Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

Bài tập lớn CS TNXH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.34 MB, 17 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

Bài tập lớn kết thúc học phần:

CƠ SỞ KHOA HỌC TỰ NHIÊN XÃ HỘI

Họ và tên:
MSSV:
Lớp:

Đồng Tháp, 01/2022

1


PHẦN MỞ ĐẦU

Tự nhiên và Xã hội là môn học bắt buộc ở tiểu học được xây dựng dựa trên nền
tảng khoa học cơ bản, ban đầu về tự nhiên và xã hội. Môn học cung cấp cơ sở quan
trọng cho việc học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Ðịa lí ở lớp 4, lớp 5 của cấp tiểu
học và các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở các cấp học trên.
Môn Tự nhiên và Xã hội hình thành và phát triển ở học sinh năng lực khoa học,
bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học, tìm hiểu mơi trường tự nhiên và xã hội
xung quanh, vận dụng kiến thức, kĩ nãng đã học; đồng thời góp phần cùng các mơn
học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh tình u con
người, thiên nhiên; đức tính chăm chỉ; ý thức bảo vệ sức khoẻ của bản thân, gia đình,
cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi
trường sống và các nãng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và
hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo).


2


NỘI DUNG
I.

Vai trò, mục tiêu và nhiệm vụ của trường tiểu học:
1. Vai trò của trường tiều học:
Trường tiểu học là tổ chức thứ hai, sau gia đình mà trẻ được tiếp xúc. Trong
trường có tổ chức, có chức năng, nhiệm vụ và nội quy riêng mà mọi thành viên trong
nhà trường phải tn theo. Nhà trường cịn có vai trị lớn trong việc hình thành nhân
cách cho học sinh, trang bị cho các em những kiến thức cơ bản, rèn luyện những kỹ
năng học tập, phương pháp tư duy và phát triển trí tuệ; giúp các em có những thái độ,
tình cảm và cách ứng xử đúng đắn trước những vấn đề xảy ra trong cuộc sống hàng
ngày. Bên cạnh nhiệm vụ chính là dạy và học, nhà trường cịn đóng vai trị quan trọng
trong việc giáo dục, đào tạo một nền học vấn phổ thông cho học sinh, đưa học sinh
tham gia các hoạt động tập thể nội và ngoại khoá (văn nghệ, thể thao, tham quan, cắm
trại, sinh hoạt Đội Thiếu niên...).
Mục tiêu của trường tiểu học:
Điều 27 của Luật Giáo dục năm 2005 đã ghi rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển tồn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và
các kỹ năng cơ bản, nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học
lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quôc. Giáo dục
tiếu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng
đắn và lâu đài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để học
sinh tiếp tục học trung học cơ sở... ”.
Về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông, Điều 28 của Luật Giáo dục năm
2005 ghi rõ: “Nội dung giáo dục phổ thơng phải đảm bảo tính phổ thơng, cơ bản,
tồn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm

sinh lí lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giảo dục ở mỗi cấp học. Giáo dục tiểu
học phải đảm bảo học sinh có hiếu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội, con
người; có kĩ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính tốn; có thói quen rèn luyện
thân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mĩ thuật... ”.
2.

Nhiệm vụ của trường tiểu học:
Điều 3 của Điều lệ trường tiểu học (Ban hành kèm theo Văn bản hợp nhất số
03/VBHN-BGDĐT ngày 22/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), ghi rõ 9
nhiệm vụ của trường tiểu học như sau:
“1. Tồ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu,
chương trình giáo dục phổ thơng bậc Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành.
2. Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em đã bỏ
3.

3


học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận
bảo trợ và giúp các cơ qn có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ
sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân cơng của cấp có
thẩm quyền. Tổ chức kiếm tra và cơng nhận hồn thành chương trình tiểu học cho học
sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách.
3. Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào
tạo và nhiệm vụ phát triển giảo dục của địa phương.
4. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục.
5. Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
6. Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy
định của pháp luật.

7.Phổi hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động
giáo dục.
8.Tổ chức cho căn bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sình tham gia các hoạt động
xã hội trong cộng đồng.
9.Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. ”
4. Lớp học:

2.

Lớp học hay phịng học là một căn phịng thường được bố trí trong nhà trường
chuyên sử dụng cho hoạt động giảng dạy và học tập của thầy cô giáo, giảng viên và các
em học sinh. Lớp học là đơn vị cơ bản tại các cơ sở giáo dục bao gồm cả trường công lập,
bán công và tư thục.
Lớp học là một không gian tương đối tách biệt và yên tĩnh, nơi mà việc học tập có
thể diễn ra một cách khơng bị gián đoạn bởi những phiền nhiễu. Có thể nói, lớp học là
một xã hội thu nhỏ. Trong mội trường đó, học sinh tiếp xúc với nhiều hoạt động học tập
khác nhau; các em được kết bạn, làm việc với nhau. Lớp học là nơi mỗi học sinh có thể
thi đua với học sinh khác.
Trong cộng đồng nhỏ của mình, học sinh vui vẻ với nhau và cùng nhau học tập,
hoạt động để thực hiện nhiệm vụ của người học sinh. Ngồi việc tiếp xúc, vui chơi với
bạn, trong lóp học của mình, người mà các em lắng nghe, thực hiện những u cầu, đó là
thầy, cơ giáo. Thầy, cơ giáo là linh hồn của lớp học, là người dẫn lối cho các em chiếm
lĩnh những kiến thức khoa học và rèn luyện thành người. Giữa thầy cô với học sinh, ngồi
mối quan hệ thầy - trị cịn có mối quan hệ tình cảm, vi giáo viên được coi là “Mẹ của em
ở trường, là cô giáo mến thương”.
Điều 17 của Điều lệ trường tiểu học ghi rõ:
“1. Học sinh tổ chức theo lớp học. Lớp học có lớp trưởng, một hoặc hai lớp phó do
tập thế học sinh bấu ra hoặc do giáo viên chủ nhiệm chỉ định. Việc bầu hoặc chỉ định làm
lớp trưởng, lớp phó được thực hiện hàng tháng hoặc 2 — 3 thảng trong năm học theo
quyết định của giáo viên chủ nhiệm. Mỗi lớp học có khơng quả 35 học sinh.

