Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

BÁO cáo đề tài môn QUẢN TRỊ rủi RO tên đề tài phân tích rủi ro tín dụng nguyên nhân, ảnh hưởng và biện pháp phòng chống

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (126.65 KB, 15 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA


BÁO CÁO ĐỀ TÀI
MƠN QUẢN TRỊ RỦI RO
Tên đề tài:

Phân tích rủi ro tín dụng
Ngun nhân, ảnh hưởng và biện pháp phịng chống
Tên các thành viên nhóm 8:
Lê Đức Q
Nguyễn Dỗn Đức
Hồ Thị Hà
Nhóm:18.86
GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy


Lời mở đầu

Lý do chọn đề tài

Với các Ngân Hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất và là hoạt
động đem lại lợi nhuận chủ yếu nhưng đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
Hậu quả của rủi ro tín dụng, đặc biệt là rủi ro tín dụng đối với đối tượng khách
hàng doanh nghiệp thường rất nặng nề do quy mô vốn vay lớn: làm tăng thêm chi
phí cho ngân hàng, thu nhập lãi bị chậm hoặc mất đi cùng với sự thất thoát vốn
vay, làm xấu đi tình hình tài chính cũng như tổn hại đến uy tín và vị thế của ngân
hàng. Khi rủi ro tín dụng khơng được quản trị tốt sẽ dẫn đến tỷ lệ nợ xấu cao và
ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của mỗi tổ chức tín dụng, nghiêm
trọng hơn cịn gây tác động xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.



Rủi ro tín dụng ln song hành với hoạt động tín dụng, khơng thể loại bỏ hồn tồn
rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu
thiệt hại tối đa khi rủi ro tín dụng xảy ra. Quản trị rủi ro tín dụng là hoạt động tất
yếu giúp các ngân hàng tránh khỏi những tổn thất khơng dự tính trước được; chống
đỡ với những thay đổi bất lợi trong nội bộ và môi trường kinh doanh; tăng lợi thế
cạnh tranh và đảm bảo mức lợi nhuận kỳ vọng; đồng thời giúp nhận biết và khai
thác đƣợc các cơ hội kinh doanh; là vấn đề khó khăn nhưng rất bức thiết.Với mong


muốn tìm hiểu những rủi ro tín dụng, từ đó phân tích những rủi ro có thể xảy ra và
kiến nghị những giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng đối với
khách hàng doanh nghiệp, chúng em xin thực hiện nghiên cứu đề tài “Phân tích rủi
ro tín dụng:ngun nhân, ảnh hưởng và biện pháp phịng chống”


1.Nguyên nhân rủi ro tín dụng

Nguyên nhân chủ quan về phía doanh nghiệp:

-Tính pháp lý của doanh nghiệp: liên quan đến năng lực hành vi,năng lực pháp lý
của người đại diện doanh nghiệp chưa đủ thẩm quyền kí kết các hợp đồng tín
dụng,hợp đồng thế chấp,hợp đồng cầm cố,khế ước nhận nợ hoặc trong việc triển
khai thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh,dự án đầu tư theo quy định của
pháp luật.

-Rủi ro trong kinh doanh: thể hiện ở mức biến động theo chiều hướng xấu của kết
quả kinh doanh.Rủi ro trong kinh doanh sẽ xảy ra khi việc thực hiện phương án
kinh doanh,dự án đầu tư của doanh nghiệp khơng khoa học,việc dự tốn chi phí và
xác định sản lượng không phù hợp hoặc xuất phát từ việc những dự đốn thị

trường khơng có tính khả thi.

- Rủi ro tài chính của doanh nghiệp: thể hiện ở các doanh nghiệp khơng thể đối phó
với các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ.rủi ro tài chính diễn ra cùng
với mức độ sử dụng nợ và gắn liền với cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.


-

Rủi ro từ đạo đức kinh doanh của nhà điều hành doanh nghiệp: đây là

rủi ro từ việc khơng có thiện chí trả nợ,cố tình lừa đảo,chiếm đoạt vốn ngân
hàng thể hiện ở việc cố ý sử dụng vốn vay sai mục địch so với mục đích vay
vốn ban đầu sau khi ngân hàng đã giải ngân.

