Tải bản đầy đủ (.docx) (104 trang)

231 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Huyện Mỹ Hào, Tỉnh Hưng Yên,Luận văn Thạc sỹ Kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (501.21 KB, 104 trang )


W................................................... ,
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

, , IW
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
---------^⅛□<*c⅛c⅛-------

LÊ THỊ THƯ

GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CƠNG TÁC
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2015


W................................................... ,
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

, , IW
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
---------^⅛□<*c⅛c⅛-------

LÊ THỊ THƯ



GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CƠNG TÁC
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số

: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ HÙNG SƠN

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tơi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được
sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Các thơng tin trích dẫn trong luận văn đều được
chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, 26 tháng 01 năm 2016
Tác giả

Lê Thị Thư


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này tác giả đã nhận đuợc nhiều
sự quan tâm, giúp đỡ, góp ý của nhiều tập thể và cá nhân trong và ngoài Học viện.

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Ngân Hàng, các
thầy cô giáo trong truờng Học Viện Ngân Hàng, đã trực tiếp giảng dạy, chỉ dẫn cho
tác giả và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Với tình cảm chân thành và lịng biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn
đến PGS.TS. Lê Hùng Sơn nguời huớng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tác giả về
kiến thức cũng nhu phuơng pháp nghiên cứu, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện
luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Kho bạc Nhà nuớc huyện Mỹ Hào đã
tạo điều kiện và cho phép tác giả đuợc học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Xin
cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp tại Kho bạc Nhà nuớc huyện Mỹ Hào đã động
viên, chia sẻ và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong q trình hồn thành luận văn. tác giả
xin cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo các đơn vị trong huyện Mỹ Hào đã nhiệt tình cung
cấp số liệu và những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nhung luận văn này không tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy, tác giả rất mong nhận đuợc sự chỉ dẫn, góp ý của q thầy, cơ
giáo và tất cả bạn bè, đồng nghiệp, những nguời quan tâm nghiên cứu trong lĩnh
vực này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả

Lê Thị Thư


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG
XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC................................7

1.1.


NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1.
Ngân sách nhà nước.......................................................................................7
1.1.2.
Chi thường xuyên ngân sách nhà nước........................................................19
1.2.
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC...........23
1.2.1.
Khái niệm.................................................................................................... 23
1.2.2.
Vai trò của kho bạc Nhà nước trong quá trình quản lý chi thường xuyên ngân
sách nhà nước.......................................................................................................... 24
1.2.3.
Nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước................................................ 25
1.2.4.
Vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước................................................. 27
1.2.5.
Sự cần thiết nâng cao vai trò quản lý của Kho bạc Nhà nước về chi ngân sách
Nhà nước................................................................................................................. 28
1.2.6.
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân
sách nhà nước tại kho bạc Nhà nước....................................................................... 30
1.3.
KINH NGHIỆM MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI
THƯỜNG XUYÊN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC.................................................35
1.3.1.
Kinh nghiệm của Kho bạc Nhà nước Lạng Sơn........................................... 35
1.3.2. Kinh nghiệm của Kho bạc Nhà nước Bà Rịa - Vũng Tàu với quy trình kiểm

sốt chi “một cửa”................................................................................................... 37
1.3.3. Bài học rút ra đối với Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào............................38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1...................................................................................... 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG
XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN
MỸ HÀO................................................................................................................ 41
2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.........................................................41
2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội huyện Mỹ Hào..................................... 41

7


2.1.2. Tình hình thu - chi thường xuyên ngân sách Nhà nước trên địa bàn Mỹ Hào 42
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN TẠI KHO
BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN MỸ HÀO................................................................... 44
2.2.1. Khái quát chung về Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào............................... 44
2.2.2. Cơ sở pháp lý thực hiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà
nước tại Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào............................................................49
2.2.3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên tại Kho bạc Nhà nước
huyện Mỹ Hào.........................................................................................................53
2.2.4. Ý kiến các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước chi thường xuyên...............60
2.3.
ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN MỸ HÀO....62
2.3.1.
Những thành tựu đạtđược............................................................................ 62
2.3.2.
Hạn chế........................................................................................................ 63
2.3.3.
Nguyên nhân của hạnchế.............................................................................65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2...................................................................................... 68
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CƠNG TÁC QUẢN LÝ CHI
THƯỜNG XUN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC
HUYỆN MỸ HÀO.................................................................................................69
3.1.
MỤC TIÊU HỒN THIỆN CƠNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN MỸ HÀO ....69
3.1.1.
Mục tiêu hồn thiện cơng tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước

tại Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào.....................................................................69
3.1.2.

