BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
PHẠM THỊ MỸ
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CỦA NGHIỆP VỤ
KÝ QUỸ TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
PHẠM THỊ MỸ
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO CỦA NGHIỆP VỤ
KÝ QUỸ TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHỐN
VIỆT NAM
Chun ngành : Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Mã số
: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔ KIM NGỌC
Hà Nội - 2011
_______________________ft__________________________
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NGHIỆP VỤ KÝ QUỸ VÀ RỦI RO CỦA NGHIỆP VỤ KÝ QUỸ
TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN............................................................4
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nghiệp vụ ký quỹ trong kinh doanh chứng
khoán........................................................................................................................4
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của nghiệp vụ ký quỹ............................................. 4
1.1.2 Phân loại nghiệp vụ ký quỹ................................................................... 10
1.1.3 Vai trò của nghiệp vụ ký quỹ................................................................. 11
1.2 Rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ............................................................................13
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ.............................13
1.2.3 Phân loại rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ...................................................14
1.2.4 Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro nghiệp vụ ký quỹ...........................16
1.3 Các giải pháp hạn chế rủi ro trong nghiệp vụ ký quỹ....................................... 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO CỦA NGHIỆP VỤ KÝ QUỸ TẠI CÁC
CƠNG TY CHỨNG KHỐN VIỆT NAM......................................................... 23
2.1 Sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng khốn
Việt Nam................................................................................................................. 23
2.2 Thực trạng rủi ro trong nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng khốn Việt
Nam........................................................................................................................ 26
2.2.1 Thực trạng rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ................................................26
2.2.2 Đánh giá về mức độ rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ và ảnh hưởng của nó tới
các cơng ty chứng khốn Việt Nam.................................................................46
2.3 Các giải pháp hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng khốn
Việt Nam................................................................................................................. 48
2.4 Đánh giá các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các công
ty chứng khoán Việt Nam........................................................................................49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HẠN CHẾ RỦI RO CỦA NGHIỆP
VỤ KÝ QUỸ TẠI CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.................52
3.1 Định hướng phát triển nghiệp vụ và nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng
khốn Việt Nam trong thời gian tới......................................................................... 52
3.2 Nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng khốn
Việt Nam trong thời gian tới...................................................................................53
3.3 Giải pháp hạn chế rủi ro nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng khốn Việt
Nam......................................................................................................................... 55
3.3.1 Biện pháp xử lý khi rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ xảy ra tại cơng ty chứng
khốn............................................................................................................... 55
3.3.2 Giải pháp phịng ngừa hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ cho cơng ty
chứng khốn....................................................................................................58
3.4 Một số kiến nghị..............................................................................................67
3.4.1 Đối với Bộ tài chính, và Ủy ban chứng khốn Nhà nước......................67
3.4.2 Đối với các sở giao dịch và trung tâm lưu ký....................................... 67
KẾT LUẬN............................................................................................................ 69
PHỤ LỤC............................................................................................................... 70
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: So sánh Nghiệp vụ Ký quỹ và Nghiệp vụ Cầm cố....................................8
Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu tài chính Năm 2009, 2010 và QI/2011.......................29
Bảng 2.2: Chi tiết các khoản vay năm 2009, năm 2010 (VNDS)...........................30
Bảng 2.3: Dư nợ vay ký quỹ năm 2009, 2010 và quý I/2011.................................31
Bảng 2.4: Giao dịch ký quỹ với IPA năm 2010 của VNDS....................................32
Bảng 2.5: Biểu Lãi suất cho vay ký quỹ của VNDS..............................................32
Bảng 2.6: Chi phí sử dụng vốn (VNDS)................................................................33
Bảng 2.7: Kết quả kinh doanh 2010 (VNDS)........................................................ 35
Bảng 2.8: Giá trị các hợp đồng hợp tác đầu tư (SBS)............................................38
Bảng 2.9: Lãi phải thu các khoản cho vay ký quỹ (SBS).......................................39
Bảng 2.10: Lợi nhuận từ hoạt động hợp tác đầu tư (SBS).......................................40
Bảng 2.11: Rủi ro thanh khoản VNDS - SBS..........................................................43
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp dư nợ của nghiệp vụ ký quỹ............................................56
Biểu đồ 2.1: Lãi suất cho vay ký quỹ /năm (VNDS)...............................................33
Biểu đồ 2.2: Chi phí kinh doanh năm 2010 theo bộ phận (VNDS).....................34
Biểu đồ2.3: Kết quả kinh doanh năm 2010 theo bộ phận (VNDS)..........................36
Biểu đồ 2.4: Lãi ký quỹ phải thu (SBS).................................................................. 39
Biểu đồ 2.5: Thu nhập từ Hợp tác đầu tư và ủy thác đầu tư 2010 (SBS).............40
Biểu đồ 2.6: Thu nhập từ Hợp tác đầu tư và ủy thác đầu tư 2009 (SBS).............41
Hình 2.1: Quy trình nghiệp vụ ký quỹ.....................................................................27
Hình 3.1: Quy trình xử lý nợ ký quỹ.......................................................................56
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Nghiệp vụ ký quỹ hiện đang được sử dụng phổ biến ở các quốc gia có thị trường
chứng khốn phát triển trên thế giới. Tại Việt Nam, hoạt động này hình thành từ đầu
năm 2009 và hiện nay được triển khai ở hầu hết các cơng ty chứng khốn.
về mặt lý luận, trên thế giới, nghiệp vụ ký quỹ đã ra đời và phát triển hơn 180
năm, tuy nhiên ở Việt Nam hoạt động khá mới mẻ và hoạt động một cách tự phát.