Nguyên nhân khách quan

Bên cạnh những nguyên nhân từ chính người vay gây ra thì cũng có những
ngun nhân khách quan dẫn đến như:

Sự thay đổi bất thường của hệ thống pháp lý trong ngành Tài chính – Ngân hàng.

Hoặc các chính sách bổ sung tại từng thời điểm của chính phủ các nước.

Do bão lũ thiên tai, dịch bệnh xảy ra gây ra suy thối kinh tế tồn cầu khiến
lạm phát tăng cao người dân khơng thể ứng phó kịp với thị trường.

Cũng có thể do hệ thống pháp lý trong ngành cịn nhiều kẽ hở. Chưa có tính răn
đe trong việc xử lý nợ xấu nợ quá hạn.


Nguyên nhân thuộc về ngân hàng:


- Ban hành chính sách tín dụng khơng hợp lý,q chú trọng vào mục tiêu tăng
trưởng tín dụng và lợi nhuận dẫn đến chấp nhận cấp nhiều khoản tín dụng
có mức độ rủi ro cao hoặc tập trung vốn cho vay quá nhiều vào một ngành
kinh tế.

-

Do áp lực cạnh tranh gay gắt với các đối thủ trên cùng địa bàn mà ngân hàng
cấp tín dụng sai các quy định nhằm bảo đảm an tồn cho khoản cấp tín dụng.

- Quy trình duyệt và cấp tín dụng thiếu chặt chẽ,ít chú trọng đến phân
tích đánh giá khách hàng theo đúng nguyên tắc tín dụng.
- Thiếu giám sát.quản lí sau khi cho vay: Một phần do tâm lý ngại gây phiền
hà cho khách hàng,một phần do nhân viên tín dụng chưa nhận thấy được
tầm quan trọng của việc kiểm tra sau khi cho vay chỉ được thực hiện mang
tính chất hình thức,đối phó bề mặt hồ sơ.

- Định giá tài sản bảo đẩm thiếu căn cứ định giá,khơng chính xác hoặc không
thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần thiết về cơng chứng hợp đồng bảo
đảm và đăng kí giao dịch bảo đảm.


- Nhân viên ngân hàng cố tình khơng tn thủ quy định,quy định cấp tín dụng
của ngân hàng và các quy định của pháp luật,vi phạm đạo đức kinh doanh

Nguyên nhân khác:


Những nguyên nhân này phần lớn xuất hiện từ môi trường xung quanh như chất
lượng thông tin, biến động kinh tế, chính sách pháp luật…

-Thứ nhất: Chất lượngthơng tin chưa cao. Các thông tin mà ngân hàng thu thập
thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của khách
hàng, tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh trên thị trường; sau đó dựa vào các thông
tin thu thập được để ra quyết định cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế thì khơng phải
lúc nào các thơng tin ngân hàng thu thập được đều có tính chính xác, đầy đủ và kịp
thời. Do vậy, nếu hệ thống thơng tin tín dụng của ngân hàng khơng hoạt động có
hiệu quả, cập nhật được những thơng tin đáng tin cậy thì tất yếu dẫn đến việc ngân
hàng thất thoát vốn khi cho vay.

-Thứ hai: Những biến động kinh tế không dự báo được. Khi nền kinh tế ổn định,
tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng gia tăng, tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, khi xuất hiện những biến
động kinh tế như lạm phát, giá tăng ở một số mặt hàng nào đó ảnh hưởng đến một


nhóm ngành thì rủi ro tín dụng với ngân hàng là rất lớn. Nhiều người vay có thể
thích ứng và vượt qua khó khăn đó, nhưng cũng có rất nhiều người bị đình trệ hoạt


động sản xuất, kinh doanh thua lỗ nên khả năng trả nợ vốn vay ngân hàng không
được đảm bảo.