Phương hướng hồn thiện............................................................................ 71

3.1.3. GIẢI PHÁP HỒN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC HUYỆN MỸ HÀO ....75
3.1.4. Xây dựng phần mềm tin học quản lý giao nhận hồ sơ kiểm soát chi ngân sách
tại Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào.....................................................................75
3.2.1. Tập trung kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước có mức độ rủi ro cao

75


3.2.2. Kiểm soát chi ngân
DANH
sáchMỤC
nhà nước
CÁC theo
CHỮkết

VIẾT
quả TẮT
đầu ra nhằm khắc phục những
tồn tại hình thức kiểm sốt chi theo dự toán............................................................76
3.2.3. Quy định lại trách nhiệm và quyền hạn của các đơn vị trong quản lý, kiểm
soát ngân sách nhà nước trong đó có Kho bạc Nhà nước........................................ 77
3.2.4. Xây dựng, thực hiện cơ chế kiểm soát chi cam kết chi trong điều kiện triển
khai hệ thống TABMIS........................................................................................... 77
3.2. KIẾN NGHỊ...................................................................................................78
3.3.1. Đối với Chính phủ.......................................................................................78
3.3.2. Đối với Kho bạc Nhà nướcViệt Nam...........................................................80
3.3.3. Đối với chính quyền và cáccơ quan chức năng............................................ 83
3.3.4. Đối với các đơn vị sử dụngngân sách.......................................................... 87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3...................................................................................... 87
KẾT LUẬN............................................................................................................ 88
VIẾT TẮT

NGUYEN NGHĨA

BTC

Bộ Tài chính

CQTC
CBCC

Cơ quan Tài chính
Cán bộ cơng chức

DNNN

ĐVSD

Doanh nghiệp nhà nước
Đơn vị sử dụng

ĐVSN
HĐND

Đơn vị sự nghiệp
Hội đồng nhân dân

KBNN
KT - XH

Kho bạc Nhà nước
Kinh tế - Xã hội

NSNN
NSTW

Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Trung ương

QLNN
TABMIS

Quản lý nhà nước
Hệ thống quản lý ngân sách và kho bạc

^TC


Tài chính

THHC

Tơng hợp hành chính

UBND

Ủy ban nhân dân

XDCB

Xây dựng cơ bản



DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số đơn vị giao dịch và số tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước huyện
Mỹ Hào................................................................................................................... 42
Bảng 2.2: Số liệu thu-chi NSNN tại KBNN huyện Mỹ Hào năm 2012-2014........43
Bảng 2.3: Cơ cấu chi NSNN tại Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào.....................56
Bảng 2.4: Tình hình chi ngân sách tại Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào............57
Bảng 2.5: Kiểm soát chi thường xuyên NSNN của các đơn vị tham gia giao dịch tại
Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào..........................................................................58
Bảng 2.6: Ý kiến của các đơn vị sử dụng NSNN về chi thường xuyên...................61

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào.............45
Sơ đồ 2.2: Kiểm soát chứng từ giao dịch tại Tổ kế toán.......................................... 50

Sơ đồ 2.3: Quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc Nhà nước......................54


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống Kho bạc Nhà nước được thành lập từ ngày 01 tháng 04 năm 1990 và
đã nhanh chóng trở thành cơng cụ sắc bén trong quản lý mọi hoạt động thu - chi
Ngân sách Nhà nước, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Luật Ngân sách Nhà nước ra đời, từng bước
được sửa đổi, sửa đổi, hoàn thiện đã tạo ra sự chuyển biến về công tác quản lý quỹ
Ngân sách Nhà nước. Từ khi ban hành Luật Ngân sách, quản lý chi NSNN đã có
những bước tiến quan trọng, bước đầu tạo ra những biến đổi sâu sắc cả về nhận thức
lý luận cũng như thực tiễn và đạt được những thành tựu quan trọng: xóa bỏ tình
trạng bao cấp qua ngân sách tăng thu, giảm chi hạn chế đi đến xóa bỏ phát hành tiền
để bù đắp bội chi ngân sách, đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, tạo ra bầu khơng khí mới
cho nền kinh tế - xã hội trong nước, Theo đó, cơng tác quản lý chi được thể chế hóa
và trở thành cơng cụ không thể thiếu của hệ thống KBNN. Chi NSNN đã trở thành
công cụ đắc lực trong điều hành vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước. Chi tiêu NSNN
những năm qua, ngồi việc đảm bảo hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước,
ổn định đời sống kinh tế xã hội, tạo tiền đề cho những cơ sở vật chất quan trọng góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tác động tích cực vào tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế.
Tuy nhiên bên cạnh thành tựu đạt được, trong q trình quản lý quỹ NSNN nói
chung và quản lý NSNN nói riêng cịn nhiều hạn chế, nhiều khoản chi sai mục đích
gây thất thốt, lãng phí cho NSNN. Vấn đề này đang được Đảng và Nhà nước quan
tâm ngày càng hoàn thiện hơn về chức năng, nhiệm vụ của ngành Kho bạc. Vì vậy,
những yêu cầu đổi mới hoạt động của KBNN trong công tác quản lý, cấp phát thanh
toán các khoản chi NSNN đặt ra hết sức cần thiết.

Trong thời gian qua tại KBNN Mỹ Hào, chi NSNN đã đảm bảo được các nhu
cầu
kinh phí phù hợp cho các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong
mỗi thời kỳ. Vấn đề quản lý các khoản chi NSNN có ý nghĩa hết sức to lớn về mặt
kinh
tế xã hội, địi hỏi phải có sự nghiên cứu và hoàn thiện một cách hữu hiệu nhất.