Vì vậy cần tìm hiểu nghiệp vụ này để có thể nhận diện, đánh giá được lợi ích cũng
như rủi ro mà nó đem lại; đồng thời để phân biệt rõ tính chất và phạm vi của nghiệp
vụ ký quỹ tại cơng ty chứng khốn với hoạt động tín dụng cầm cố của các ngân
hàng.
về mặt pháp lý, cho tới hết tháng 03/2011 Ủy ban chứng khoán Nhà nước mới
chỉ đưa ra bản dự thảo Thông tư hướng dẫn giao dịch ký quỹ để lấy ý kiến của các
công ty chứng khốn mà chưa có bất kỳ văn bản nào quy định cụ thể cho hoạt động
này.
về mặt thực tế, nghiệp vụ ký quỹ tiềm ẩn nhiều rủi ro cả về mặt pháp lý lẫn kinh
tế. Nhưng đồng thời, nghiệp vụ này lại có ý nghĩa lớn đối với các cơng ty chứng
khốn, nó mang lại thu nhập trực tiếp cũng như góp phần hỗ trợ vốn ngắn hạn cho
nhà đầu tư, tăng tính thanh khoản cho thị trường. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để
nhận biết các rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các công ty chứng khốn hiện nay và
tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế những rủi ro đó. Do vậy, cần có một nghiên cứu
cụ thể để đánh giá về các rủi ro và đưa ra giải pháp nhằm hạn chế rủi ro của nghiệp
vụ ký quỹ tại các công ty chứng khốn Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy tác giả đã
chọn đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng
khốn Việt Nam ” nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn trên.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng
khốn Việt Nam ” nhằm giải quyết các vấn đề sau:
2
về mặt lý luận, đề tài đưa ra khái niệm, đặc điểm và vai trò của nghiệp vụ ký
quỹ; khái niệm, đặc điểm, phân loại, nguyên nhân rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ trong
kinh doanh chứng khoán và các giải pháp hạn chế rủi ro này.
về mặt thực tiễn, đề tài chỉ ra các rủi ro cơ bản mà cơng ty chứng khốn gặp
phải khi thực hiện nghiệp vụ ký quỹ chứng khoán; Đánh giá các giải pháp đã áp
dụng nhằm hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng khốn: Cơng
ty cổ phần chứng khốn VNDIRECT (VNDS), Cơng ty cổ phần chứng khốn ngân
hàng Sài Gịn Thương Tín (SBS), Cơng ty cổ phần chứng khốn Thủ Đơ (CSC),
Cơng ty cổ phần chứng khốn ARTEX (ARTEX); Đưa ra giải pháp hạn chế rủi ro
của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng khốn của Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Rủi ro và các giải
pháp hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ ở cơng ty
chứng khốn VNDS, SBS, CSC, Atex và các giải pháp mà các công ty này đã áp
dụng nhằm hạn chế rủi ro.
Giới hạn về phạm vi không gian, thời gian: Đề tài nghiên cứu rủi ro; các giải
pháp hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng khốn: VNDS,
SBS, CSC, Atex từ tháng 12/2009 đến 31/03/2011 và được tiến hành trong năm
2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các cơng ty chứng
khốn Việt NamP áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập thông tin: trong phương pháp này, tác giả áp dụng các kỹ
thuật phân tích tài liệu để có được các thơng tin phục vụ nghiên cứu. Các tài liệu tác
giả thu thập gồm:
• Quy trình giao dịch ký quỹ (Ký quỹ) của VNDS; SBS; CSC, Atex.
3
Luật chứng khốn 2006; Bản dự thảo Thơng tư hướng dẫn mua bán chứng
khoán ký quỹ ; Các bài viết về rủi ro của giao dịch ký trên các tạp chí Đầu tư chứng
khốn.
•
Báo cáo tài chính kiểm tốn năm 2009, năm 2010 và Quý I/2011 của các công ty
chứng khốn VNDS, CSC, SBS, Artex.
Q trình thu thập, phân loại tài liệu giúp tác giả có được các thơng tin về mặt pháp
lý, số liệu của nghiệp vụ ký quỹ, các rủi ro của nghiệp vụ này tại các công ty chứng
khoán.
- Phương pháp quan sát đối tượng: quan sát các nhân viên tiến hành tư vấn khách
hàng về quy định của cơng ty đối với chứng khốn ký quỹ. Giải thích về kỹ thuật xử
lý nghiệp vụ của nhân viên.
- Phương pháp xử lý thông tin: Tổng hợp các rủi ro cụ thể để khái quát được các
rủi ro cơ bản có thể có khi thực hiện nghiệp vụ ký quỹ tại cơng ty chứng khốn Việt
Nam.
Ngồi ra, trong q trình thực hiện luận văn, tác giả cịn sử dụng các phương
pháp khác như phương pháp so sánh, kỹ thuật phân tích báo tài chính.
5. Ket cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3
chương sau:
Chương 1: Nghiệp vụ ký quỹ và rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ trong kinh doanh
chứng khoán
Chương 2: Thực trạng rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các công ty chứng khoán
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tại các
công ty chứng khốn Việt Nam
•
4
CHƯƠNG 1: NGHIỆP VỤ KÝ QUỸ VÀ RỦI RO CỦA NGHIỆP VỤ KÝ
QUỸ TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nghiệp vụ ký quỹ trong kinh doanh
chứng khoán
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của nghiệp vụ ký quỹ
1.1.1.1 Khái niệm nghiệp vụ ký quỹ
Nghiệp vụ ký quỹ là một nghiệp vụ đã tồn tại lâu đời và nó trở thành một nghiệp
vụ khơng thể thiếu đối với các cơng ty chứng khốn trên thế giới. Giao dịch ký quỹ
hình thành từ năm 1830 tại thị trường chứng khoán New York, Mỹ. Cho tới nay,
giao dịch ký quỹ đã trải qua lịch sử hơn 180 năm và được sử dụng phổ biến ở hầu
hết các thị trường chứng khoán trên thế giới.
Nghiệp vụ ký quỹ hay giao dịch ký quỹ, là nghiệp vụ do công ty chứng khốn
hoặc nhà mơi giới cung cấp trong đó, cơng ty chứng khoán cho khách hàng vay một
phần tiền theo tỷ lệ nhất định để thực hiện mua chứng khoán, đồng thời thế chấp
chứng khốn đã mua tại cơng ty chứng khoán.
Nghiệp vụ ký quỹ chứng khoán (Margin) là nghiệp vụ trong đó tài sản đảm bảo
mà nhà đầu tư phải có trong tài khoản để đảm bảo cho những rủi ro của những
khoản vay dùng để mua chứng khoán, quyền chọn, hay các hợp đồng tương lai với
đối tác của mình (thường là các nhà mơi giới /cơng ty mơi giới).