Mỗi lớp học có một giáo viên vừa làm chủ nhiệm, vừa giảng dạy các môn học. Tuỳ theo
điều kiện cụ thể của từng trường, có thể phân cơng giáo viên chun trách đối với các

4


3.

4.

5.

3.

môn Âm Nhạc, . Mĩ thuật, Thể dục.
Mỗi lớp học được chia thành nhiều tổ học sinh. Mỗi tổ có tồ trưởng do học sinh trong tố
bầu ra hoặc do giáo viên chủ nhiệm chỉ định, và được thay đổi định kỳ hàng tháng hoặc
2-3 tháng trong năm học, theo quyết định của giáo viên chủ nhiệm.
Ở những trường có nhiều lớp có thể thành lập khối lớp để phối hợp các hoạt động chung
đối với những lớp cùng trình độ. số lớp tối đa trong một trường tiểu học là 30 lớp. Đối
với những trường tiểu học hiện có, nếu số lớp vượt trên 30 lớp, Hiệu trưởng nhà trường
có trách nhiệm đề ra các biện pháp tổ chức lại trường lớp, báo cáo Trưởng phòng giáo
dục và Đào tạo để trình Uỷ ban nhân dần cấp huyện xem xét quyết định.
Ở những vùng có điều kiện kinh tể — xã hội đặc biệt khó khăn, trường tiểu học có 'thể có
nhiều điểm trường được bố trí ở những địa điểm khác nhau trên địa bàn xã hoặc cụm xã,
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đi học. Tại mỗi điểm trường có một giáo viên
chủ nhiệm lớp đồng thời đảm nhận nhiệm vụ phụ trách điểm trường theo sự phân công
của hiệu trưởng’’.
5. Nhiệm vụ của giáo viên và học sinh:
5.1.Nhiệm vụ của giáo viên:

“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” - một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy. Điều này cho
thấy, nghề giáo viên là một nghề rất cao cả và luôn được xã hội trân trọng từ ngàn xưa
đến nay. Xã hội dù có phát triển đến đâu thì vị trí, vai trị của người thầy giáo, cơ giáo
trong nhà trường cũng luôn được đề cao. Vậy thầy cô giáo có những nhiệm vụ gì? Điều
34 của Điều lệ trường tiểu học (Ban hành kèm theo Văn bản hợp nhất sổ 03/VBHNBGDĐT ngày 22/01/2014 của Bộ trưởng Bộ Giảo dục và Đào tạo), ghi rõ 6 nhiệm vụ cơ
bản của người giáo viên:
“1. Thực hiện nhiệm vụ giáo dục theo mục tiêu của chươmg trình giáo dục tiểu học và kể
hoạch giáo dục của nhà trường; chuẩn bị lên lớp, đánh giá học sinh; quản lí học sinh
trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động chuyên
môn;chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giáo dục
2. Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của
nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách
của học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng
nghiệp.
Học tập, rèn luyện để nâng cao sức khoẻ, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi
mới phương pháp giảng dạy.
4. Tham gia công tác phổ cập giảo dục tiểu học ở địa phương.
5. Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quyết định của
Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trường phân công, chịu sự kiểm tra, đánh giá của
Hiệu trưởng và các cấp quản lí giảo dục.
6. Phổi hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, gia đình học sinh và các tổ chức xã
hội liên quan để tồ chức hoạt động giáo dục ”.
Để thực hiện những nhiệm vụ trên, người giáo viên tiểu học phải tự nhiên, chân thật, vui vẻ,

5


niềm nở, dễ gần với các em; phải khoan dung, độ lượng; có nghĩa là người giáo viên mềm dẻo
trước sự khác nhau trong mỗi học sinh. Giáo viên nên giúp đỡ những học sinh ít có bạn hoặc
những học sinh yếu kém; tạo điều kiện cho những em này kết bạn hoặc có dịp thể hiện sự cố

gắng của mình. Đơi khi cũng cần cử những học sinh kém làm nhóm trưởng để các em đó thấy
mình vẫn được đối xử cơng bằng.

