư cho con cái, tỷ trọng thu nhập quốc dân khơng bình đẳng và khơng
thể tiếp cận kế hoạch hóa gia đình.
Về mặt tuổi thọ, nghèo đói khiến cho người dân khó tiếp cận được vấn đề
lương thực và y tế diều này làm tăng tỉ lệ tử vong do đó làm giảm tuổi thọ
trung bình của quốc gia.
Kinh nghiệm ở Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan, Colombia, Hàn Quốc, Sri
Lanka, Cuba và Costa Rica cho thấy tỷ lệ sinh có thể giảm nhanh chóng ở

các nhóm và quốc gia có thu nhập thấp khi các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
cơ bản, giáo dục và các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình miễn phí hoặc chi phí
thấp được thực hiện rộng rãi có sẵn.
2.2.3. Tác động qua lại của dân số với phát triển kinh tế bền vững.

DÂN SỐ

SẢN XUẤT

Kết cấu
Kích thước
Phân bố.

Sản xuất
Thuê người làm

SỰ PHÁT TRIỂN
- Hàng Hóa và
Dịch vụ


S


Hình: khung dân số và phát triển bền vững.
Nhiều nhà nhân khẩu học kinh tế đã xây dựng mơ hình và đưa ra học thuyết và
được nhiều nước ứng dụng (các nhà nhân khẩu học Ấn Ðộ đã đưa vào giáo trình
giảng dạy chính thức về dân số học). Theo học thuyết này, giữa tốc độ tăng trưởng
kinh tế và tốc độ phát triển dân số có mối tương quan chặt chẽ tỷ lệ nghịch, "Ðể bảo
đảm ổn định kinh tế - xã hội như hiện tại, nếu tốc độ phát triển dân số là 1% thì tốc

độ tăng trưởng kinh tế tương đương phải là 4%".
Như vậy, theo mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế - xã hội, mỗi quốc gia phải
xác định và khống chế tốc độ tăng dân số ở mức hợp lý để bảo đảm cho việc phát
triển kinh tế bảo đảm có khả năng tích lũy. Chúng ta thấy rõ rằng, đồng thời với
tăng trưởng kinh tế và giảm được tỷ lệ phát triển dân số thì mới cho hiệu quả
dương, tức tăng về đời sống nhân dân. Từ đó có thể thấy rõ mối quan hệ khăng khít
giữa tỷ lệ tăng dân số và tăng trưởng kinh tế phát triển xã hội.

10


3. Tình trạng đói nghèo và phát triển ở một số nước trên thế giới.

Ở một nước đang phát triển, nghèo đói là yếu tố chính làm biến dạng chuyển
đổi dân số để đáp ứng với lượng lương thực. Tầm quan trọng của nhiệm vụ này có
thể dễ dàng nhận thấy, nếu chúng ta xem xét một số các khía cạnh cơ bản của nghèo
đói [Ngân hàng Thế giới (1998)]:
 Gần 3 tỷ người hoặc một nửa tổng dân số thế giới là người nghèo và sống
bằng ít hơn 2$ một ngày.
 Khoảng 40% trong số này hoặc 1,2 tỷ người cực kỳ nghèo và khó để tồn
tại với ít hơn 1$ một ngày.
Năm 2018, khu vực ASEAN có tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao hơn tỷ lệ nghèo

chung với 18,0% người dân nông thôn sống dưới mức nghèo. Trong đó, Myanmar
là quốc gia có tỷ lệ nghèo nơng thôn cao nhất với 30,2% vào năm 2017. Tiếp đến ở
Lào và Philippines là khoảng 24% năm 2018.
11


4. Nghịch lý giữa phát triển kinh tế và nghèo đói

Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần, song khơng phải là điều kiện đủ để giảm
nghèo.
-

Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để giảm đói nghèo, phải có tăng trưởng
kinh tế, nhất là tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và dài hạn thì Nhà nước
mới có sức mạnh vật chất để thực hiện các chương trình giảm nghèo

-

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số những quốc gia có mức tăng trưởng kinh
tế và thu nhập bình quân đầu người cao hơn, nhưng kết quả giảm nghèo lại
kém hiệu quả hơn. Ngược lại, có những quốc gia thu nhập bình quân đầu
người thấp hơn, nhưng thành tựu giảm nghèo lại tốt hơn.