Có nhiều khái niệm khác nhau về nghiệp vụ ký quỹ chứng khoán nhưng tựu
chung lại các khái niệm trên đều đề cập tới nội dung sau:
- Khách hàng tham gia vào nghiệp vụ ký quỹ phải có tài sản ký quỹ, tài sản ký
quỹ này có thể là tiền mặt, chứng khốn hoặc tài sản khác được cơng ty chứng
khốn chấp thuận. Một số cơng ty chứng khốn chấp thuận tài sản ký quỹ là chứng
khoán và các tài sản phi tiền mặt khác bằng cách quy đổi các tài sản này thành tiền
mặt và ghi nhận như một khoản ký quỹ tương tự tiền mặt. Số tiền khách hàng ký
quỹ ban đầu để sử dụng nghiệp vụ ký quỹ được gọi là giá trị ký quỹ ban đầu
(Initial Margin - IM). Trong thực tế để đo lường giá trị ký quỹ ban đầu, người ta
dùng khái niệm tỷ lệ ký quỹ ban đầu. Tỷ lệ ký quỹ ban đầu là tỷ lệ phần trăm (%)
5
tối thiểu của giá trị giao dịch mà nhà đầu tư phải có trong tài khoản ký quỹ khi thực
hiện giao dịch mới. Giá trị ký quỹ ban đầu phải lớn hơn hoặc bằng giá trị ký quỹ tối
thiểu. Giá trị ký quỹ tối thiểu (Minimum margin Requirement): Là giá trị tối thiểu
mà khách hàng phải ký quỹ được quy định bởi luật pháp và mỗi cơng ty chứng
khốn để đảm bảo rủi ro cho những khoản vay với công ty chứng khốn khi giá trị
tồn bộ tài sản ký quỹ bị sụt giảm do biến động của giá cổ phiếu.
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ ký quỹ, các cơng ty chứng khốn ln tính
tốn và cập nhật thường xuyên giá trị ký quỹ thực tế, tỷ lệ ký quỹ thực tế để biết
được trạng thái tài khoản của khách hàng, cảnh báo ký quỹ khi khách hàng vi
phạm tỷ lệ ký quỹ tối thiểu. Ký quỹ thực tế hay ký quỹ hiện tại (Current
liquidating margin): là số tiền thực có của nhà đầu tư trong Tài khoản ký quỹ sau
khi thanh lý toàn bộ các trạng thái giao dịch theo thị giá và thanh tốn khoản nợ cho
cơng ty chứng khốn và các loại phí. Tỷ lệ ký quỹ thực tế: là tỷ lệ phần trăm (%)
của Tổng giá trị ký quỹ hiện tại so với Tổng giá trị đầu tư tại thời điểm hiện tại.
Cảnh báo ký quỹ (Margin call): Khi giá trị tài sản ký quỹ thấp hơn giá trị ký quỹ
tối thiểu thì nhà mơi giới sẽ gửi đến nhà đầu tư một thông báo gọi là cảnh báo ký
quỹ. Trong trường hợp này, nhà đầu tư phải ký quỹ bổ sung (Additional margin)
bằng tiền mặt, bán bớt một phần chứng khốn có trong tài khoản, hoặc mua một
phần chứng khoán đã bán khống để đảm bảo tỷ lệ ký quỹ thực tế không nhỏ hơn tỷ
lệ ký quỹ tối thiểu.
- Mục đích khách hàng thực hiện giao dịch ký quỹ nhằm gia tăng lợi nhuận đầu tư
chứng khốn nhờ địn cân nợ. Cụ thể, tham gia vào nghiệp vụ ký quỹ khách hàng
chỉ phải bỏ ra một khoản tiền (được gọi là giá trị ký quỹ ban đầu) là có thể được
cơng ty chứng khoán cho vay một phần tiền theo tỷ lệ nhất định để thực hiện mua
chứng khốn. Nếu khơng sử dụng vốn vay, trên bảng cân đối tài sản, bên Nguồn
vốn của khách hàng chỉ đơn thuần là vốn tự có và lợi nhuận; bên tài sản: là giá trị
tài sản mua sắm được từ nguồn vốn tự có. Khi sử dụng đòn cân nợ từ giao dịch ký
quỹ, cơ cấu nguồn vốn của khách hàng ngồi vốn tự có cịn có một tỷ lệ lớn vốn đi
vay, nhờ thế mà khách hàng có thể mua được nhiều chứng khốn hơn khả năng thực
6
tế mình có. Khi thị trường tăng, giá cổ phiếu trong danh mục đầu tư tăng, giá trị
danh mục tăng. Khách hàng thanh lý danh mục, ngoài phần vốn tự có và trả nợ vốn
vay, trên bảng cân đối cịn dư ra một khoản có giá trị lớn, đó chính là lợi nhuận, lợi
nhuận này lớn hơn rất nhiều so với lợi nhuận thu được khi khách hàng chỉ sử dụng
vốn tự có. Trong điều kiện thì trường tốt, giá cổ phiếu tăng, địn cân nợ từ ký quỹ
chứng khốn là cách ngắn nhất để gia tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư.
- Các chủ thể tham gia nghiệp vụ ký quỹ gồm:
o Cơng ty chứng khốn/ Nhà mơi giới: là người thực hiện cung cấp dịch vụ ký
quỹ, quản lý tài khoản ký quỹ của khách hàng)
o Nhà đầu tư: là người trực tiếp sử dụng nghiệp vụ ký quỹ của cơng ty chứng
khốn, có trách nhiệm trả nợ và thực hiện các nghĩa vụ về tài sản đảm bảo.
o Ngân hàng: Là chủ thể gián tiếp trong quá trình thực hiện nghiệp vụ ký quỹ.
Ngân hàng với nguồn vốn dồi dào của mình chính là chủ thể cung cấp vốn cho cơng
ty chứng khốn để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khốn nói chung và
nghiệp vụ ký quỹ nói riêng.
Có thể nói, trong nghiệp vụ ký quỹ, các chủ thể trên có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, được sắp đặt hết sức hợp lý và chia thành ba cặp đơi quan hệ chính sau: Quan
hệ giữa Nhà đầu tư với Cơng ty chứng khốn/nhà mơi giới; Quan hệ giữa Cơng ty
chứng khốn/nhà mơi giới với Ngân hàng và quan hệ giữa các Cơng ty chứng
khốn/Nhà mơi giới với nhau hoặc với tổ chức tài chính khác. Các cặp đôi này quan
hệ gắn kết đối ứng về quyền lợi và nghĩa vụ với nhau theo nguyên tắc phân công
chuyên nghiệp. Rủi ro như vậy được chẻ nhỏ, được ngắt ra từng đoạn nhằm hạn chế
sự lây lan hay đổ vỡ dây chuyền. Bởi ngân hàng tuy giỏi kinh doanh tiền, nhưng
không thể sâu hơn Công ty chứng khoán về kinh doanh chứng khoán và ngược lại.