Hình 6.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa nhà trường, giáo viên,
phụ huynh và học sinh
5.2. Nhiệm vụ của học sinh:
Trong bất cứ nhà trường phổ thông nào, học sinh cũng là đối tượng chủ yếu của các hoạt
động giáo dục, chăm sóc. Vậy học sinh có những nhiệm vụ và quyền hạn gì? Điều lệ trường
tiểu học quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của cảc em như sau:
“Điều 42. Nhiệm vụ của học sinh
1. Thực hiện đầy đủ và hiệu quả nhiệm vụ học tập; rèn luyện theo chương trình, kể hoạch giáo
dục của nhà trường; chăm học, chăm làm, tích cực tham gia các hoạt động giáo đục; đi
học đều và đúng giờ; giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập.
2. Sống trung thực, kỉ luật. Chấp hành nội quy nhà trường.
3. Hiếu thảo với cha mẹ, ơng bà; kính trọng, lễ phép với thầy giảo, cô giáo, nhân viên và
người lớn tuổi; đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ bạn bè, người khuyết tật và người có hồn
cảnh khó khăn.
4. Rèn luyện thân thể, giữ vệ sinh cả nhân.
5. Tham gia các hoạt động tập thể trong và ngoài giờ lên lớp; giữ gìn, bảo vệ tài sản nơi cơng
cộng; tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, thực hiện trật tự an tồn giao thơng.
6. Góp phần bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường, địa phương.
Điều 43. Quyền của học sinh
1. Được học ở một trường, lớp hoặc cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu
học tại nơi cư trú; được chọn trường ngồi nơi cư trú nếu trường đó có khả năng tiếp
nhận.
2. Được học vượt lớp, học lưu ban; được xác nhận hồn thành chương trình tiểu học theo quy
định.
3. Được bảo vệ, chăm sóc, tơn trọng và đối xử bình đẳng; được cung cấp đầy đủ thông tin về
việc học tập, rèn luyện cùa mình; được đảm bảo những điều kiện về thời gian, Cơ sở vật
chẩt, vệ sinh, an toàn để học tập và rèn luyện.


6


4.

5.
6.

1.

Được tham gia các hoạt động nhằm phát triển năng khiếu; được trực tỉếp bày tỏ ý kiến,
nguyện vọng về việc xây dựng nhà trường và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của học
sinh; được chăm sóc và giáo dục hoà nhập (đối với học sinh khuyết tật) theo quy định.
Được nhận học bổng và được hưởng chính sách xã hội theo quy định.
Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật."

6. Hoạt động trong trường tiểu học:
Trong trường tiểu học, hoạt động chủ yếu của nhà trường là hoạt động giáo dục. Điều lệ
trường tiểu học quy định ở điều 29 như sau:
Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động dạy học các môn học và hoạt động giáo dục trải
nghiệm nhằm hình thành, phát triển năng lực và phẩm chat, bồi dưỡng năng khiếu, giúp
đỡ học sinh yếu phù hợp đặc điểm tâm lí, sinh lí lửa tuổi học sinh tiếu học.
2. Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn
học bắt buộc và tự chọn trong Chương trình giáo dục phổ thơng bậc Tiểu học do Bộ trưởng
Bộ Giảo dục và Đào tạo ban hành.
3. Hoạt động giáo dục trải nghiệm bao gồm sinh hoạt tập thể, hoạt động vui chơi, thể dục
thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hoá; hoạt động bảo vệ mơi trường; lao động
cơng ích và các hoạt động xã hội khác.
II. Các ngành của giới Động vật:


Giới Động vật đạt mức độ tiến hoá cao nhất trong giới sinh vật, phân bố khắp nơi từ núi
cao đến vùng sâu của biển, từ xích đạo đến hai cực, rất đa dạng về số lượng, thành phần cá
thể và loài. Trong số 1,8 triệu loài sinh vật, động vật chiếm hơn 1 triệu lồi. Nhiều lồi có
kích thước rất lớn như cá voi, có loại lại rất nhỏ bé. Nhiều lồi có số lượng cá thể rất đơng, ví
dụ như châu chấu, kiến,...
Động vật được chia làm 20 ngành gồm chủ yếu là Động vật không xương sống và Động
vật có xương sống.
1. Động vật khơng xương sống:
Động vật khơng xương sống có đặc điểm sau:
Khơng có bộ xương sườn tức là cơ thể khơng có xương.
Bộ xương ngồi (nếu có) bằng kitin.
Hơ hấp thẩm thấu qua da hoặc bằng ống khí.
Thần kinh dạng hạch hoặc chuỗi hạch ở bụng.
Động vật không xương sống gồm các ngành: Nguyên sinh, Ruột khoang, Giun dẹp, Giun
tròn, Giun đốt, Chân khớp, Da gai, Thân mềm.
-

I.1. Ngành động vật Nguyên sinh:

Động vật Nguyên sinh là ngành động vật xuất hiện sớm nhất ví dụ như lớp trùng roi,
trùng giày, trùng sốt rét, trùng kiết lị,.. .
- Trùng roi: thường gặp vào cuối xuân, đầu hè, ở mặt hồ trong lớp váng xanh trên mặt
nước.
- Trùng sốt rét có nhiều trong cơ thể muỗi anơphen.

