1
Lạm phát và kiểm soát lạm phát. liên hệ Việt Nam
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Việt Nam hiện là một quốc gia đang phát triển, có nền
kinh tế với tốc độ tăng trưởng và phát triển tương đối nhanh so
với các quốc gia khác trong khu vực. Là một quốc gia hết sức
năng động, Việt Nam luôn bắt kịp với các xu thế kinh tế mới
trên thế giới, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ công nghệ 4.0 như
hiện nay đã làm thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối,
tiêu dùng, thúc đẩy q trình quốc tế hóa, xã hội hóa nền kinh
tế. Điều đó có ảnh hưởng nhất định tới nền kinh tế thị trường
Việt Nam, dẫn tới tình trạng lạm phát xảy ra. Để ổn định nền
kinh tế vĩ mô đặt ra các vấn đề cấp bách và cấp thiết là kiểm
soát được lạm phát, cải thiện các cân đối lớn của nền kinh tế
trở thành mục tiêu quan trọng trong ổn định vứng chắc kinh tế
thị trường trong giai đoạn 2016-2020
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
-Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề về lạm
phát và biện pháp kiểm soát lạm phát tại Việt Nam
-Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Để tài nghiên cứu lạm phát và biện pháp kiểm
soát lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020.
Về không gian: Đề tài nghiên cứu lạm phát và biện pháp
kiểm sốt lạm phát của Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
2
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm hệ thống những nội
dung cơ bản về lạm phát trong bối cảnh hội nhập kinh tế, đặc
biệt là lý luận về các giải pháp giảm thiểu lạm phát để ổn định
và phát triển kinh tế của một quốc gia trong giai đoạn 20162020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành dựa trên các phương pháp nghiên cứu
khoa học phổ biến như suy luận biện chứng, các quan
điểm,đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước, phân tích,
tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, khái quát hóa và hệ thống
hóa, khoa học, hợp lí, đáng tin cậy, phù hợp với đề tài
5. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 04 phần
chính:
Phần 1 : Cơ sở lý luận về lạm phát và cac cách kiểm soát
lạm phát
Phần 2 : Thực trạng lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn
2016-2020.
Phần 3 : Các giải pháp giảm thiểu lạm phát trong giai đoạn
tới
Phần 4 : Kết luận.
3
Phần 1 : Cơ sở lý luận về lạm phát và các cách kiểm sốt lạm
phát
1.1. Cơ sở lí luận về vấn đề lạm phát.
1.1.1. Các khái niệm về lạm phát :
Khái niệm về lạm phát đã được hiểu theo nhiều cách hiểu
khác nhau nhưng theo giáo trình của Học viện Tài Chính, lạm
phát được phát biểu là sự tăng lên của mức giá chung bình theo
thời gian.
Lạm phát của nền kinh tế thị trường xuất hiện khi các yêu cầu
của các quy luật kinh tế hàng hố khơng được tôn trọng nhất là
quy luật lưu thông tiền tệ . Ở đâu sản xuất hàng hố cịn tồn tại
những quan hệ hàng hố tiền tệ thì ở đó cịn tiềm ẩn khả năng
xảy ra lạm phát và lạm phát chỉ xuất hiện khi các quy luật của
lưu thông tiền tệ bị vi phạm. Lạm phát được đề cập đến rất
nhiều trong các cơng trình nghiêm cứu của các nhà kinh tế. Mỗi
ngời đều đặt ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm phương
hướng nghiên cứu của mình.
Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng :"lạm phát xảy ra khi mức
chung của giá cả và chi phí tăng – giá bánh mì dấu xăng xe ơ tơ
tăng tiền long giá đất, tiền thuế t liệu sản xuất tăng “ Ông thấy
rằng lạm phát chính là biểu thị sự tăng lên của giá cả”
Còn Milton Friedman lại quan niệm khác : Lạm phát là việc giá
cả tăng nhanh và kéo dài “Ông cho rằng lạm phát là một hiện
tợng tiền tệ. Một số nhà kinh tế thuộc phải tiền tệ và phải
Keynes đều tán thành ý kiến đó của Friedman.