Hành lang luật lệ, các quy chuẩn chuyên ngành, phương pháp tính tốn, u cầu tác
nghiệp đồng bộ trong hệ thống... là các yếu tố hạ tầng quyết định, giúp cho lĩnh vực
hoạt động khá chuyên sâu này được vận hành một cách trơn tru và hiệu quả. Nghiệp
vụ ký quỹ sở dĩ thuyết phục và hấp dẫn là do nó có cái móng được kết cấu chặt
Điểm
khác
Nghiệp vụ Ký quỹ
Nghiệp vụ Cầm cố
78
(theo
Bảng cách
1.1: So
vừasánh
nói)Nghiệp
trên cáivụnền
Ký biến
quỹ và
động
Nghiệp
liên tục
vụ Cầm
và sinh
cố động của hoạt động đầu
tư tài chính.
Hoạt động đầu tư tài chính nói chung là biến động rất phức tap. Trường hợp được
hỗ trợ bằng nợ vay để gia tăng các khoản đầu tư thì tình trạng cịn phức tạp và nhạy
cảm hơn nhiều. Đầu tư bằng địn bẩy tài chính thơng qua nghiệp vụ ký quỹ có đặc
điểm kịp thời nhưng mạo hiểm, mà nếu thiếu các cơng cụ kiểm sốt chặt chẽ thì rất
dễ dẫn đến các rủi ro xấu. Những công cụ kiểm sốt chặt chẽ bao gồm các cơng cụ
tài chính và công cụ pháp luật. Thực tế cho thấy, chỉ khi có sự quản lý của nhà nước
thì mới hạn chế được những rủi ro của hoạt động ký quỹ.
1.1.1.2 Đặc điểm của nghiệp vụ ký quỹ
- Đặc điểm thứ nhất: Nhà đầu tư tham gia vào nghiệp vụ ký quỹ được phép mua
chứng khoán với số tiền vượt quá số tiền hiện có trên tài khoản. Với tỷ lệ ký quỹ là
30% giá trị lệnh mua, nhà đầu tư được cơng ty chứng khốn cho vay 70% giá trị cịn
lại để thực hiện lệnh mua thành cơng. Đây là đặc điểm cơ bản của nghiệp vụ ký
quỹ. Khách hàng với lượng tiền có hạn trong tài khoản nhưng muốn mua nhiều hơn
khả năng mình có để tận dụng cơ hội tăng giá cổ phiếu của thị trường. Nghiệp vụ ký
quỹ xuất hiện là để phục vụ nhu cầu này của khách hàng. Khách hàng vẫn được đặt
lệnh mua với số tiền thực có, phần cịn lại cơng ty chứng khốn sẽ cho vay.
- Đặc điểm thứ hai: Có nhiều điểm giống với hoạt động cầm cố chứng khốn:
Mục đích sử dụng dịch vụ ký quỹ hay cầm cố đều là nhằm bổ sung nguồn vốn đầu
tư chứng khoán cho nhà đầu tư; Cả hai dịch vụ này đều có tài sản đảm bảo là chứng
khoán; Và nhà đầu tư sử dụng dịch vụ phải trả một khoản lãi vay tương ứng với số
tiền và kỳ hạn vay.
Tuy nhiên, giao dịch ký quỹ và cầm cố chứng khốn có rất nhiều điểm khác nhau
cần phân biệt, cụ thể:
Phương thức - Tài khoản sử dụng:
giao dịch
sử dụng chung với tài
khoản thông thường;
- Chỉ cần ký hợp đồng
sử dụng dịch vụ 1 lần có
thể tiến hành giao dịch
nhiều lần.
- Tài khoản sử dụng: mỗi lần sử
dụng phải lập Tài khoản riêng để
theo dõi nợ;
- Mỗi lần cầm cố chứng khoán nhà
đầu tư phải thực hiện ký hợp đồng 3
bên giữa Nhà đầu tư / Cơng ty chứng
khốn / Ngân hàng.
Nguồn vốn
Vốn tự có hoặc vốn đi
vay
Vốn của Ngân hàng
Tỷ lệ cho
vay
Cao, lên tới 100% 300% giá trị tài sản ký
quỹ
Thấp, bị hạn chế bởi quy định của
nhà nước, ở Việt Nam thường nhỏ
hơn 70% giá trị tài sản cầm cố.
Vai trò của
Là người cho vay, hưởng
lãi vay
Là trung gian, hưởng phí hoặc khơng
Hoạt động khơng chính
thức
Được cơng nhận chính thức
CTCK
Pháp lý (tại
Việt Nam)
Cơ sở để thu hồi nợ: Tiền mặt trên Tài khoản của nhà đầu tư; Tiền bán chứng
9
khoán; Tiền bán tài sản đảm bảo.
- Đặc điểm thứ năm: Lợi nhuận tăng nhanh đồng thời rủi ro rất lớn khi nhà đầu tư
sử dụng ký quỹ chứng khoán. Trong điều kiện thị trường tăng, vốn vay từ nghiệp vụ
ký quỹ đáp ứng ngay lập tức nhu cầu vốn ngắn hạn cho nhà đầu tư, giúp cho họ tận
dụng được cơ hội tăng giá của thị trường. Tuy nhiên lợi nhuận tăng nhanh đi đơi với
rủ ro lớn. Mặc dù có tài sản ký quỹ và tài sản đảm bảo làm căn cứ để cơng ty chứng
khốn thu hồi nợ, nhưng diễn biết thị trường bất ngờ có thể đẩy giá chứng khoán
giảm mạnh, ngay cả khi thanh lý các tài sản đảm bảo cũng không đủ để thu hồi số
vốn đã cho nhà đầu tư vay, và rủi ro này là thường xuyên và bất ngờ như tính chất
rủi ro của thị trường chứng khoán.
- Đặc điểm thứ sáu: Sức mua là thuật ngữ được sử dụng trong hoạt động ký quỹ
để chỉ khả năng mua chứng khoán của một tài khoản. Sức mua khác với Tổng tài
sản ở chỗ: Tổng tài sản là tổng giá trị của tất cả các tài sản của một tài khoản; Sức
mua cũng là tổng tài sản của tài khoản nhưng được so sánh với hạn mức vay ký quỹ
mà nhà đầu tư được cấp; theo đó nếu Hạn mức vay ký quỹ nhỏ hơn Tổng tài sản thì
Sức mua của tài khoản đó nhỏ hơn Tổng tài sản.
Cơng thức tính sức mua được một số cơng ty chứng khốn xây dựng như sau:
PP0 = Số dư tiền mặt có trên tài khoản + Tiền chờ về tài khoản +
Min j∑∣ Chứng khoán * min (Pi ,Giá sàn)* MRi] + Hcr, Hci}
(1)
Trong đó
PP0: Sức mua của một tài khoản
Số dư tiền mặt: số tiền thực có trên tài khoản của khách hàng
Tiền chờ về: gồm tiền bán chứng khoán chờ về + tiền cổ tức chờ về.