2

Cơ chế quản lý, cấp phát thanh toán chi NSNN mặc dù thường xuyên sửa đổi
và hoàn thiện, nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn đề chung và mang
tính ngun tắc. Vì vậy, nó khơng bao qt hết được tất cả những hiện tượng nảy
sinh trong quá trình thực hiện chi NSNN. Cũng chính từ đó, cơ quan tài chính và
KBNN thiếu cơ sở pháp lý cụ thể cần thiết để thực hiện, kiểm soát từng khoản chi
NSNN. Như vậy, cấp phát chi NSNN đối với cơ quan tài chính chỉ mang tính chất
phân bổ NSNN, cịn đối với KBNN thực chất chỉ là xuất quỹ NSNN, chưa thực hiện
được việc chi trả trực tiếp đến từng đơn vị sử dụng kinh phí, chưa phát huy hết vai
trị kiểm tra, kiểm sốt các khoản chi NSNN. Mặt khác, cùng với sự phát triển kinh
tế - xã hội (KT-XH) của đất nước, công tác chi NSNN cũng ngày càng đa dạng và
phức tạp hơn. Điều này cũng làm cho cơ chế quản lý chi thường xuyên NSNN
nhiều khi không theo kịp sự biến động và phát triển của hoạt động chi NSNN.
Trong đó, một số nhân tố quan trọng như hệ thống tiêu chuẩn định mức chi tiêu còn
chưa phù hợp với thực tế, thiếu đồng bộ, thiếu căn cứ để thẩm định; chưa có một cơ
chế quản lý chi thường xuyên phù hợp và chặt chẽ đối với một số lĩnh vực.
Các khoản chi NSNN đều mang tính chất khơng hồn trả trực tiếp. Tính cấp
phát trực tiếp khơng hồn lại của các khoản chi NSNN là một ưu thế lớn đối với các
đơn vị sử dụng NSNN. Trách nhiệm của họ là phải chứng minh việc sử dụng các
khoản kinh phí bằng các kết quả cơng việc cụ thể đã được Nhà nước giao. Tuy
nhiên, việc sử dụng những chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá và đo lường

kết quả công việc trong nhiều trường hợp là thiếu chính xác và gặp khơng ít khó
khăn. Từ thực tế trên, địi hỏi những cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc kiểm tra,
giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu
cực của những đơn vị sử dụng kinh phí NSNN; đồng thời phát hiện những kẽ hở
trong cơ chế quản lý để có những giải pháp và kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung kịp
thời những cơ chế, chính sách hiện hành, tạo nên một cơ chế quản lý chi thường
xuyên chặt chẽ.
Trong thời gian gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này, song
mới nghiên cứu tổng thể, vai trị, trách nhiệm của cơ quan kiểm sốt thanh tốn; tuy


3

nhiên chưa đưa ra được những vấn đề bất cập đến những cơ chế, chính sách, các chế
độ và quy trình nghiệp vụ có liên quan đến quản lý chi thường xuyên NSNN. Mặt
khác lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN và trách nhiệm của cơ quan kiểm
soát, thanh toán NSNN trong nền kinh tế thị trường chưa được nghiên cứu đầy đủ
dưới giác độ quản lý kinh tế.
Trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay đã có nhiều thay đổi quy trình, chế độ
nghiệp vụ mới theo chương trình Hệ thống thơng tin quản lý Ngân sách và Kho bạc
tích hợp (TABMIS) ứng dụng cho tồn bộ đơn vị sử dụng ngân sách và các đơn vị
kiểm sốt chi (tài chính và Kho bạc Nhà nước). Theo đó TABMIS là hệ thống thơng
tin xử lý tập trung thực hiện các chức năng: Quản lý hệ thống tài khoản, mục lục
ngân sách;quản lý thu ngân sách; quản lý chi ngân sách; cam kết chi ngân sách;
quản lý ngân quỹ. Ngồi các chức năng đó, TABMIS có khả năng xử lý các nghiệp
vụ cuối năm và lập báo cáo. Một số giao diện với bên ngoài cũng được xây dựng,
sẵn sàng để thu nhận thơng tin. Vì vậy, hệ thống quy trình nghiệp vụ quản lý ngân
sách, Kho bạc và chế độ kế toán nhà nước áp dụng cho TABMIS được rà sốt hồn
thiện, kế tốn, lập báo cáo tài chính và quyết tốn ngân sách, trong đó có nhiều nội
dung cải cách nhưng vẫn đảm bảo những nguyên tắc cơ bản đặt ra là phù hợp với

yêu cầu quản lý của Việt Nam, hướng tới thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Hiện nay
đã có những thơng tư mới được thay thế và sửa đổi những chế độ, chính sách về
quản lý tài chính, kế tốn được bổ sung.
Xuất phát từ những nhận định trên tác giả đã mạnh dạn chọn lựa và nghiên
cứu đề tài: “Giảipháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên Ngân sách
Nhà nước tạiKho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên” làm đề tài Luận
văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần
hồn thiện cơng tác quản lý chi thường xun từ nguồn NSNN nói riêng và cơng tác
quản lý chi NSNN nói chung.
2. Tổng quan tình hình của đề tài
Hiện nay, giải pháp hồn thiện cơng tác quản lý chi thường xuyên NSNN đang
được xã hội quan tâm. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu những nội dung liên quan