Giảm nghèo có tác động trở lại đối với tăng trưởng kinh tế. Nó có thể thúc đẩy
hoặc cản trở tăng trưởng kinh tế.
- Giảm nghèo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng các chính sách cho người
nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, đào tạo nghề cho người nghèo, phát triển
kết cấu hạ tầng cho vùng nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tham gia vào
các hoạt động kinh tế... góp phần làm tăng năng lực sản xuất, tăng cơ hội
việc làm cho người nghèo, vùng nghèo, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Giảm nghèo còn giúp ổn định xã hội, tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững.
- Tuy nhiên, nếu thực hiện giảm nghèo khơng đúng cách có thể cản trở tăng
trưởng kinh tế. Nếu Chính phủ quá chú trọng vào các biện pháp hỗ trợ cho
người nghèo, vùng nghèo mà không đi cùng với nâng cao năng lực sản xuất
cho người nghèo, vùng nghèo, nâng cao lòng tự trọng, tự lực, ý chí thốt
nghèo... thì có thể làm tăng sự ỷ lại của người nghèo vào Chính phủ, làm
mất động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

II. Thực trạng mối quan hệ này ở Việt Nam.
1. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế, Việt Nam thừa nhận
định nghĩa chung về đói nghèo.
1.1. Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo quốc tế.
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống
kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức
sống của người dân. Đường đói nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương
thực, thực phẩm. Đường đói nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo
chung (bao gồm cả mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm).
Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu hết
các nước đang phát triển cũng như: Tổ chức Y tế Thế giới và các cơ quan khác đã
12


xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu
cầu 2.100 Kcal/người/ngày. Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các
mặt hàng phi lương thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về
lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung.
1.2. Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo.
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan
tháng 9/1993: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư khơng được hưởng và thỏa
mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa
nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa
phương.”
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo
đói, song ý kiến chung nhất cho rằng, ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành
2 khái niệm riêng biệt.
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp

hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc
sống. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng,
thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong
nhà không đáng kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới
13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000VND).
Phương pháp xác định chuẩn đói nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo
quốc gia Căn cứ vào quy mơ và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính
2001-2005 và mức sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ Lao động, Thương
binh và Xã hội Việt Nam đưa ra hai phương pháp chủ yếu để đo lường nghèo đói.
Phương pháp thứ nhất do Bộ Lao động, Thương binh và Các Vấn đề Xã hội (gọi tắt
là phương pháp MOLISA) áp dụng nhằm đưa ra cách phân loại để xác định những
đối tượng được thụ hưởng trong các chương trình giảm nghèo của cả nước cũng
như để theo dõi tình trạng nghèo trong ngắn hạn. Một phương pháp riêng biệt khác
được Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới (gọi tắt là phương pháp GSO-WB)
áp dụng chủ yếu để tìm hiểu về những thay đổi tình trạng nghèo trong dài hạn. việc
áp dụng các phương pháp khác nhau để theo dõi thay đổi tình trạng nghèo và để
định hướng các chương trình của chính phủ cũng là hình thức phổ biến trên thế giới.

13


2. Thực trạng hiện nay của nước ta.
2.1. Thực trạng về biến đổi dân số của nước qua trong thời gian qua.
Dân số Việt Nam hiện nay ước tính khoảng hơn 95 triệu người. Việt Nam là nước
đông dân đứng thứ 13 trên thế giới, đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á. Thời
kỳ 2011-2013, tốc đô – gia tăng dân số bình quân năm tuy đã giảm nhưng vẫn ở mức
cao là 1,05%. Với quy mô dân số lớn, đà tăng dân số cao, dân số nước ta sẽ còn tiếp
tục tăng đến giữa thế kỷ XXI với hơn 100 triê u– người và sẽ vào nhóm 10 nước có