Pi: Giá của chứng khoán i thuộc rổ chứng khốn ký quỹ, là giá do cơng ty
chứng khốn đánh giá và đưa vào rổ.
MR1: Tỷ lệ ký quỹ của chứng khoán
- Đặc điểm thứ ba: Tài sản đảm bảo trong giao dịch ký quỹ là chứng khốn, ngồi
ra cịn có các loại tài sản khác như giấy tờ xe, giấy tờ sở hữu nhà đất ... Trong đó
chỉ có một số mã chứng khoán đáp ứng đủ tiêu chuẩn về: tính thanh khoản, mức độ
ổn định về giá, các chỉ số về ROA, ROE, ...
- Đặc điểm thứ tư: Nguồn cho vay và cơ sở thu hồi nợ của cơng ty chứng khốn.
Nguồn vốn cho vay gồm vốn tự có (Phát hành cổ phiếu; trích từ lợi nhuận sau thuế)
và vốn đi vay (Vay các cá nhân, vay ngân hàng).
10
Hcr: Hạn mức cho vay ký quỹ cấp cho 1 tài khoản
Hci: Hạn mức cho vay ký quỹ còn lại của tài khoản
Trên cơ sở của cơng thức tính sức mua, các cơng ty chứng khốn xây dựng lên
các chỉ số cho hoạt động ký quỹ của mình bao gồm Tỷ lệ ký quỹ an toàn, tỷ lệ ký
quỹ cảnh báo và tỷ lệ ký quỹ xử lý.
- Đặc điểm thứ bảy: Khơng phải chứng khốn nào cũng được tham gia giao dịch
ký quỹ: Cơng ty chứng khốn đưa ra một rổ chứng khoán ký quỹ gồm các mã chứng
khoán, tỷ lệ đảm bảo và tỷ lệ ký quỹ tương ứng với mỗi mã chứng khoán; Tùy theo
mã chứng khoán mà có tỷ lệ khác nhau, tuy nhiên các chứng khốn trong rổ này
phải đảm bảo một số tiêu chí nhất định như: tính thanh khoản cao; khơng phải là
chứng khốn có giá biến động bất thường, lớn, liên tục; khơng phải là chứng khốn
đang bị Sở giao dịch đưa vào diện cảnh báo.
1.1.2 Phân loại nghiệp vụ ký quỹ
- Căn cứ vào tỷ lệ ký quỹ có thể chia thành ký quỹ từng phần mà ký quỹ toàn bộ:
o
Ký quỹ từng phần: Tỷ lệ ký quỹ của nhà đầu tư phải đảm bảo tối thiểu theo quy
định của công ty chứng khốn, chẳng hạn 50%, 60%; phần cịn lại cơng ty chứng
khốn sẽ cho nhà đầu tư vay.
o Ký quỹ toàn phần: Tỷ lệ ký quỹ là 0%, theo đó cơng ty chứng khốn sẽ cho phép
nhà đầu tư đặt lệnh mua mà không cần ký quỹ tiền mặt.
- Căn cứ vào sức mua có thể chia thành Ký quỹ theo sức mua của tài khoản và Ký
quỹ theo sức mua của từng mã chứng khoán
o Ký quỹ theo sức mua của tài khoản: Sức mua tính theo cơng thức PP0 được sử
dụng để đặt mua chứng khoán, miễn là tài khoản khơng vi phạm tỷ lệ an tồn.
o Ký quỹ theo sức mua của chứng khốn: Ngồi cơng thức sức mua PP0 như đã
nói trên phần 1; cơng ty chứng khốn cịn áp dụng cơng thức tính sức mua theo từng
loại chứng khốn. Theo đó, Sức mua theo chứng khốn được tính theo cơng thức
(2):
PPse = min(Hcl, PP0 /(1 - Tỷ lệ cho vay * Giá cho vay tính PPo/Giá đặt))
11
Trong đó:
PP0: Sức mua được tính trong cơng thức tính sức mua (1)
PPSE: Sức mua theo chứng khoán
Hci: Hạn mức ký quỹ còn lại
Với loại ký quỹ theo sức mua của từng mã chứng khoán, phần giá trị của chứng
khoán đang đặt mua được tính vào sức mua, làm tăng đáng kể sức mua đối với
chứng khốn đó.
- Căn cứ nghiệp vụ của cơng ty chứng khốn: Ký quỹ theo lệnh và Ký quỹ theo
tài khoản.
0
Ký quỹ theo lệnh: Việc cho vay tính, tính lãi và theo dõi nợ được tính trên từng
lệnh mua.
0 Ký quỹ theo tài khoản: Việc cho vay, tính lãi và theo dõi nợ được tính trên tài
khoản, khơng phân biệt tài khoản đó có bao nhiêu lệnh mua trong ngày.
1.1.3 Vai trò của nghiệp vụ ký quỹ
1.1.3.1 Đối với Cơng ty chứng khốn
- Là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho công ty chứng khoán:
o Thứ nhất, phải kể đến là lợi nhuận đáng kể thu được từ việc cho vay và thu phí
dịch vụ: Lãi suất cho vay từ hoạt động ký quỹ khá cao, thông thường cao hơn lãi
suất cho vay của các ngân hàng. Ngồi ra, các hình thức và thời gian cho vay của ký
quỹ rất linh họat vì vậy khách hàng có thể sử dụng bất cứ khi nào họ cần. Do vậy,
số tiền lãi thu được từng lần từ các khoản vay không cao nhưng bù lại số lượng
khách hàng sử dụng nhiều và sử dụng với tần suất cao (đặc biệt là khi thị trường có
xu hướng tăng) nên tổng số lãi mà cơng ty chứng khốn thu được là không nhỏ.
Việc khách hàng vi phạm tỷ lệ an toàn mà chưa kịp bổ sung tiền hay tài sản đảm
bảo, cơng ty chứng khốn sẽ thu lãi phạt, thường là 150% lãi suất ký quỹ thông
thường.
o Thứ hai, Ký quỹ làm tăng khối lượng giao dịch và từ đó làm tăng hoa hồng phí
từ lệnh đặt của nhà đầu tư cho các cơng ty chứng khốn.