4

đến vấn đề này với các mức độ khác nhau như:
- Nguyễn Văn Hùng (2010), “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực
quản lý Nhà nước về đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2005- 2010", Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Thương Mại. Luận văn đánh
giá tổng quan về thực trạng đầu tư và xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai
đoạn 2005- 2010; nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý của nhà
nước về đầu tư và xây dựng trên địa bàn Hà Nội.
- Lê Toàn Thắng (2012) “ Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách
Nhà nước của Thành phố Hà Nội’”, luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị. Luận văn hệ
thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN Thành
phố Hà Nội. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN
Thành phố Hà Nội. Đề xuất phương hướng, giải pháp quản lý vốn đầu tư XDCB từ
NSNN của Thành phố Hà Nội.
- Trong bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Anh, nói về “Phát triển nguồn

nhân lực đáp ứng chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020””,
khẳng
định: Ngay từ đầu mới thành lập, KBNN đã xác định nguồn nhân lực là một trong
những nguồn lực cơ bản, phát triển nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong chiến
lược quản lý nền công vụ và giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngồi ra cịn nhiều cơng trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp hồn thiện
công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc bằng vốn NSNN, một số
nghiên cứu đã có giá trị nhất định trong việc hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật
về giải pháp hồn thiện cơng tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Kho bạc
nhưng
mới tập trung vào một vấn đề trong hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN,
nghiên cứu chung về quản lý. Cho tới nay chưa có một cơng trình nghiên cứu đến
lĩnh vực hồn thiện cơng tác quản lý chi thường xun NSNN tại Kho bạc Nhà nước
huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Tuy nhiên các cơng trình khoa học đã được cơng bố
là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu luận văn này.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đề xuất giải pháp hồn thiện cơng tác quản lý chi thường xuyên


5

NSNN tại KBNN huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Để thực hiện mục tiêu nghiên
cứu này, luận văn thực hiện các mục tiêu sau:
3.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng công tác quản
lý chi thường xuyên NSNN tại KBNN huyện Mỹ Hào, đề xuất và hồn thiện. Từ đó
đề ra các giải pháp quản lý chi thường xuyên của KBNN về chi NSNN. Góp phần
nâng cao hiệu quả và tăng cường công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại
KBNN huyện Mỹ Hào nói riêng và hệ thống KBNN nói chung.
3.2. Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cở sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi thường
xuyên
tại hệ thống KBNN.
- Đánh giá thực trạng tình hình quản lý chi thường xuyên NSNN tại KBNN
huyện Mỹ Hào.
- Đề xuất và hoàn thiện giải pháp quản lý chi thường xuyên NSNN tại KBNN
huyện Mỹ Hào.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan
đến việc hồn thiện quản lý hoạt động chi thường xuyên tại KBNN.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Phạm vi nghiên cứu tập trung vào những vấn đề về
hoàn thiện quản lý chi thường xuyên tại KBNN.
- Phạm vi không gian: nghiên cứu trong hệ thống KBNN huyện Mỹ Hào.
- Phạm vi về thời gian: Số liệu phân tích thực trạng được sử dụng chủ yếu 4
năm từ 2011 đến 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử; nghiên cứu lý thuyết và vận dụng các văn bản
quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê, phân tích số liệu, phương pháp đối


6

chiếu, so sánh, suy luận và điều tra bằng câu hỏi nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu

>


Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn nào có thể làm rõ cơng tác quản lý chi
thuờng xuyên NSNN tại hệ thống KBNN

>

Thực trạng quản lý chi thuờng xuyên NSNN tại KBNN huyện Mỹ Hào nhu
thế nào? Đã đạt đuợc những gì? Cịn tồn tại, hạn chế, ngun nhân gì?

>

Cần có giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý chi thuờng xuyên
NSNN tại KBNN huyện Mỹ Hào.
6. Ket cấu Luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, Luận văn đuợc chia thành 3 chuơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách
nhà nước tại Kho bạc Nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà
nước tại Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân
sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước huyện Mỹ Hào