dân số lớn thứ nhất thế giới. Sau 10 năm, tỷ suất sinh đã giảm mạnh từ 2,3 con
xuống dưới mức sinh thay thế (2 con/phụ nữ).
Chất lượng dân số Việt Nam, nhìn chung là thấp. Mặc dù dân số nước ta khá trẻ,
tỷ lệ người biết chữ và tuổi thọ cao, nhưng tỷ lệ suy sinh dưỡng ở trẻ sơ sinh cao,
dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai thiếu, chênh lệch mức sống giữa các nhóm dân cư
lớn, chất lượng lực lượng lao động thấp, đời sống người già chưa được bảo đảm,
chất lượng sống của người dân cịn thấp và có sự chênh lệch giữa các vùng ... Chỉ số
phát triển con người của Việt Nam mới đứng thứ 109 trong số 177 nước được so
sánh.
Hình 1. Biểu đồ dân số Việt Nam qua các năm 1950-2020

14


Hình2. Biểu đồ tốc độ gia tăng dân số Việt Nam 1951-2020.

Năm 2017 theo ước tính, Việt Nam có phân bổ các độ tuổi như sau:
25,2%

Dưới 15 tuổi

69,3%

5,5
%

Từ 15 đến 64 tuổi

Trên 64 tuổi


2.2. Thực trạng về đói nghèo của nước ta trong thời gian qua.
Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào năm
2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên 177 nước, chỉ số
phát triển giới xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp xếp hạng 41 trên 95
nước.
Việt Nam được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới. Tỷ lệ hộ đói nghèo
của Việt Nam cịn khá cao. Theo kết quả Điều tra mức sống dân cư (theo chuẩn
nghèo chung của quốc tế), tỷ lệ đói nghèo năm 1998 là trên 37% và ước tính năm
2000 tỷ lệ này vào khoảng 32% (giảm khoảng 1/2 tỷ lệ hộ nghèo so với năm 1990).
Nếu tính theo chuẩn đói nghèo về lương thực, thực phẩm năm 1998 là 15% và ước
tính năm 2000 là 13%. Theo chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo
quốc gia mới, đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ
15


trong cả nước. Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia
giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016- 2020, đến cuối năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo cả
nước cịn 3,75%; trong 4 năm, có 58% số hộ nghèo đã thoát nghèo. Uớc đến cuối
năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn khoảng 2,75%. Như vậy sau 5 năm, tỷ
lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm khoảng 1,43%/năm, đạt chỉ tiêu Quốc hội giao.
Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên về đích trước Mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên
hợp quốc về giảm nghèo.
Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh. Mặc dù Việt
Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ nghèo, tuy nhiên
cũng cần phải thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong manh. Thu nhập
của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ cần những
điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng
tỷ lệ nghèo. Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp. Với điều kiện
nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những người nghèo rất
bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng.

Nhiều hộ gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo, nhưng vẫn giáp ranh với
ngưỡng nghèo đói, do vậy, khi có những dao động về thu nhập cũng có thể khiến họ
trượt xuống ngưỡng nghèo.
Mặc dù chỉ số nghèo đói có cải thiện, nhưng mức cải thiện ở nhóm người nghèo
chậm hơn so với mức chung và đặc biệt so với nhóm người có mức sống cao. Hệ số
chênh lệch mức sống giữa thành thị và nơng thơn cịn rất cao.
Nghèo đói tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn. Đa số người nghèo
sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên
khắc nghiệt như ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng Đồng bằng sông
Cửu Long, miền Trung, do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán...) khiến cho
các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn. Đặc biệt, sự
kém phát triển về hạ tầng cơ sở của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng
bị tách biệt với các vùng khác.
Có sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt giữa các khu vực nông thôn và thành thị, giữa
các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính đang tồn tại với khoảng cách tương
đối lớn, có xu hướng tăng. Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư khá rõ nét, hộ
nghèo ít có cơ hội tiếp cận đối với giáo dục, y tế, việc làm và các hoạt động văn
hóa, tinh thần,… so với các hộ giàu.
Đói nghèo tập trung trong khu vực nơng thơn. Nghèo đói là một hiện tượng phổ
biến ở nơng thôn với trên 90% số người nghèo sinh sống ở nơng thơn. Trên 80% số
người nghèo là nơng dân, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận các nguồn lực
trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ...), thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều
khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm kém, chủng loại sản phẩm
nghèo nàn. Những người nông dân nghèo thường khơng có điều kiện tiếp cận với hệ
16