7


Đặc điểm chung của ngành trùng sốt rét là cơ thể rất nhỏ, chỉ là một tế bào nhưng đảm

nhiệm chức năng của một cơ thể độc lập.
1.2.
Lớp Giun dẹp gồm sán lông (sống tự do), sán lá, sán dây (sống kí sinh trong cơ thể các
lồi ốc, lợn, trâu, bò).
- Lớp Giun tròn gồm giun đũa, giun kim, giun móc, phần lớn sống kí sinh trong cơ thể
người, động thực vật hoặc trong nước, đất ẩm.
- Lớp Giun đốt gồm giun đất, rươi, đỉa, sông ở đất ẩm, nước lợ hoặc kí sinh.
Một lồi tiêu biểu của ngành Giun là giun đất cơ thể dài, gồm nhiêu đốt, phần đầu có
miệng, đai sinh dục (3 đốt), hậu mơn ở đuôi. Cơ thể giun đất đối xứng hai bên, phân đốt và
có khoang cợ thể chính thức. Nhờ sự chun, giãn, của cơ thể kết hợp với các vòng tơ mà giun
đất di chuyển được. Giun đất ăn vụn thực vật và mùn đất, có cơ quan tiêu hố phân hố
(miệng, hàu, thực quản, dạ dày cơ, ruột), hơ hấp qua da, hệ tuần hồn kín, hệ thần kinh kiểu
chuỗi hạch. Giun đốt sinh sản lưỡng tính; khi sinh sản chúng ghép đôi, trứng được thụ tinh
phát triển trong kén để thành giun non.
-

1.4. Ngành Thân mềm:
Ngành Thân mềm gồm trai, sị, ốc, hến, ngao, mực sống ở biển, sơng, hồ, ao.
Đặc điểm chung của ngành: Tuy kích thước, mơi trường sống và lối sống .khác nhau
nhưng cơ thể có đặc điểm chung là: thân mềm, khơng phân đốt, có vỏ đá vơi, có khoang áo,
hệ tiêu hố phân hố, cơ quan di chuyển đơn giản, thường bơi, bò chậm. Riêng mực và bạch
tuộc thích nghi với địi sống săn mồi và di chuyển tích cực nên vỏ tiêu giảm, cơ quan di
chuyển phát triển.
Hệ sinh dục đơn tính (một số lưỡng tính), đẻ trứng. Một số nở thành ấu trùng rồi thành
con. Trừ một số lồi có hại (ốc sên) cịn hầu hết chúng đều có lợi về ' nhiều mặt.
1.5.
* Lớp Giáp xác (tôm)
- Tôm sống ở nước, thở bằng mang, có vỏ cứng bao bọc.
- Cơ thể gồm đầu - ngực và bụng: Phần đầu - ngực có các giác quan: hai đơi râu, hai mắt
kép, miệng, chân hàm, chân bò, tuyến bài tiết,... Phần bụng: phân đốt rõ có chân bơi,

tấm lái.
- Di chuyển: Tơm có thể bò bằng các chân ngực, bơi bằng chân bơi, có thể bơi giật lùi
bằng cách xoè tấm lái, gập mạnh về phía bụng làm cho cơ thể bật về phía sau.
- Dinh dưỡng: Tơm kiếm ăn vào lúc tối, thức ăn là thực vật, động vật phù du. Đôi râu là
cơ quan khứu giác nên có chức năng tìm kiếm thức ăn ở xa. Đôi càng dùng để bẳt
mồi. Oxi tiếp nhận qua lá mang. Tuyển bài tiết nằm ở gốc đôi râu thứ hai.
- Sinh sản: Tôm phân giới tính, thụ tinh ngồi: con cái đẻ trứng, ơm trứng ở đôi chân
bụng, trứng nở thành ấu trùng, lột xác nhiều lần thành tôm trưởng thành.

8


Lớp Hình nhện (nhện):
- Nhện là đại diện điển hình của lớp Hình nhện, cơ thể có hai phần: đầu - ngực và bụng.
Thường có bốn đơi chân bị, chúng hoạt động chủ yếu về đêm, thức ăn là động vật nhỏ
sống được bằng cách giăng lưới, bắt mồi.
* Lớp Sâu bọ rất đa dạng về số loại, cấu tạo, mơi trường và tập tính, song chúng có một
số đặc điểm chung:
- Vỏ cơ thể bằng kitin vừa là bộ xương ngoài vừa là chiếc áo ngụy trang.
- Thần kinh phát triển hình thành não.
- Có đủ năm giác quan: xúc giác, khứu giác, vị giác, thị giác và thính giác.
- Cơ thể chia ba phần: đầu - ngực - bụng: Đầu có một đơi râu, ngực có ba đơi chân và
hai đôi cánh.
- Hô hấp bằng hệ thống ống khí.
- Tuần hồn hở, tim hình ống, nhiều ngăn nằm ở mặt lưng.
- Sinh sản hữu tính, đẻ trứng. Có nhiều hình thức biến thái khác nhau, lột xác và tăng
trưởng.
- Di chuyển: hầu hết có thể bay.
Sâu bọ có vai trò quan trọng trong tự nhiên và đởi sống. Một so loài sâu bọ làm hại đến
cây trồng.