-Thứ ba: Sự thay đổi trong các chính sách kinh tế, pháp luật. Sự thiếu nhất quán
trong các chính sách kinh tế pháp luật cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngân
hàng cũng như như các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay ngân hàng. Hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp sẽ khơng ổn định khi có những thay đổi trong quy
định về thuế, vốn..,cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng bị tác động

nhiều bởi những văn bản luật về tài sản đảm bảo, dự trữ, trích lập… Như vậy, các
chính sách kinh tế, pháp luật khơng hồn chỉnh cũng gây khó khăn có doanh
nghiệp về khả năng trả nợ, cũng như đe doạ đến sự an toàn của ngân hàng trong
cho vay

2. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng

Với những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trên thì ta thấy có rất nhiều tổn thất
xảy ra, trước hết thu nhập của ngân hàng bị giảm sút, dẫn đến tỉ suất lợi tức và thị
giá cổ phiếu của ngân hàng giảm. Việc cổ phiếu của ngân hàng giảm giá, nếu
không được chấn chỉnh kịp thời sẽ kéo theo việc bán hàng loạt cổ phiếu trên thị
trường, là điểm mở đầu của quá trình mua lại, sáp nhập hoặc thay thế ban quản lý
ngân hàng.Việc cổ phiếu của ngân hàng giảm giá, nếu không được chấn chỉnh kịp
thời sẽ kéo theo việc bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trường, là điểm mở đầu của


quá trình mua lại, sáp nhập hoặc thay thế ban quản lý ngân hàng. Theo đó những
nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ngân hàng là yếu tố kinh tế vĩ mô và các
nhân tố đặc trưng hoạt động ngân hàng.Tùy theo phương pháp nghiên cứu tại quốc
gia cụ thể trong khoảng thời gian khác nhau, các nghiên cứu tác động của nhân tố
vĩ mô và nhân tố đặc trưng hoạt động ngân hàng đối với quản trị rủi ro tín dụng
cho kết quả nghiên cứu khác nhau. Điều này là do những đặc thù của chính sách
kinh tế và cơ chế quản lý, giám sát hoạt động ngân hàng của mỗi quốc gia.Đối với
bản thân ngân hàng: Nếu một ngân hàng thương mại có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ
lớn, có những thơng tin về việc ngân hàng có nhiều món vay khơng thu hồi được
hoặc ngân hàng đó bị Ngân hàng Nhà nước đưa vào diện kiểm sốt đặc biệt thì uy
tín của ngân hàng đó bị giảm sút nghiêm trọng. Chính vì đó, rủi ro tín dụng xảy ra
sẽ làm giảm khả năng thanh tốn của ngân hàng thương mại đối với các nguồn tiền
gửi.Đối với nền kinh tế: Một khi rủi ro tín dụng xảy ra, uy tín và khả năng thanh
tốn của ngân hàng ảnh hưởng đầu tiên. Tiếp đó, người dân và các tổ chức đang có

tiền gửi tại ngân hàng kéo đến ồ ạt đến rút tiền và chấm dứt quan hệ. Khi kinh tế
tăng trưởng cùng với thị trường bất động sản bùng nổ khiến cho tâm lý cho vay dễ
dàng, nguy cơ rủi ro tin dụng gia tăng. Những ngân hàng có quy mơ tài sản và vốn


nhỏ thường có nguy cơ mạo hiểm, chấp nhận rủi ro hơn ngân hàng lớn. Sự mở
rộng mạng lưới hoạt động nhanh ảnh hưởng gia tăng khả năng rủi ro tín dụng ngân
hàng khi nó làm gia tăng hiệu quả chi phí kém. Mặc dù tăng trưởng tín dụng ảnh
hưởng ngược chiều rủi ro tín dụng nhưng gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng thanh
khoản của ngân hàng khi tỷ lệ cho vay so tiền gửi vượt mức và một chính sách lãi
suất cao để bù đắp thanh khoản và chi phí đã ảnh hưởg mạnh đến khả năng trả nợ
của khách hàng. Một tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng chung cao sẽ ảnh hưởng hạn
chế tư tưởng mạo hiểm rủi ro của các nhà quản lý hoặc chủ nhà băng trong q
trình tăng trưởng tín dụng.