- Mở rộng mạng lưới khách hàng: Ký quỹ chứng khoán là sản phẩm góp phần mở
rộng mạng lưới khách hàng vì:
12
o Sự đơn giản, thuận tiện trong việc sử dụng dịch vụ: khách hàng chỉ cần ký hợp
đồng một lần là được sử dụng dịch vụ trong thời gian dài mà không cần làm bất cứ
một thủ tục nào khác.
o Sự linh hoạt trong hình thức và thời gian cho vay: có thể nói ký quỹ là một sản
phẩm lý tưởng để cung cấp vốn ngắn hạn nhanh chóng, kịp thời cho nhà đầu tư.
Neu vay vốn ngân hàng bằng hình thức cầm cố chứng khốn, khách hàng sẽ mất
thời gian để thực hiện ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng, do vậy sẽ để mất thời cơ
đặt lệnh mua với giá mong muốn. Ký quỹ đáp ứng ngay lập tức vốn cho nhà đầu tư
vì chỉ cần cịn hạn mức ký quỹ và đủ sức mua là khách hàng có thể đặt mua chứng
khốn ngay lập tức.
Chính vì lý do trên mà nhiều khách hàng lựa chọn ký quỹ thay vì lựa chọn cầm
cố chứng khốn và những công ty triển khai dịch vụ ký quỹ sẽ thu hút được nhiều
khách hàng hơn.
- Đa dạng danh mục sản phẩm: Là một sản phẩm linh hoạt, nghiệp vụ ký quỹ góp
phần đa dạng hóa danh mục dịch vụ của cơng ty chứng khốn.
- Theo một khía cạnh nào đó, những cơng ty chứng khốn triển khai nghiệp vụ ký
quỹ đã ngầm khẳng định tiềm lực vốn của mình vì vốn sử dụng cho nghiệp vụ này
phần lớn là vốn tự có và vốn huy động.
1.1.3.2 Đối với nhà đầu tư và Thị trường chứng khoán
❖ Đối với nhà đầu tư:
- Bổ sung kịp thời nguồn vốn cho hoạt động đầu tư chứng khoán ngắn hạn làm
tăng cơ hội tăng lợi nhuận: Vốn từ nghiệp vụ ký quỹ là đòn bẩy tài chính cho nhà
đầu tư trong ngắn hạn. Nghiệp vụ ký quỹ đặc biệt được các nhà đầu tư “lướt sóng”
ưa thích sử dụng trong tình hình thị trường tăng trưởng đột bien, tận dụng được cơ
hội ngắn của thị trường từ đó làm tăng cơ hội tăng lợi nhuận của nhà đầu tư.
- Dịch vụ tiến hành nhanh và tự động: Chỉ cần có tài khoản ở cơng ty chứng
khoán và ký hợp đồng sử dụng nghiệp vụ ký quỹ, nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua
theo sức mua hiển thị sẵn mà không cần phải thực hiện bất cứ thủ tục nào để vay
13
tiền. Khoản nợ gốc và lãi vay sẽ do hệ thống cơng nghệ thơng tin của cơng ty chứng
khốn tự động gửi thông báo dưới dạng email hoặc tin nhắn SMS.
- Được cơng ty chứng khốn hỗ trợ các dịch vụ khác: Cung cấp thơng tin thị
trường, phân tích thị trường với các mã cổ phiếu đặc biệt cho nhà đầu từ; tư vấn
quản lý danh mục. Tại các công ty chứng khoán Việt Nam, khi đăng ký giao dịch ký
quỹ, khách hàng được cơng ty chứng khốn ưu đãi cho một số dịch vụ như miễn phí
đối với lệnh mua trong vòng T +3; sử dụng dịch vụ ứng trước tiền bán với lãi suất
thấp.
❖ Đối với thị trường chứng khốn:
- Tăng tính thanh khoản cho thị trường: Nghiệp vụ ký quỹ đáp ứng ngay lập tức
vốn ngắn hạn cho nhà đầu tư đồng thời các giao dịch tiến hành tự động chính vì vậy
sẽ làm tăng tính thanh khoản của thị trường.
- Phát triển thị trường theo hướng đa dạng và hiện đại: Ngoài các dịch vụ của thị
trường chứng khoán phát triển như: Repo, bán khống, option, kỳ hạn. Ký quỹ góp
phần phát triển thị trường chứng khốn theo hướng đa dạng các dịch vụ đi kèm.
Ngồi ra, do nhu cầu quản lý tài khoản ký quỹ, các cơng ty chứng khốn phải
thường xun theo dõi tỷ lệ ký quỹ thực tế, tỷ lệ ký quỹ cảnh báo, xử lý chứng
khoán khi tài khoản khách hàng vi phạm tỷ lệ ký quỹ an tồn,. cơng ty chứng
khốn sẽ phải xây dựng hệ thống công nghệ hiện đại có thể đẩy lệnh tự động như
lệnh bán cho tới khi dừng (Good till cancel); lệnh dừng bán; cảnh báo tài khoản vi
phạm. Do vậy mà thị trường ngày càng phát triển theo hướng hiện đại hơn.
1.2 Rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ
- Khái niệm: Rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ là khả năng công ty chứng khốn
khơng thu hồi hoặc thu hồi khơng đúng thời hạn một phần hoặc toàn bộ số tiền đã
giải ngân cho khách hàng khi khách hàng sử dụng nghiệp vụ ký quỹ.
- Đặc điểm rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ:
o Rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ có tính tất yếu: Khả năng xảy ra rủi ro của nghiệp
vụ ký quỹ xuất phát từ nhiều phía:
14
Thứ nhất, rủi ro từ chính cơng ty chứng khốn. Cơng ty chứng khốn với khả
năng dự báo thị trường tốt nhất cũng khơng đảm bảo chính xác 100% ở mọi thời
điểm. Mặt khác, hệ thống công nghệ thông tin và con người ln tiềm ẩn những rủi
ro.
•
Thứ hai, rủi ro đến từ phía khách hàng. Khách hàng sử dụng dịch vụ ký quỹ với
kỳ vọng giá chứng khoán sẽ tăng và đây là cơ sở để trả nợ. Tuy nhiên khi giá giảm,
nhà đầu tư vẫn kỳ vọng giá sẽ tăng, trong nhiều trường hợp giá giảm mạnh hơn thì
số tài sản kỳ vọng này khơng đủ để thanh tốn khoản nợ ký quỹ cho cơng ty chứng
khốn.