Biểu hiện của lạm phát thông qua chỉ số giá:
Chỉ số giá được xác định theo cơng thức:
Trong đó:
Ip là chỉ số giá cả chung.
4
iP là chỉ số giá cá thể của từng loại hàng, nhóm hàng.
d là tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại, từng nhóm
hàng (Ʃ d =1)
Tỷ lệ lạm phát (gp) là chỉ tiêu phản ánh sự biến động của chỉ số
giá chung giữa hai thời kỳ
Trong đó: gp là tốc độ tăng trưởng của mức giá chung
IP1: chỉ số giá cả chung của kỳ này
IP0: chỉ số giá cả chung của kỳ trước
1.1.2 Phân loại lạm phát
Lạm phát thể hiện những mức độ nghiêm trọng khác nhau.
-Căn cứ theo tỷ lệ lạm phát,chúng được phân thành ba cấp:
Lạm phát vừa phải, Lạm phát phi mã và siêu lạm phát.
Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và
có thể dự đốn được. Tỷ lệ lạm phát hàng năm là một chữ số .
Khi giá tương đối ổn định, mọi người tin tưởng vào đồng tiền,
họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ ngun giá trị trong
vòng một tháng hay một năm. Mọi người sẳn sàng làm những
hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền vì họ tin rằng giá trị
và chi phí của họ mua và bán sẽ không chệch đi quá xa.
Lạm phát phi mã: tỷ lệ tăng giá trên 10% đến < 100% được gọi
là lạm phát 2 hoặc 3 con số. Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất
thực tế thường âm, không ai muốn giữ tiền mặt mọi người
chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho việc thanh tốn
hằng ngày. Mọi người thích giữ hàng hóa, vàng hay ngoại tệ. Thị
trường tài chính khơng ổn định ( do vốn chạy ra nước ngoài).
5
Siêu lạm phát : tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm. Đồng
tiền gần như mất giá hoàn toàn. Các giao dịch diễn ra trên cơ
sở hàng đổi hàng tiền khơng cịn làm được chức năng trao đổi.
Nền tài chính khủng hoảng (siêu lạm phát đã từng xảy ra ở Đức
1923 với tỷ lệ 10.000.000.000% và xảy ra ở Bolivia 1985 với
50.000%/năm).
- Căn cứ theo tỷ lệ lạm phát và độ dài thời gian thì lạm phát
được chia thành lạm phát kinh niên,lạm phát nghiêm trọng,siêu
lạm phát
1.1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
Lạm phát do cầu kéo
Khi mong muốn thị trường về một mặt hàng nào đấy tăng lên
sẽ khiến cái giá của mặt hàng đó tăng theo. Giá
cả của những mặt hàng khác cũng theo đó leo thang, dẫn đến
sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường.
Khi thất nghiệp thấp, tương ứng với sản lượng cao. Chính phủ
tăng tổng cầu, mức giá tăng liên tục. Lạm phát do sự tăng lên
về cầu (nhu cầu tiêu dùng của thị trường tăng) được gọi là “lạm
phát do cầu kéo”.
Lạm phát do chi phí đẩy
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp gồm có tiền lương, cái
giá nguyên liệu đầu vào, máy móc, thuế… Khi giá cả của một
hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí
nghiệp cũng tăng lên, vì thế mà giá thành hàng hóa cũng sẽ
tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận. Mức giá chung của tập
thể nền kinh tế tăng lên được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”.
Lạm phát ỳ (giảm phát dự kiến, giảm phát mong đợi)
Khi mà giá cả chung của các hàng hoá và dịch vụ tăng liên tục
đều đặn theo thời gian với 1 tỷ lệ tương đối ổn định
Phần 2 : Thực trạng lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn
2016-2020.