7

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
1.1.1. Ngân sách nhà nước

1.1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, nó phản
ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản
phẩm xã hội trong điều kiện tồn tai quan hệ hàng hóa - tiền tệ và đã được sử dụng
như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Điều này có nghĩa là sự ra
đời và tồn tại của NSNN gắn liền với sản xuất hàng hóa, với sự ra đời và tồn tại của
Nhà nước.
Tuy đã tồn tại khá lâu, nhưng đến nay, NSNN vẫn được nhìn nhận dưới nhiều
giác độ khác nhau và khái niệm NSNN cũng chưa thống nhất. Theo từ điển Bách
Khoa Tồn Thư của Liên Xơ (cũ) (năm 1971) cho rằng: “Ngân sách là bảng liệt kê
các khoản thu chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơ quan hoặc cá nhân nào
trong một giai đoạn nhất định”.
Theo từ điển Bách Khoa Toàn Thư về kinh tế của Pháp định nghĩa “Ngân sách
là văn kiện được Nghị viện hoặc hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, các
nghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức cơng (Nhà nước, chính quyền, địa
phương, đơn vị cơng hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội...) được dự kiến và cho phép”.
Từ điển kinh tế thị trường của Trung Quốc khẳng định “Ngân sách nhà nước
là kế hoạch thi chi tài chính hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự
pháp định”.
Từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng (1996) của Viện Nghiên cứu Tài chính
cho rằng “ Ngân sách được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (tiền
thu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia


8

đình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)”.
Riêng về khái niệm NSNN, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau;
“Thuộc nhóm thứ nhất, NSNN là một bản dự toán thu chi trong năm của Nhà
nước. Cách quan niệm đó đúng về hình thức, nhưng đó chỉ là giai đoạn của q

trình ngân sách và cũng chưa thể hiện được vị trí của NSNN.”
Một số tác giả thuộc nhóm thứ hai cho rằng, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của
nhà nước. Cách quan niệm đó đúng khi người ta đã thực thể hóa được NSNN và
cũng nêu lên được vị trí của NSNN so với các quỹ tiền tệ khác. Vì thực tế cũng
thường thấy, thu của Nhà nước đưa vào một quỹ tiền tệ và chi của Nhà nước cũng
xuất từ quỹ tiền tệ đó. Nhưng các quan niệm này chưa phản ánh được vị trí cân đối
vĩ mơ của NSNN trong nền kinh tế quốc dân.
Theo quan điểm thuộc nhóm thứ ba thì NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế
giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình. Nhà nước huy động và phân phối
các nguồn tài chính. Quan niệm này đúng là đã nói được NSNN chứa đựng các
quan hệ kinh tế, nhưng lại không nói được thực thể NSNN là gì? Quan hệ kinh tế đó
có phải là quan hệ tài chính - ngân sách không?
Thực chất, các quan điểm trên không khác nhau q lớn, hồn tồn có thể xích
lại gần nhau. Dựa trên cơ sở phân tích đó và quan sát hiện thực có thể khái niệm
NSNN như sau: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu - chi của Nhà nước
đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước.
Từ các tài liệu vừa nêu trên, có thể rút ra một số đặc trưng của ngân sách như
sau:
- Ngân sách là một bảng liệt kê, trong đó dự kiến và thực hiện các khoản thu
chi bằng tiền của một chủ thể nào đó (Nhà nước, bộ, xí nghiệp, gia đình, cá nhân).
- Ngân sách chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định (thường là
một năm).
Với hai đặc trưng trên là cơ sở để xác định khái niệm về ngân sách nhà nước.
Nói cách khác, về mặt khái niệm, có thể hiểu ngân sách nhà nước là dự toán (kế
hoạch) thu - chi bằng tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định


9


(thường là một năm).
Theo Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ hai thơng qua ngày 16/12/2002 có hiệu lực thi hành từ
năm ngân sách 2004, cho rằng: iiNgan sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước’”. Khái niệm có thể coi là cơ
bản nhất trong các khái niệm đã nêu trong đề tài và cũng đồng quan điểm với tác giả
về ngân sách nhà nước.
1.1.1.2. Bản chất ngân sách nhà nước
Những khái niệm hoặc định nghĩa trên về NSNN chỉ thể hiện về tính pháp lý
hoặc hình thức hoạt động của NSNN, mà chưa đi sâu vào nội dung khoa học của
NSNN với tư cách nó là phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với bản chất, chức năng
của Nhà nước đương quyền. Dựa trên cơ sỏ phân tích khoa học về quá trình hình
thành, tồn tại và phát triển của tài chính và ngân sách, hầu hết các nhà khoa học tài
chính đều thừa nhận tài chính nói chung và ngân sách nói riêng là phạm trù kinh tế lịch sử. Là phạm trù kinh tế, nó gắn liền với sự phát triển kinh tế - hàng hóa; là
phạm trù lịch sử nó gắn với sự ra đời và phát triển của Nhà nước và là công cụ kinh
tế của Nhà nước. Thông qua Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệ
phân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng việc huy động một bộ
phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và các hình thức động viên khác để
đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước. Việc thực hiện các quan hệ
phân phối nói trên, chủ yếu thơng qua quyền lực chính trị của Nhà nước, bằng thể
chế hóa của pháp luật, để động viên các nguồn tài chính có tính chất bắt buộc và
hình thành quỹ tiền tệ tập trung, phục vụ cho các chức năng của Nhà nước đương
quyền. Do vậy, nếu nhìn về hình thức hoạt động của NSNN, chắc chắn có nhiều
quan điểm khác nhau về bản chất của NSNN.
Để có cách nhìn nhận đầy đủ hơn về bản chất của NSNN một cách toàn diện
cả về phương diện khoa học và thực tiễn. Đồng thời với tư cách là công cụ kinh tế
của Nhà nước; cần phải xem xét trên các góc độ như sau:



10

Thứ nhất, trên góc độ khoa học - ngân sách là phạm trù kinh tế - lịch sử.
Thứ hai, nhìn từ góc độ kinh tế - xã hội, ngân sách phản ánh tổng thể các
quan hệ kinh tế - xã hội thông qua quan hệ động viên các nguồn lực tài chính và
phân phối các nguồn lực tài chính đó cho các mục tiêu kinh tế - xã hội.
Thứ ba, dưới góc độ nội dung - ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung
lớn nhất, được sử dụng để thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Thứ tư, từ góc độ quản lý - ngân sách là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà
nước hay bảng cân đối thu - chi chủ yếu của Nhà nước.
Thứ năm, trên góc độ pháp lý - NSNN là đạo luật tài chính cơ bản trong năm
tài chính.
Từ cách tiếp cận đó, có thể rút ra bản chất sâu sa của NSNN:
Ngân sách nhà nước là hệ thống (tổng thể) các quan hệ kinh tế, gắn liền với
quá trình phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập
trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước
trong từng thời ký nhất định.
Các quan hệ kinh tế thuộc phạm trù ngân sách nói trên bao gồm:
Thứ nhất, quan hệ giữa NSNN với các tổ chức kinh tế (doanh nghiêp) - thông
qua việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh duới hình thức động viên
thuế, phí để hình thành nguồn lực tài chính của Nhà nuớc. Nguợc lại, NSNN thực
hiện việc đầu tu và tài trợ hoạt động của các doanh nghiệp nhu: xây dựng cơ sở hạ
tầng kinh tế, trợ giá, trợ vố bao tiêu để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp
cạnh tranh phát triển. Quan hệ giữa NSNN với các doanh nghiệp có thể coi nhu mối
quan hệ trung tâm của hệ thống tài chính, đó chính là mối quan hệ giữa khâu chủ
đạo trong hệ thống tài chính (tài chính doanh nghiệp). Quan hệ giữa NSNN và tài
chính doanh nghiệp là đâu mối trong phân phối các nguồn lực tài chính, quyết định
đến quan hệ tích tụ, tập trung vốn và ảnh huởng đến cả quy mô và cơ chế vận hành
của hệ thống tài chính. Mặt khác, mối quan hệ giữa hai khâu này có tính chất quyết
định đến việc hình thành cơ chế quản lý tài chính và trực tiếp tác động tích cực đến

q trình kinh tế. Thơng qua mối quan hệ đó, Nhà nuớc còn thực hiện kiểm tra


11

thường xun, tồn diện các hoạt động kinh doanh, mơi trường kinh doanh và tuân
thủ pháp luật tài chính. Trên cơ sở đó, Nhà nước thực hiện điều chỉnh, hồn thiện
chính sách, cơ chế tài chính ngân sách thích ứng với quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế.
Thứ hai, quan hệ giữa NSNN với các cơ quan chức năng của Nhà nước (cơ
quan quản lý Hành chính sự nghiệp hay các lĩnh vực không sản xuất vật chất). Các
cơ quan này tuy không trực tiếp sản xuất và tạo ra nguồn lực tài chính nhưng theo
một cách gián tiếp cũng góp phần phát triển kinh tế thơng qua các hoạt động văn
hóa, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội và an ninh - quốc phòng. Quan hệ ngân sách và
các cơ quan chức năng của Nhà nước thông qua cấp phát kinh phí của ngân sách
cho các đơn vị dự toán từ trung ương đên địa phương thuộc lĩnh vực quản lý nhà
nước, sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội... Các hoạt động này sẽ tạo ra các
nguồn lực tài chính tiềm ẩn và tiềm năng cho phát triển kinh tế và khai thác gián
tiếp các nguồn lực tài chính. Điều đó được giải thích khi mà tri thức và khoa học
tiến bộ biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Do đó, có thêt coi đây là quan hệ
kinh tế của NSNN.
Trong cơ chế kinh tế thị trường có những quan hệ sau: Quan hệ kinh tế giữa
Nhà nước và các tổ chức xã hội; Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tầng lớp dân
cư; Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trên thị trường tài chính.
Thứ ba, quan hệ giữa NSNN với các tầng lớp dân cư thơng qua nghĩa vụ nộp
thuế, phí đối với các thể nhân; các hình thức tín dụng nhà nước (trái phiếu, tín
phiếu.) và các nguồn đóng góp tự nguyện của người dân (xổ số kiến thiết, đóng
góp tự nguyện tiền và tài sản). về phía Nhà nước, quan hệ này được hồn trả gián
tiếp bằng các cơng trình phúc lợi cơng cộng về kinh tế - văn hóa - xã hội. Ngồi ra,
Nhà nước cịn thực hiện các khoản trợ cấp xã hội từ ngân sách như: chính sách

thương binh xã hội, học bổng, cứu tế xã hội, trợ cấp cho những người khơng nơi
nương tựa và các chương trình phúc lợi an sinh như: nước sạch, vệ sinh môi trường,
trường học, bệnh viện, trạm xá và các công tác xã hội nhân đạo khác. Tất cả những
mặt trên suy cho cùng cũng là quan hệ kinh tế, vì mục đích kinh tế và hướng tới an