•
Thứ ba, rủi ro từ phía thị trường do sự biến động bất thường của thị trường
chứng khốn nói riêng và tình hình kinh tế - chính trị nói chung.
o Rủi ro của ký quỹ đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng,
phức tạp của nguyên nhân, hình thức của rủi ro.
o Rủi ro của ký quỹ diễn ra nhanh, khó dự đốn: Đặc điểm của thị trường chứng
khoán là biến động nhanh, bất ngờ và khó dự đốn. Cơng ty chứng khốn và khách
hàng khi dự báo thị trường tăng sẽ tăng quy mô cho vay và vay về cả số tiền, số tài
khoản vay và tần suất vay. Khi chứng khoán bất ngờ giảm mạnh, toàn thị trường bị
ảnh hưởng và đồng loạt bán tháo chứng khốn. Khi đó rủi ro xảy ra bất ngờ với cả
khách hàng và cơng ty chứng khốn.
1.2.3 Phân loại rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ
Rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ tồn tại khách quan đối với các chủ thể tham gia hoạt
động này. Căn cứ vào chủ thể tham gia, ta có thể phân loại các loại rủi ro tương ứng
như dưới đây:
1.2.3.1 Rủi ro từ người cung cấp nghiệp vụ ký quỹ (Rủi ro từ cơng ty chứng
khốn)
- Rủi do do hệ thống cơng nghệ thông tin: Do sự cố, hệ thống công nghệ thông tin
của cơng ty chứng khốn tính sai sức mua, tính sai hoặc khơng tính nợ gốc và lãi
của tài khoản ký quỹ.
•
15
- Rủi ro do nhận định sai tình hình thị trường: Với nhận định thị trường tăng mạnh
trong ngắn hạn, cơng ty chứng khốn đẩy mạnh việc cấp hạn mức ký quỹ, tăng vốn
huy động để cho vay, và mở rộng diện khách hàng được sử dụng dịch vụ này. Tuy
nhiên thị trường chứng khốn vốn khó dự đốn. Khi thị trường giảm mạnh, bất ngờ,
rủi ro mất vốn của cơng ty chứng khốn sẽ xảy ra.
- Rủi ro từ nhân viên: Nhân viên đánh gia sai năng lực của khách hàng; cấp hạn
mức quá lớn cho một hoặc một nhóm tài khoản một cách cố ý; khả năng xử lý nợ
của nhân viên có hạn.... là những nguyên nhân gây ra rủi ro từ phía nhân viên.
- Rủi ro tài sản đảm bảo: nếu tài sản đảm bảo có tính thanh khoản thấp do biến
động thị trường sẽ khó có thể xử lý để thu hồi vốn.
1.2.3.2 Rủi ro từ phía nhà đầu tư
- Rủi ro do nhà đầu tư dự đoán sai diễn biến thị trường: cũng như cơng ty chứng
khốn, khi nhận định sai thị trường nhà đầu tư sẽ gặp rủi ro lớn về khả năng khơng
trả được nợ gốc và lãi do sử dụng địn bẩy tài chính quá mức.
- Rủi ro do nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm: Một nhà đầu tư chuyên nghiệp khi sử
dụng địn bẩy tài chính từ nghiệp vụ ký quỹ sẽ đề ra một kỷ luật chặt chẽ và thực
nghiện kỷ luật một cách nghiêm ngặt. Khi đạt tới giới hạn lãi sẽ phải thực hiện bán
chứng khoán và khi chạm tới mức lỗ cần phải bán chứng khoán thì phải ngay lập
tức cắt lỗ, khơng chần chừ hay hy vọng vào sự tăng giá trở lại của chứng khoán.
Tuy nhiên người đầu tư thiếu kinh nghiệm thường hy vọng vào sự tăng giá chứng
khoán để bù lỗ thậm chí cịn hi vọng sẽ có lãi. Khi đó nếu thị trường tiếp tục giảm
sâu, nhà đầu tư này gặp rủi ro lớn: giá chứng khoán dùng để đảm bảo ngày càng sụt
giảm, khoản lãi vay ngày càng tăng do phí phạt chậm bổ sung tài sản ký quỹ. Đó là
rủi ro kép cho nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm.
1.2.3.3 Rủi ro từ môi trường kinh doanh
- Rủi ro vĩ mô: Do dịch vụ ký quỹ được cung cấp và sử dụng chủ yếu nhờ vào sự
biến động tăng giá chứng khốn trong ngắn hạn hay nói cách khác nó phụ thuộc vào
tình hình biến động của thị trường chứng khốn. Chính vì vậy, các yếu tố ảnh
16
hưởng tới giá chứng khoán cũng là các yếu tố có tác động tới rủi ro của hoạt động
ký quỹ. Trong đó có:
o Biến động của tình hình kinh tế thế giới: Khi kinh tế thế giới tăng trưởng ổn
định sẽ làm cho thị trường chứng khoán của mỗi quốc gia phản ứng tích cực. Ngược
lại, những bất ổn về kinh tế, chính trị của các quốc gia trên thế giới sẽ làm cho Thị
trường chứng khoán sụt giảm mạnh. Khi đó các đối tượng liên quan đến ký quỹ sẽ
chịu rủi ro.
o Các chính sách vĩ mơ như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và tình hình
kinh tế trong nước cũng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới thị trường chứng
khoán. Chẳng hạn, khi lạm phát tăng, thị trường chứng khốn thường có xu hướng
giảm trong ngắn hạn và rõ ràng đã gây ra rủi ro cho dịch vụ ký quỹ.
- Rủi ro từ phía doanh nghiệp có chứng khốn niêm yết, chứng khốn này nằm
trong danh mục chứng khoán ký quỹ. Rổ chứng khoán được sử dụng làm tài sản
đảm bảo đã được công ty chứng khoán lựa chọn kỹ càng với các tiêu chuẩn về chỉ
tiêu tài chính, tính thanh khoản và độ ổn định về giá. Tuy nhiên những rủi ro bất
ngờ có thể đến với doanh nghiệp như hỏa hoạn, thiên tai,... làm phá hủy tài sản của
doanh nghiệp, dẫn đến giá chứng khốn của doanh nghiệp đó sụt giảm. Khi đó rủi
ro ký quỹ xuất hiện.
- Rủi ro pháp lý: Đối với Việt Nam, hiện chưa có khung pháp lý quy định cho
hoạt động ký quỹ chứng khốn. Các cơng ty chứng khoán cung cấp dịch vụ này
đang lách luật dưới các hình thức như bảo lãnh lệnh mua, hỗ trợ thanh toán lệnh
mua hay hợp tác kinh doanh,. Như vậy về căn cứ pháp lý chặt chẽ để tham chiếu
là khơng có. Khi có tranh chấp xảy ra, rủi ro sẽ thuộc về cả cơng ty chứng khốn và
nhà đầu tư vì chưa được pháp luật bảo vệ.