*

Ngành Da gai:
Ngành Da gai gồm lớp sao biển, hải sâm, cầu gai, sống ở nước, trên cạn, kí sinh.
Đặc điểm: Da gai là động vật có miệng thứ sinh (sinh sau), có đối xứng toả trịn. Dưới lớp
biểu mơ, trong lớp mơ liên kết có bộ xương đá vơi gồm nhiều mảnh, có gai hoặc mấu nhơ lên
dưới da tạo thành một bao ngoài cứng, sần sùi gai. Hệ sinh dục đơn tính, sắp xếp đối xứng
toả trịn, phát triển có biến thái từ ấu trùng tới giai đoạn trưởng thành, sống trên nền đáy,
cũng có khi có cuống bám trên giá thể.
1.6.

2.

Động vật có xương sống:

9


Động vật có xương sống có đặc điểm chính sau:
- Bộ xương trong bằng sụn hoặc bằng xương với dây sống làm trụ.
- Hô hấp bằng mang hoặc bằng phổi.
- Hệ thần kinh dạng ống ở mặt lưng.
Động vật có xương sống bao gồm các lớp: nửa dây sống, cá miệng tròn, cá sụn, cá xương,
lưỡng cư, bò sát, chim và thú.
2.1. Các

lớp Cá
Cá gồm hai lớp:
- Lớp Cá sụn (850 loài): hầu hét sống ở nước mặn, nước lợ, da trần hoặc có vảy tấm, có
xương bằng chất sụn, khe mang thơng với ngồi như cá nhám, cá đuối, cá mập.

- Lớp Cá xương có khoảng gần 2000 lồi, 40 bộ; sống ở biển, nước lợ, nước ngọt, da có
vảy láng, vảy xương; bộ xương làm bằng chất xương, khe mang có xương nắp mang như cá
chép, cá vền, cá bơn, cá nóc, cá chình, cá nhồng, lươn, chạch,...

Lớp Lưỡng cư:
Bao gồm những động vật như ếch, nhái, choé, chẫu, cóc,... có đời sống vừa ở nước vừa ở
cạn.
Đặc điểm của một loài lưỡng cư tiêu biểu - Ếch đồng là:
- Ếch đồng sống ở những nơi ẩm ướt, gần bờ ao, đầm nước. Chúng thường kiêm mồi vào
ban đêm. Thức ăn của chúng là sâu bọ, cua, cá con, giun, ốc,... Ếch ẩn trong hang qua mùa
đông (ngủ đơng). Ếch là động vật biến nhiệt.
- Cấu tạo ngồi: Cơ thể ếch gồm đầu, mình, chi trước, chi sau. Mắt, lỗ mũi nằm trên đầu,
mũi thông với khoang miệng và phổi để thở và ngửi. Da trần phủ chất nhày và ẩm, các chi
sau có màng bơi căng giữa các ngón.
- Ếch đực trưởng thành đến mùa sinh sản (cuối xuân, đầu hè) kêu gọi ếch cái để cặp đôi,
2.2.

10


ếch cái cõng ếch đực trên lưng tìm đến bờ nước để đẻ. Ếch cái đẻ trứng thành từng đám. Ếch
đực phóng tinh (thụ tính ngồi). Trứng thụ tinh nở thành nịng nọc, trải qua q trình biến
thái để trở thành ếch con.
2.3. Lớp

Bị sát:
Bao gồm 6500 lồi động vật như bộ thằn lằn, rắn có vảy, cá sấu, rùa, sống trên cạn.
Đặc điểm của lớp Bò sát:
- Cơ thể có dạng thằn lằn như thằn làn bóng đi dài, thạch sùng, nhông cát, cá sấu,...
- Cơ thể dạng rùa có mai ở lưng, yếm ở bụng, đầu và tứ chi có thể thụt vào trong mai và

yếm khi gặp nguy hiểm. Các loài rùa sống ở cạn. Ba ba, víc; đồi mồi,... sống ở nước.
Cơ thê dạng răn, có thân dài, da khơ phủ vảy sừng lọp mái ngói, đầu và cổ khơng phân biệt
rõ, có tứ chi tiêu giảm. Đa số rắn là động vật có lợi dùng để làm thuốc chữa bệnh, tiêu diệt
chuột.
Một số loài rắn độc có nộc độc là những răng lớn
thơng với tuyến độc ở hai bên mang tai.
Bò sát là động vật có xương sống đầu tiên có đời sống chính thức ở cạn. Tuy nhiên,
vẫn có một số lồi sống trong nước như: ba ba, cá sấu, rắn biển, rùa biển,...
Bò sát là hiện tượng thứ sinh, chúng vẫn giữ những đặc điểm điển hình của động vật có
xương sống ở cạn:
- Sinh sản trên cạn, trứng có túi niệu có vai trị bài tiết, túi niệu bảo vệ phơi khỏi khơ và
có nhiều nỗn hồng dự trữ cho phơi phát triển khơng qua biến thái.
- Da khơ ít tuyến, có vảy sừng chống lại sự mất nước của cơ thể.
- Hơ hấp hồn tồn bằng phổi, nên phổi có cấu tạo hoàn chỉnh và bằng lồng ngực.
- Tim và động mạch phân hố hơn: tâm thất có vách ngăn chưa hồn tồn nên hai nửa
tâm thất cịn thơng nhau (trừ cá sấu).
- Phần đốt sống cổ có thêm đốt sống trụ, đảm bảo cho đầu cử động linh hoạt hơn, các
giác quan trên đầu phát huy được tác dụng.
- Tuy nhiên, Bị sát có cường độ trao đổi chất thấp, nên vẫn là động vật biến nhiệt.
- Bò sát thụ tinh trong, đẻ trứng, nhưng hầu hết các loài thiếu khả năng ấp trứng và
chăm sóc con non.
Hiện nay, các nhà khoa học đã định loại được 6000 loài, phân bố rộng trên mặt đất và
biển. Ở Việt Nam, hiện đã mơ tả được 186 lồi, thuộc ba bộ: bộ có vảy, bộ rùa và bộ cá sấu.
Phổ biến là các loài: rắn, thằn lằn, thạch sùng, rùa, cá sấu,... Đa số các loài được dùng để chế
biến làm thuốc chữa bệnh và có giá trị dinh dưỡng cao. Tuy nhiên, cũng giống ếch nhái, bị
sát hiện đang có xu thế giảm sút về số lượng do bị con
người khai thác quá mức.
2.3.Lớp Chim:
Lớp Chim bao gồm ba nhóm:
- Chim chạy: đà điểu.