12

sinh cho mọi tầng lớp dân cư.
Thứ tư, quan hệ giữa Nhà nước với các định chế tài chính quốc tế với các
Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ.
Những quan hệ nói trên thể hiện rõ nội dung kinh tế - xã hội của NSNN, nhìn
trên
góc độ NSNN vừa là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế trọng yếu của Nhà
nước.
Ngoài ra trong tư cách là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế của Nhà
nước; do vậy, khi xem xét bản chất của NSNN một cách đầy đủ và sâu sắc hơn,
cũng cần gắn nó với các yếu tố sau:
Thứ nhất, với các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước đương thời, với
chính sách kinh tế - xã hội đó thể hiện rõ bản chất của Nhà nước đề ra các chính
sách đó và bản chất của Nhà nước thẩm thấu vào bản chất của NSNN, với ngân
sách là cơng cụ đắc lực của chính sách Nhà nước đó.
Thứ hai, với phương thức sản xuất tương ứng cốt lõi là quan hệ sản xuất. Bởi
lẽ phương thức sản xuất nào sẽ quyết định việc hình thành thể chế kinh tế, cơ chế tài
chính, cũng như cơ chế quản lý tài chính và ngân sách.
Tóm lại: Những phân tích trên đã hình thành những yếu tố quan trọng để nhìn
nhận một cách toàn diện, khoa học, thực tiễn về bản chất của NSNN, trong tư cách
vừa là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế của Nhà nước.
Trên cơ sở đó, vận dụng nó để xây dựng các chính sách và cơ chế quản lý tài
chính, ngân sách, thích ứng, nhằm thúc đẩy q trình tăng trưởng và phát triển kinh

tế một cách hiệu quả và bền vững.
Bản chất của NSNN còn thể hiện trong hoạt động thực tiễn thông qua các chức
năng của NSNN.
1.1.1.3. Chức năng của ngân sách nhà nước

❖ Chức năng phân phối
Phân phối của NSNN không chỉ dừng ở khâu phân phối thu nhập mà bao gồm
cả phân phối các yếu tố đầu vào, cu thể là phân bổ các nguồn lực tài chính cho các
đối tượng sử dụng.
- Đối tượng phân phối của NSNN là các nguồn lực tài chính do thu nhập


13

quốc dân mới sáng tạo thuộc các thành phần kinh tế cùng các khoản vay, muợn của
Chính phủ, gắn với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà
nuớc trong quá trình thực hiện chức năng phân phối.
- Phạm vi phân phối của NSNN đuợc giới hạn ở các nghiệp vụ có liên quan
đến quyền chủ sở hữu và quyền lực chính trị của Nhà nuớc, cụ thể nhu sau:
+ Phân phối nguồn lực tài chính và tài trợ vốn cho các doanh nghiệp, thuờng
là các doanh nghiệp mà Nhà nuớc chủ sở hữu toàn bộ hay một bộ phận duới hình
thức liên doanh liên kết hoặc chi cho đầu tu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
bằng nguồn vốn tập trung từ NSNN.
+ Phân phối thu nhập cho nhu cầu của các cơ quan và tổ chức kinh tế nằm
trong cơ cấu bộ máy nhà nuớc từ trung uơng đến địa phuơng.
- Đặc trung cơ bản của phân phối NSNN:
+ Phân phối duới hình thức giá trị, chủ yếu sử dụng tiền tệ làm đơn vị tính
tốn và phuơng tiện thanh toán.
+ Phân phối và tái phân phối đuợc thực hiện thông qua hệ thống động viên các
nguồn lực tài chính hình thành qua hệ thống NSNN bảo đảm quan hệ cân đối trong

nền kinh tế quốc dân.
+ Tham gia khơng đầy đủ vào q trình phân phối các yếu tố đầu vào, chủ yếu
là Nhà nuớc đầu tu trực tiếp, cấp vốn kinh doanh, trợ cấp đối với nền kinh tế.
+ Thực hiện phân phối kết quả của quá trình sản xuất, cung ứng hàng hóa,
dịch vụ chủ yếu thơng qua thuế, phí, lệ phí, thu nhập quyền sở hữu, các khoản chi
NSNN cho cộng đồng.
+ Phân phối NSNN tác động đến cả hai bên cung và cầu của nền kinh tế, gắn
liền với sự hình thành và sử dụng quỹ NSNN của Nhà nuớc.
+ Nhà nuớc luôn là chủ thể quyết định trong các quan hệ phân phối có liên
quan đến NSNN, Nhà nuớc sử dụng tối đa quyền lực chính trị thực hiện chức năng
phân phối của NSNN.
+ về cơ bản, quá trình phân phối lại của NSNN đa phần mang đặc tính khơng
hồn trả.