thống thơng tin, khó có khả năng chuyển đổi việc làm sang các ngành phi nông
nghiệp. Phụ nữ nông dân ở vùng sâu, vùng xa, nhất là phụ nữ độc thân, phụ nữ cao
tuổi là những nhóm nghèo dễ bị tổn thương nhất. Phụ nữ nghèo lao động nhiều thời

gian hơn, nhưng thu nhập ít hơn, họ ít có quyền quyết định trong gia đình và cộng
đồng do đó có ít cơ hội tiếp cận các nguồn lực và lợi ích do chính sách mang lại.
Sự phân bổ hộ nghèo giữa các vùng, các miền là không đều. Năm 2005 mặc dù tỷ
lệ hộ nghèo trên toàn quốc giảm xuống chỉ còn 7% nhưng sự chênh lệch về số hộ
nghèo giữa các vùng là rất lớn, cụ thể là tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Đông Nam Bộ là
1,7% trong khi số hộ nghèo ở vùng Tây Bắc chiếm đến 12% tổng số hộ nghèo trong
cả nước. Người dân chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các thiết
chế phịng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như thiên tai, dịch bệnh, sâu hại, tai
nạn giao thông, tai nạn lao động, thất nghiệp
Trong những năm gần đây nhờ thực hiện hiệu quả các chính sách của đảng và nhà
nước. Tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm cịn 27,85%, bình qn trong 4 năm
giảm 5,65%/năm, vượt chỉ tiêu Quốc hội giao giảm bình quân 4%/năm; ước
cuốinăm 2020, tỷ lệ hộ nghèo bình quân các huyện nghèo còn khoảng 24%. tuy
nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo
giảm khơng phản ánh thực chất vì số người nghèo trong xã hội khơng giảm, thậm
chí cịn tăng do tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo
đến nay) và do là suy giảm kinh tế.
Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tế
toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách
thức đối với sự nghiệp giảm nghèo. Ở khu vực nông thôn tỷ lệ đói nghèo giảm
chậm hơn thành thị nhưng tương đối ổn định từ 45,5% năm 1998 xuống 35,6% năm
2002 còn 27,5% năm 2004. Khu vực đồng bào dân tộc tốc độ giảm nghèo chậm và
còn rất cao, từ 75,2% xuống 69,3%.
3. Nguyên nhân, hậu quả và đề xuất cần có của Việt Nam.
3.1. Nguyên nhân.
Những nguyên nhân chính dẫn đến nghèo được liệt kê ra là chiến tranh, cơ cấu
chính trị (thí dụ như chế độ độc tài, các quy định thương mại quốc tế không công
bằng), cơ cấu kinh tế (phân bố thu nhập không cân bằng, tham nhũng, nợ cơng q
nhiều, nền kinh tế khơng có hiệu quả, thiếu những nguồn lực có thể trả tiền được),
thất bại quốc gia, tụt hậu về cơng nghệ dẫn đến khó phát triển kinh tế, tụt hậu

về giáo dục, thiên tai, dịch bệnh, dân số phát triển quá nhanh không thể kiểm sốt
được và khơng có bình đẳng nam nữ.