1.2.4 Nguyên nhân và hậu quả của rủi ro nghiệp vụ ký quỹ
1.2.4.1 Nguyên nhân rủi ro của nghiệp vụ ký quỹ
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong nghiệp vụ ký quỹ gồm:
- Sự biến động nhanh chóng của thị trường khơng đúng như dự báo của cơng ty
chứng khốn và nhà đầu tư. Nhà đầu tư sử dụng dịch vụ ký quỹ là sử dụng đòn bẩy
17
tài chính với dự đốn thị trường sẽ tăng, vì vậy khi thị trường giảm đột ngột, liên
tục nhà đầu tư khơng có khả năng bổ sung tài sản đảm bảo và tiền mặt đúng hạn.
Hơn nữa khi thì trường giảm sâu buộc cơng ty chứng khốn phải xử lý tài sản đảm
bảo, lúc đó thị trường giảm thanh khoản đáng kể, rủi ro không thu hồi được vốn và
lãi xảy ra với cơng ty chứng khốn.
- Tâm lý đám đông: Khi thị trường giảm, các nhà đầu tư ồ ạt bán chứng khoán, do
vậy khả năng bán chứng khoán đảm bảo để thu nợ là rất khó khăn.
- Sự cố hệ thống công nghệ thông tin của công ty chứng khốn: vì một lý do nào
đó mà hệ thống cơng nghệ thơng tin tính sai sức mua, giải ngân số tiền lớn hơn lệnh
mua, theo dõi nợ không đúng.
- Ngồi ra việc đánh giá khơng đúng giá trị tài sản đảm bảo, rủi ro đạo đức của
người sử dụng dịch vụ, của nhân viên cơng ty chứng khốn,... cũng là nguyên nhân
tạo ra rủi ro của hoạt động ký quỹ chứng khoán.
1.2.4.2 Hậu quả của rủi ro nghiệp vụ ký quỹ
❖ Đối với cơng ty chứng khốn
- Mất vốn: Khi rủi ro xảy ra, người cung cấp và người sử dụng dịch vụ ký quỹ có
thể mất một phần hoặc toàn bộ số vốn gốc hoặc lãi hoặc cả hai. Việc khách hàng
mất khả năng thanh toán hàng loạt sẽ đẩy các cơng ty chứng khốn vào thế mất khả
năng thanh khoản. Vì vốn để đáp ứng cho dịch vụ ký quỹ là vốn tự có và vốn đi
vay. Trong khi đó, cơng ty chứng khốn thường cho vay ký quỹ với tỷ lệ lớn : trên
50%, 100%, thậm chí 200%-300%.
- Tại Việt Nam, hiện tại cơng ty chứng khoán sẽ gặp bất lợi về mặt pháp lý khi có
tranh chấp xảy ra vì chưa có luật điều chỉnh.
- Tốn chi phí để theo dõi, xử lý nợ khi nhà đầu tư khơng thanh tốn được các
khoản vay phát sinh từ ký quỹ.
❖ Đối với thị trường:
- Xảy ra tình trạng bán tháo cổ phiếu với lượng cung lớn khi thị trường có dấu
hiệu đi xuống. Khi tài khoản ký quỹ của khách hàng vi phạm tỷ lệ xử lý hoặc các
khoản nợ của nhà đầu tư không trả được buộc các cơng ty chứng khốn phải bán
18
chứng khoán đảm bảo với mọi giá để tất toán khoản nợ. Việc bán chứng khoán này
ảnh hưởng lan truyền trên thị trường nếu khối lượng chứng khoán bán là lớn và liên
tục. Khi đó tồn thị trường sẽ diễn ra hiện tượng bán tháo cổ phiếu.
- Ảnh hưởng tới thị trường tài chính: Việc bán tháo cổ phiếu do giải chấp chứng
khoán ký quỹ sẽ gây ảnh hưởng xấu tới thị trường chứng khoán, làm cho thanh
khoản của thị trường sụt giảm mạnh. Đặc biệt ở các quốc gia có thị trường chứng
khốn chưa phát triển, chưa có các nghiệp vụ bổ trợ chuyên nghiệp như bán khống,
lệnh cắt lỗ,... thì thanh khoản thị trường sụt giảm rất rõ rệt và kéo dài. Ngoài ra,
nguồn vốn cho ký quỹ của cơng ty chứng khốn gồm vốn tự có và vốn đi vay, vốn
vay gồm vốn vay của các cá nhân, tổ chức phi ngân hàng và vay các ngân hàng
thương mại. Khi rủi ro ký quỹ xảy ra khiến lượng vốn của cơng ty chứng khốn và
vốn của nhà đầu tư bị mất. Chính vì vậy sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho
các ngân hàng, gây rủi ro tín dụng cho các ngân hàng, tác động tiêu cực đến thị
trường tài chính.
❖ Đối với nhà đầu tư:
- Việc sử dụng địn bẩy tài chính thơng qua vay tiền từ dịch vụ ký quỹ của nhà
đầu tư là nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận nhanh chóng trong ngắn hạn và cơ sở để
trả nợ lãi vay là một phần lợi nhuận thu được từ bán chứng khoán ký quỹ. Khi rủi ro
ký quỹ xảy ra, đồng vốn đầu tư của nhà đầu tư sẽ không đạt hiệu quả như kỳ vọng
ban đầu; ngược lại nó trở thành gánh nặng cho chính họ khi phải trả cả nợ gốc và lãi
phát sinh.
- Nhà đầu tư bị mất khả năng thanh toán, mất vốn: khi rủi ro ký quỹ xảy ra, nguồn
để xử lý nợ của khách hàng là chứng khoán đảm bảo và tiền mặt. Nguồn này đã bị
cơng ty chứng khốn phong tỏa, và thuộc quyền xử lý của cơng ty chứng khốn.
Nếu khoản vay ký quỹ lớn, nhà đầu tư sẽ phải dùng toàn bộ tài sản ngồi tiền và
chứng khốn để thanh tốn. Như vậy, hậu quả để lại khi rủi ro ký quỹ xảy ra là toàn
bộ số vốn đầu tư của nhà đầu tư có thể bị mất, nhà đầu tư khơng cịn khả năng trả
nợ vì mọi tài sản đã được huy động và bị cơng ty chứng khốn nắm giữ.
1.3 Các giải pháp hạn chế rủi ro trong nghiệp vụ ký quỹ