3.Phương pháp phịng chống

 Nâng cao trình độ, năng lực chun mơn và đạo đức nghề nghiệp của
cán bộ nhân viên

Tăng cường hơn nữa cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, nhân
viên; xử lý nghiêm minh và kịp thời các vụ việc, các vụ án. Ðồng thời, tăng
cường công tác đào tạo, đào tạo lại cán bộ làm công tác nghiệp vụ, đặc biệt là
đội ngũ cán bộ tín dụng và kiểm sốt nội bộ và đội ngũ quản lý rủi ro bằng
nhiều hình thức trong đó chú trọng hơn nữa công tác đào tạo tại chỗ nhằm nâng
cao năng lực quản trị ngân hàng của đội ngũ cán bộ nghiệp vụ nhất là năng lực
quản trị rủi ro: tín dụng, thanh khoản, thị trường, đạo đức nghề nghiệp…; trong


điều kiện nền kinh tế cả nước nói chung và của các doanh nghiệp nói riêng đang

gặp nhiều khó khăn, có nhiều diễn biến khó lường như hiện nay, khơng xem nhẹ
rủi ro nào.

Đồng thời tiến hành chính sách đào tạo, đào tạo lại và đãi ngộ hợp lý thông qua
chế độ tiền lương, tiền thưởng, chế độ đào tạo, cơ hội thăng tiến… đối với
những cán bộ làm công tác tín dụng, thẩm định, quản lý rủi ro; ban hành qui
định liên quan đến vấn đề trách nhiệm cá nhân (nhất là trách nhiệm vật chất)
trong việc để xảy ra rủi ro gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng.

 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định khách hàng vay vốn và dự án
vay vốn.

Cần sàng lọc lựa chọn khách hàng; nắm vững thông tin khách hàng vay vốn
thơng qua thẩm định, kiểm tra; chủ động tìm kiếm các nguồn thông tin khác từ
cơ quan thuế, tài chính, kiểm tốn; thơng tin từ các ngân hàng và tổ chức tín


dụng trên địa bàn; các phương tiện thông tin đại chúng…; giám sát khách hàng
việc sử dụng vốn vay và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng trên cơ sở
đó tiến hành tính điểm tín dụng, đánh giá, xếp loại khách hàng để có quyết định
cho vay.

Ngân hàng nên sử dụng có hiệu quả thơng tin tín dụng từ Trung tâm thơng tin
tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (CIC); đồng thời, xây dựng mối quan hệ lâu
dài với khách hàng, tập hợp, thu thập thông tin đầy đủ về khách hàng; kịp thời
phát hiện những biểu hiện yếu kém của khách hàng từ đó hạn chế hoặc từ chối
cho vay.

 Hồn thiện chính sách quản lý rủi ro


Một chính sách quản lý rủi ro bao gồm: nhận diện rủi ro, xác định hạn mức rủi

ro, định lượng rủi ro và kiểm soát rủi ro. Nhận biết rủi ro: Bước đầu tiên để có
một chính sách quản trị rủi ro hiệu quả là phải nhận biết và xác định được các
loại rủi ro mà NHPT có thể gặp phải. Xác định hạn mức rủi ro: Bộ phận quản lý
rủi ro phải xác định hạn mức rủi ro cho ngân hàng, là mức rủi ro nhất định mà
ngân hàng có thể chấp nhận. Hội đồng quản trị theo định kỳ có trách nhiệm xem
xét lại và thơng qua các hạn mức đó. Các mức này sau đó được thông báo tới


toàn bộ cán bộ, nhân viên các bộ phận nghiệp vụ và ban điều hành. Ban điều
hành chịu trách nhiệm đảm bảo các bộ phận nghiệp vụ tuân thủ các hạn mức
này. Có tỷ lệ thưởng và phạt tính trên tổng số thấp hơn và lớn hơn tổng số vượt
hạn mức đó. Ðịnh lượng rủi ro: là việc đề ra và xem xét lại hạn mức rủi ro, giúp
ban điều hành xác định được rủi ro cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát.
Kiểm soát rủi ro: Rủi ro được kiểm soát bằng việc thực hiện các thủ tục nằm
trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro. Ban
điều hành phải tìm ra sự cân bằng tối ưu giữa chi phí cho các thủ tục kiểm sốt
và lợi ích đem lại từ các thủ tục đó, từ đó lựa chọn các thủ tục kiểm soát rủi ro
phù hợp.




×