17


Yếu tố nguy hiểm chính cho sự nghèo tương đối là thất nghiệp và thiếu việc làm.
Ngoài ra những yếu tố nguy hiểm khác là phân bố thu nhập quá mất cân bằng, thiếu
giáo dục và bệnh tật mãn tính.
Cho đến thế kỷ 19 sự nghèo đói phần lớn khơng được xem như là có nguyên
nhân từ xã hội mà là do lỗi lầm cá nhân hay "trời muốn". Cùng với cơng nghiệp
hóa và các tranh cãi chung quanh "câu hỏi xã hội" tại châu Âu, quan điểm cho rằng
hiện tượng nghèo khổ phổ biến là kết quả của sự thất bại của thị trường và có thể
được làm giảm thiểu bằng các biện pháp quốc gia.
Quy mô dân số lớn và tiếp tục gia tăng, dân số phân bố không đồng đều giữa các
vùng lãnh thổ tiếp tục đặt ra những thách thức lớn cho sự phát triển bền vững của
đất nước trong q trình cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa. Sự gia tăng dân số dẫn tới
suy thối mơi trường, khơng có nước sạch, khơng khí trong lành và phương tiê n– vê –
sinh, dẫn đến bênh
– tât–và giảm tuổi thọ, trẻ em bị suy dinh dưỡng, khơng được đi
học, nhiều người rơi vào cảnh nghèo đói và chết vì các bệnh hiểm nghèo như
HIV/AIDS. Ngồi ra, sự gia tăng dân số dẫn đến tăng số người khơng có viê c– làm,
gây nhiều sức ép về kinh tế, xã hơ i–, mơi trường.
3.2. Hậu quả của đói nghèo.
Tỷ lệ tội phạm ở các nước đang phát triển hoặc nơi có nhiều nghèo đói là khá
cao. Một lãnh thổ nơi nhu cầu về các dịch vụ cơ bản để sinh sống là cấp bách,
thường phải chịu các hành vi tội phạm, khủng bố, buôn bán ma túy, mafias, v.v…
Các gia đình bị ảnh hưởng bởi nghèo đói khơng có thực phẩm cơ bản trong giỏ
thực phẩm của họ để đáp ứng nhu cầu của họ, dẫn đến suy dinh dưỡng của nhóm
các cá nhân. Nhiều người hạn chế chỉ ăn một hoặc hai bữa mỗi ngày, điều này dẫn

đến sự kém phát triển ở trẻ em, thiếu hụt IQ và các bệnh khác. Ngoài ra, việc thiếu
nước sạch hoặc nước uống là yếu tố gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe.
Con người sống trong nghèo đói cho thấy mọi người dễ mắc bệnh hơn rất nhiều.
-

Đầu tiên, vì thiếu dinh dưỡng cần thiết.
Tiếp theo là môi trường nơi chúng tồn tại, mơi trường khơng khí, nước hay
đất ơ nhiễm nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của con người.
gây ra các bệnh nguy hiểm như ung thư, tim mạch,…
Ngoài việc thiếu các nguồn lực kinh tế người nghèo ít đến các trung tâm
chăm sóc sức khỏe hơn nơi mà ở một số các quốc gia nó khơng miễn phí.

Nghèo đói tự nó tạo ra sự khác biệt xã hội mạnh mẽ trong dân số,gây ra sự mất
cân bằng trong xã hội. Vì khơng phải tất cả các cá nhân đều có khả năng giống nhau
để truy cập các sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể và có cùng chất lượng cuộc sống.

18


3.3. Các đề xuất cụ thể của Việt Nam để giải quyết vấn đề hạn chế về mối quan
hệ giữa dân số và nghèo đói ở nước ta.

Quỹ Tiền tệ quốc tế trong báo cáo thường niên năm 2003 đã nêu: “Quản lý kinh
tế vĩ mô thông minh đã tạo ra một mơi trường tích cực cho việc tăng trưởng, đồng
thời việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và tăng cường hội nhập vào nền
kinh tế toàn cầu là một yếu tố then chốt cho q trình xóa đói, giảm nghèo ở Việt
Nam”. Một số biện pháp xóa đói, giảm nghèo thơng qua chiến lược về dân số. Ðể
hoàn thành một số mục tiêu về dân số của nước ta cần thực hiện các mục tiêu cơ
bản sau:
- Thơng qua các chương trình mục tiêu quốc gia, thực hiện linh hoạt các cơ