- Chim bơi: chim cánh cụt.

11


Chim bay: bồ câu, nhạn, chim ưng, gà, vịt, cú,...
- Đặc điểm chung của lớp Chim (hình 2.2):
+ Chim phân bố hầu hết tất cả nơi trên thế giới, xâm nhập cả vùng Bắc cực, Nam cực vì
chim là lồi động vật hằng nhiệt, có khả năng bay.
Hình 2.2. Cấu tạo ngồi của chim
bồ câu
+ Phần lớn chim khơng có tập tính ngủ đơng, chúng thực hiện di cư đến
vùng có khí hậu
phù hợp để trú rét. Mùa xn năm sau lại quay về chốn cũ để sinh đẻ. Ngoài những lồi chim
di trú cịn có lồi chim sống định cư và lang thang.
+ Cơ thể chim có lơng vũ bao phủ. Chi trước biến đổi thành cánh. Hàm trên, hàm dưới có
bao sừng bao cánh, hạ cánh.
+ Hệ cơ quan của chim đã hồn thiện, có bộ não lớn; trao đổi khí ở phổi; thị giác phát
triển.
+ Chim thụ tinh trong. Chim cái đẻ trứng số lượng ít. Sau khoảng 15 ngày, thụ tinh, trứng
được ấp bởi bố và mẹ sẽ nở thành chim non, yếu ớt.
- Căn cứ vào thức ăn chim sử dụng, có thể chia lớp Chim thành bốn nhóm: chim ăn
động vật, chim ăn thực vật, chim ăn tạp và chim ăn chuyên.
- Chim bắt nguồn từ lồi bị sát từ kỉ Jura số lượng lớn chim hoạt động vào ban ngày, chỉ
một số vào ban đêm (cú mèo, chim lợn).
-

2.4.

Lớp Thú (lớp động vật có vú):

Bao gồm 4600 lồi, 26 bộ, gồm:
- Bộ thú đẻ trứng: thú mỏ vịt, thú túi.
- Thú đẻ con: Bộ dơi, cá voi,...
Bộ ăn sâu bọ (chuột chù, chuột chũi,...)
Bộ ăn thịt (hổ, sói,...)
Bộ gặm nhấm (chuột, sóc, nhím,...)
Bộ móng guốc (hươu, voi, ngựa,...)
Bộ linh trưởng (khỉ, tinh tinh,...)
- Đặc điểm chung của lớp Thú:
+ Cơ thể gồm đầu, mình, bốn chi. Cơ thể được phủ bằng lơng mao, da có nhiều tuyến
(tuyến mồ hơi, tuyến nhầy, tuyến sữa,...).
+ Các giác quan phát triển.
+ Hô hấp bằng phổi. Các hệ tuần hồn, bài tiết, tiêu hố... phát triển (tim có bốn ngăn).
+ Bộ não phát triển, có 12 đơi dây thần kinh sọ não.
+ Hầu hết là động vật đẳng nhiệt.
+ Hoạt động ngày và đêm phụ thuộc vào khả năng tìm kiếm thức ăn của từng lồi.

+ Do nhu cầu thức ăn mà chia thành nhiều nhóm: thú ăn tạp, thú ăn thịt, thú ăn thực vật,
thú ăn cỏ, thú ăn hạt để thích nghi với nguồn thức ăn cho nên bộ răng cũng bị phân hoá sao
cho phù hợp.
+ Có tứ chi (một số có chi tiêu giảm) thích nghi với di chuyển.

12


+ Thú thụ tinh trong, đẻ con, nuôi con bằng sữa mẹ (một số đẻ tráng: thú mỏ vịt). Thời
gian con sống với mẹ phụ thuộc vào cường độ sinh sản, lượng thức ăn, khả năng thú con có
thể sống tự lập được.
+ Tổ tiên của thú là lớp bò sát răng thú ở kỉ Pecmơ.