14

về mục đích, phân phối của NSNN hướng vào việc giải quyết một cách thỏa
đáng mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng xã hội, thực hiện tái sản xuất mở rộng,
xác lập cơ cấu KT - XH hợp lý, làm nền tảng cho quá trình phát triển phù hợp với
các quy luật khách quan.

> Chức năng giám đốc
Chức năng giám đốc là một thuộc tính khách quan vốn có của NSNN. Giám
đốc ở đây được hiểu là giám sát, đôn đốc, kiểm tra bằng đồng tiền, tiến hành một
cách thường xuyên, liên tục cùng với quá trình vận động của các đối tượng phân
phối NSNN.
- Đặc trưng cơ bản của giám đốc NSNN:
+ Giám đốc của NSNN là giám đốc bằng đồng tiền thơng qua q trình vận
động của đồng tiền từ khâu huy động các nguồn lực tài chính đến khâu tái phân

phối các nguồn lực đó cho các đối tượng sử dụng.
+ Giám đốc NSNN được thực hành từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của chu
kỳ phân phối của NSNN. Hay nói cách khác, là được thực hiện ở tất cả các giai
đoạn trước, trong và sau khi thực hiện.



Giám đốc trước khi thực hiện: là giám đốc ở khâu lập kế hoạch nhằm

đảm
bảo tính đúng đắn, chính xác và hợp lý hiệu quả của dự tốn NSNN, trong kế hoach
tài chính của các tổ chức kinh tế, của các dự toán tại các cơ quan đơn vị Hành chính
sự nghiệp. Thơng qua đó nhằm điều tiết các chỉ tiêu kinh tế, bảo đảm ngân sách từ
khi lập dự toán.



Giám đốc trong khi thực hiện: là giám đốc quá trình chấp hành thu -

chi
NSNN, giám đốc thực hiện kế hoạch tài chính và dự tốn kinh phí. Khâu này giữ vai
trị quan trọng nhất trong quản lý NSNN, bởi vì thơng qua kiểm tra thực hiện
NSNN

,

nhằm đảm bảo NSNN thường xuyên cân đối và thực hiện điều hành NSNN khi các
khoản thu - chi ngân sách không đảm bảo quan hệ cân đối cục bộ hay toàn cục.




Giám đốc sau khi thực hiện : là giám đốc tiến hành sau khi kết thúc

chu
kỳ
vận động của các quỹ và vốn tiền tệ thông qua các báo cáo quyết tốn tài chính,
ngân sách, nhằm đảm bảo xác lập cân đối NSNN cho năm kế hoạch.


15

Trong các giai đoạn giai đoạn giám đốc nêu trên thì giám đốc trong khi thực
hiện là khâu quan trọng nhất, vì khâu này là nhân tố quyết định đến việc biến kế
hoạch thành hiện thực.
+ Giám đốc NSNN bao gồm giám đốc tuân thủ và giám đốc hiệu quả.

❖ Giám đốc tuân thủ : là giám đốc quá trình hình thành và sử dụng quỹ
NSNN, xem xét trong quá trình đó, cơng việc thu, chi, tài trợ, cấp vốn,... có tn
thủ đúng chế độ, đúng dự tốn được phê chuẩn, có nằm trong khn khổ luật pháp
cho phép hay không.

❖Giám đốc hiệu quả : là thông qua phân phối thu - chi NSNN mà xem xét
việc phân phối và sử dụng NSNN có mang lại hiệu quả KT - XH khơng.
về mục đích, Giám đốc NSNN là hướng vào việc đảm bảo tính hiệu quả, tiết
kiệm trong việc huy động cũng như sử dụng đồng vốn của NSNN và giữ kỷ luật
tài chính.
Thực hiện tốt chức năng giám đốc NSNN mang lại những ý nghĩa vô cùng
quan trọng, cụ thể:
+ Đảm bảo tính hợp lý trong mối quan hệ giữa tích tụ và tập trung vốn, cũng
như giữa tích lũy với tiêu dùng xã hội.

+ Cho phép khai thác mọi khả năng tiềm tàng sẵn có trong nền kinh tế quốc
dân.
+ Bảo đảm các quan hệ cân đối trong qua trình phát triển kinh tế, từ đó xác lập
cơ cấu kinh tế hợp lý.
+ Duy trì kỷ cương, pháp luật tài chính, chống tham nhũng và các hiện tượng
gây lãng phí của cải xã hội.
+ Phát hiện kịp thời những sai sót trong q trình phân phối, từ đó thực hiện
việc điều chỉnh nó để đảm bảo sự lành mạnh của các quan hệ kinh tế.
Giữa chức năng phân phối và giám đốc của NSNN có mối qua hệ hữu cơ với
nhau trong quá trình hình thành và vận động của NSNN. Trong đó, phân phối là
chức năng trọng yếu của NSNN, chức năng phân phối vừa là tiền đề, vừa là cơ sở
cho sự hình thành và vận động của chức năng giám đốc, thông qua phân phối mà
thực hiện giám sát, kiểm tra; ngược lại nhờ có kiểm tra, giám sát mà quá trình phân


×