chế, chính sách trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân cơng bằng và hiệu quả trong
điều kiện cơ chế thị trường và tiếp tục giảm sức ép của sự gia tăng dân số, nhằm tạo
cơ hội thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, thúc đẩy kinh tế phát triển, đặc biệt là áp
dụng các chính sách phát triển kinh tế, xã hội ở vùng nơng thơn, vùng sâu, vùng xa.
- Tiến hành hồn chỉnh hệ thống luật pháp nhằm tạo môi trường kinh doanh
lành mạnh, thu hẹp khoảng cách phân hóa giàu nghèo, từ đó thực hiện chương trình
xóa đói, giảm nghèo có hiệu quả cao.
- Chiến lược dân số Việt Nam 2001 - 2010, Chiến lược gia đình Việt Nam,
Chiến lược tồn diện về tăng trưởng và giảm nghèo, Chương trình quốc gia xóa đói,
giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 - 2005, Chương trình 135….
Tiến hành hồn chỉnh hệ thống luật pháp nhằm tạo môi trường kinh doanh lành
mạnh, thu hẹp khoảng cách phân hóa giàu nghèo, từ đó thực hiện chương trình xóa
đói, giảm nghèo có hiệu quả cao.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các Chương
trình Mục tiêu Quốc gia ở các cấp. Huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để cùng

19


theo dõi, giám sát quá trình triển khai thực hiện để đảm bảo thực hiện thắng lợi các
mục tiêu của các Chương trình đề ra.
Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong dân số. Dựa vào các phương pháp tính
tốn dự báo về dân số và tỷ lệ người nghèo ở Việt Nam, vào năm 2010 sẽ có khoảng
37% số người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, trong khi
tổng số người thuộc dân tộc thiểu số chỉ chiếm 13% số dân toàn quốc; 49% số
người có mức chi tiêu dưới ngưỡng nghèo sẽ vẫn là đồng bào dân tộc thiểu số. Với
cơ cấu phân hóa thành thị nơng thơn hiện nay ở Việt Nam là 20% số dân sống ở thị
thành và 80% số dân sống ở nông thôn và các vùng hẻo lánh, đời sống, mức thu
nhập và cơ hội có nhiều việc làm chất lượng cao của người dân rất khác nhau, dẫn

đến sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng.

KẾT LUẬN
Có thể nói trong 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế, chính sách phù hợp với
thực tiễn mà VN đã đạt được nhiều thành tựu trong cơng cuộc xóa đói giảm nghèo,
tỷ lệ người nghèo đã giảm mạnh, vị trí của Việt Nam hiện nằm trong khu vực có nền
kinh tế năng động và có mức tăng trưởng cao. Điều này có ý nghĩa to lớn cả về kinh
tế, chính trị, xã hội và an ninh- quốc phòng, phát triển được những bản chất tốt đẹp
của dân tộc và góp phần quan trọng trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước bền
vững.
Tuy nhiên trong cơng cuộc xóa đói cịn nhiều hạn chế. Trong những năm gần đây
tuy tỷ lê hộ nghèo đã giảm nhanh nhưng kết quả giảm nghèo chưa bền vững, số hộ
thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát tiên chuẩn nghèo rất lớn (70-80%), tỷ lệ
tái nghèo còn cao, chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được
thu hẹp, đặc biệt là ở những huyện, xã, có tỷ lệ hộ nghèo cao. Các chương trình xóa
đói giảm nghèo triển khai trong thời gian chưa tồn diện, nhiều chính sách, chương
trình giảm nghèo đã được ban hành nhưng cịn mang tính ngắn hạn, chồng chéo,
chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép tập trung vào mục tiêu giảm nghèo.
Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân vẫn còn nhiều hạn chế. Vì
vậy, thời gian tới, Đảng và Nhà nước ta nhất quán quan điểm phát triển kinh tế gắn
với xã hội, mơi trường, trong đó ln chú trọng giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã
hội. Đặc biệt vấn đề quan hệ giữa dân số và nghèo đói.

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Nguồn: />2) />4)
5)

6)

nhieu-nguoi-den-va-di-181.html.
/> /> /> />
21



×