III. Nước và vai trò của nước đối với con người và thực động vật:
Nước (H2O) là họp chất của hiđro và oxi. Theo tỉ lệ thể tích, nước gồm 2 phần hiđro, 1
phần oxi; theo tỉ lệ khối lượng là 11 phần hiđro và 89 phần oxi. Nước là hợp chất phổ biển
nhất trong tự nhiên vì ba phần tư diện tích Trái Đất được bao phủ bởi đại dương, biển, hồ,
sơng, ngịi.
Tỉnh chất vật lí của nước
Nước là chất lỏng khơng màu, khơng mùi, không vị. Nước sôi ở 100°C (ở áp suất khí
quyển là 760mmHg). Nước hố rắn ở o°c tạo thành nước đá và tuyết. Khối lượng riêng của
nước ở 4°c là 1 g/ml (hoặc 1 kg/lít), là khối lượng riêng cực đại của nước.
Trong tự nhiên, nước tồn tại ở ba trạng thái: rắn, lỏng, khí. Thể lỏng là thể phổ biến nhất
của nước trong tự nhiên. Thể rắn như băng, tuyết tập trung nhiều ở hai cực của Trái Đất và ở
các đỉnh núi cao. Thể khí (hơi) của nước ln ln có trong khơng khí. Trong tự nhiên, nước
thay đổi theo một chu kì kín: nước ở thể lỏng bốc hơi, hơi nước gặp lạnh ngưng tụ thành mây
sinh ra mưa. Mưa lại tồn tại ở ba dạng: dạng lỏng - mưa thường, dạng xốp - tuyết, dạng rắn mưa đá.
Nước có thể hồ tan được nhiều chất rắn (đường, muối ăn...), chất lỏng (cịn, axit...), chất
khí (HC1, NH3...). Nước tự nhiên có chứa rất nhiều nguyên tố hoá học ở dạng hợp chất (đặc
biệt trong nước biển cỏ mặt hầu hết các nguyên tố hoá học trong Bảng tuần hoàn Men-đê-lêép).

13


Nước có khả năng thấm qua những vật xốp, làm ướt các vật khác, hiện tượng này được
gọi là sự dính ướt của nước. Lực dính này đối với các vật thể khác nhau cũng khác nhau.
Nước không làm ướt parafin nhưng lại làm ướt vải bơng, kính, đất và hầu hết các hợp chất
hữu cơ, vơ cơ. Nhờ tính chất hồ tan và tính thấm qua nhiều vật, nước đã trở thành vườn
ươm sự sống và là nhân tố hình thành địa hình quan trọng, giúp cải tạo Trái Đất hàng ngày,
hàng giờ.
Nước là chất có nhiệt dung đặc biệt khác thường. Nó có thể hấp thụ một lượng nhiệt lớn
mà khơng trở nên nóng như chúng ta tưởng. Nếu ta treo hoặc đặt một nồi nhỏ lên bếp lửa, nồi
sẽ nhanh chóng bị nung nóng đỏ. Nhưng nếu ta đổ nước vào nồi rồi cũng làm như vậy thỉ

nước trong nồi chỉ nóng lên vài độ và nồi khơng bị nóng đỏ. Nhiệt dung của nước lớn gấp 5
lần cát, 9,25 lần sắt, 10,3 lần đồng. Vì vậy mà trong những ngày hè nóng nực, người ta
thường ra biển tam và nghỉ mát.
Nước có tính đàn hồi nên khơng có hình dạng nhất định. Hình dạng của nước phụ thuộc
vào hình dạng của vật chứa nó. “Tức nước vỡ bờ” là câu nói thể hiện đầy đủ tính chất đàn hồi
của nước.
Nước nguyên chất là chất cách điện nhưng nước ở sơng, ngịi, ao hồ... đặc biệt là nước
bẩn có khả năng dẫn điện tốt vì các tạp chất trong các loại nước này có khả năng dẫn điện.
Tính chất hố học của nước
Nước có những tính chất hoá học sau:
- Nước tác dụng với một số kim loại ở nhiệt độ thường như Na, K, Ca... tạo ra bazơ và
khí hiđro: 2Na + 2H2O —> 2NaOH + H2Ỹ
- Tác dụng với một số oxit kim lọại tạo bazơ: CaO + H2O —> Ca(0H)2
- Tác dụng với một sổ oxit phi kim tạo thành axit: P2O5 + 3H2O -> 2H3PO4
Vai trị của nước
Nước hồ tan nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể sống. Nước tham gia vào nhiều
q trình hố học quan trọng trong cơ thể người và động vật. Con người có thể nhịn ăn trong
15 ngày, thậm chí 60 ngày nhưng khơng thể nhịn uống nước quá 5 ngày. Trong 9 tháng trước
khi sinh, con người đã bơi trong nước trong bụng của người mẹ. Trong cơ thể người, nước
chiếm hơn 70% trọng lượng.
Nước cần cho đời sống hàng ngày, cho nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thơng
vận tải... Đối với khí hậu, nước cung cấp độ ẩm và lượng nhiệt lớn cho khí quyển, về phương
diện địa mạo, nước có tác dụng xâm thực, vận chuyển, bồi tụ, tạo nên các dạng địa hình cơ
bản trên bề mặt Trái Đất: địa hình băng hà, địa hình castơ, địa hình châu thổ...
Đối với thổ nhưỡng, nước cung cấp độ ẩm, tạo điều kiện cho đất phát huy tác dụng tích
cực đối với cây trồng, hình thành và biến đổi đất. Nước cần thiết cho mọi sinh vật, khơng có
nước thì khơng thể có sự sống. Nước là mơi trường sống của nhiều lồi sinh vật.
Nước cịn tham gia vào q trình tổng hợp chất hữu cơ và giải phỏng oxi nhờ thực vật
6CO2+ 6H2O = C6H12O6+ 6O2


14


IV. Đặc điểm tự nhiên của vùng Nam Bộ:
Vùng đồng bằng Nam Bộ bao gồm khu vực Đông Nam Bộ (với TP. Hồ Chí Minh và các
tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) và khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long (với 13 tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tỉền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ,
Hậu Giang, Long An, Kiên Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau). Phía
tây bắc của vùng giáp với Tây Ngun, phía đơng bắc giáp Dun hải Nam Trung Bộ, phía
tây giáp Campuchia, phía đơng, nam và tây nam giáp Biển Đơng. Vùng có vị trí thuận lợi để
mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế.
Địa hình của vùng thoải dần từ bắc xuống nam. Phía bắc của vùng là một miền đất cao có
độ cao trung bình từ vài chục mét đến 200m. Phía nam của vùng là một đồng bằng rộng lớn,
bằng phẳng, đất đai màu mỡ, cao không quá 5m so với mực nước biển. Khu vực Đồng bằng
sơng Cửu Long khơng có đê, mùa lũ nữớc tràn bờ, bồi đắp phù sa gần như khắp cả đồng
bằng.
Các loại đất chính của vùng đồng bằng Nam Bộ là đất badan ở khu vực giáp Tây Nguyên,
đất xám (diện tích 759.000ha) phân bố ở phía tây của vùng. Đất phù sa có diện tích rất lớn ở
Đồng bằng sông Cửu Long (gấp 2,7 lần Đồng bằng sông Hồng). Vùng hạ lưu các con sông
sát với biển chủ yểu là đất nhiễm phèn, nhiễm mặn.
Khí hậu của đồng bằng Nam Bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích
đạo. Đây là vùng nắng nhiều, nhiệt độ cao quanh năm. Lượng mưa trung bình năm phổ biến
từ 1.600 - 2.000mm. Mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, sau đó bước vào mùa khô gay
gắt. Một điểm đáng chú ý là khu vực này rất ít bão, hầu như khơng có mưa đá, khơng có hiện
tượng thời tiết gió Tây khơ nóng.
Đồng bằng Nam Bộ là lưu vực của các con sông lớn như sông Mekong, sông Đồng Nai
- Vàm cỏ. Ở vùng hạ lưu các con sông, chế độ thuỷ văn chịu tác động mạnh của thuỷ triều.
Những ngày triều cường, nước biển xâm nhập sâu vào đất liền ảnh hưởng đến sinh hoạt và
sản xuất của dân cư. Riêng ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, lũ cũng được coi là một


15


loại tài nguyên bởi nhờ lũ mà đồng bằng được bồi đắp phù sa hàng năm, đồng ruộng được vệ
sinh, cung cấp nguồn và giống thuỷ sản nước ngọt từ thượng nguồn về, bổ sung nước ngầm
và độ ẩm cho mùa khơ đồng thời tẩy mặn. Khu vực này cịn có hệ thống kênh rạch chằng chịt
vừa có tác dụng tưới tiêu đồng thời tạo nên một hình thức di chuyển, vận tải độc đáo trên
ghe, thuyền giữa các khu vực khác nhau trong vùng
Tài nguyên rừng ờ vùng Đồng bằng Nam Bộ tương đổi phát triển. Trong vùng có các
loại rừng phổ biến như rừng rậm nội chí tuyến gió mùa, rừng rụng lá, rừng ngập mặn. Tài
ngun khống sản thế mạnh của vùng là các mỏ dầu, khí trên thềm lục địa.
Tài nguyên du lịch của vùng Đồng bằng Nam Bộ rất phong phú với các loại hình du
lịch tìm hiểu tự nhiên, du lịch sinh thái, du lịch mua sắm, du lịch văn hoá...

16


KẾT LUẬN
Qua một thời gian nghiên cứu về môn Cơ sở Khoa học Tự nhiên và xã hội đã giúp bản
thân tơi tìm ra cách thức giảng dạy cho học sinh từng bài, sử dụng phương pháp phù hợp với
từng bài
Từ chỗ các em mới ngày đầu tiên đến trường học với tâm hồn trong trắng, ngây thơ nay
các em đã có kinh nghiệm học tập, phương pháp học tập và tự học tập.
- Học sinh biết ứng xử khi gặp những hiện tượng khác nhau trong cuộc sống.
- Giải quyết những tình huống đa dạng ở nhà, ở trường, ngồi xã hội, trong thiên nhiên.
Góp phần bảo vệ sức khỏe, giữ an toàn cho bản thân và người khác như: Biết sơ lược về cơ
thể người, giữ vệ sinh cá nhân, vui chơi an tồn.
- Có thái độ tự giác giữ vệ sinh cá nhân, chấp hành quy định trật tự an tồn giao thơng, u
thiên nhiên, gia đình, q hương, trường học.
- Có ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên.

- Ðáp ứng được với cuộc sống thực tại của học sinh. Các em có sức khỏe tốt, có kinh
nghiệm học tập góp phần học tốt mơn học khác và làm trịn nhiệm vụ của người học sinh.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×