Về ổn định vĩ mơ, kiểm sốt lạm phát, NHNN đã điều hành
chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với
chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mơ khác nhằm
6
kiểm sốt lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mơ, góp phần hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế; thanh khoản của tổ chức tín dụng được đảm bảo
và có dư thừa, thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định, thông suốt.
Về cơ bản, nền kinh tế thế giới từ năm 2016-2020 đã có
những dấu hiệu tích cực hơn và có những tác động thuận lợi,
tạo điều kiện cho phát triển kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó các
hiệp định thương mại như VN-EAEU FTA (Hiệp định Thương mại
Tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu), AHKFTA (Hiệp định
Thương mại tự do ASEAN và Hồng Kông (Trung Quốc)),
EVFTA(Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu
Âu),...đã tạo đà thuận lợi cho nền kinh tế thị trường phát triển
mạnh mẽ đồng thời cũng tạo ra các thách thức hòa nhập nhưng
vẫn phải giữ được bản chất nền kinh tế thị trường.
Lạm phát được kiểm soát nhờ thực hiện tốt, đồng bộ các giải
pháp về tiền tệ, tín dụng và tài khóa cũng như cơ chế phối hợp
linh hoạt giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Chỉ số
CPI bình quân năm giảm từ 4,74% năm 2016 xuống 3,54% năm
2018; năm 2019, giảm còn 2,79%.Tuy nhiên, nền kinh tế Việt
Nam vẫn phải đối mặt với một số thách thức như tình hình kinh
tế thế giới diễn biến phức tạp, thời tiết đang là trở ngại lớn
trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và việc kiểm soát
lạm phát đang gặp nhiều thách thứ.
Trong giai đoạn 2016- 2018, trong bối cảnh lãi suất quốc tế gia
tăng (Fed 9 lần tăng lãi suất từ tháng 12/2015 đến tháng
12/2018, từ mức gần 0% lên mức 2,25-2,5%), NHNN đã điều
hành đồng bộ các giải pháp chính sách tiền tệ nhằm ổn định
mặt bằng lãi suất, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ
tăng trưởng hợp lý.
Như vậy, trong những năm gần đây, nợ xấu và nợ công ở mức
cao đang là nguyên nhân dẫn đến đầu tư thấp, tăng trưởng
thấp và lạm phát thấp tại Việt Nam.
Do triển vọng xử lý nợ xấu, giảm nợ công, hạ lãi suất hiện vẫn
chưa rõ ràng, có thể kỳ vọng, lạm phát trong thời gian tới sẽ
tiếp tục thấp, xoay quanh mức khoảng 1%, nếu khơng có các
cú sốc lớn từ phía cung như giá dầu, giá lương thực, giá dịch vụ
y tế và giáo dục…
7
Chỉ số lạm phát trong các năm liên tiếp từ 2017-2020 đều dưới
4%, mức lạm phát được kiểm soát tốt nhờ các chính sách kịp
thời, khơng để nền kinh tế bị gián đoạn đứt gãy ngay cả trong
thời kì dịch bệnh.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) giai đoạn 2016 2019 đạt khá cao, ở mức bình quân 6,8%/năm. Mặc dù năm
2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19,
thiên tai, bão lụt nghiêm trọng ở miền Trung nhưng tốc độ tăng
trưởng bình quân 5 năm 2016 - 2020 đạt khoảng 6%/năm và
thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao nhất khu vực, thế giới.
Năm 2020 là một năm biến động khó lường, lạm phát tăng cao
ở những tháng đầu năm, việc nguồn cung một số mặt hàng
thực phẩm thiết yếu, đặc biệt là nguồn cung thịt lợn giảm do
dịch bệnh tả lợn Châu Phi đã đẩy giá nhóm thực phẩm tăng
cao; ở chiều ngược lại, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhu
cầu tiêu dùng nhiên liệu giảm nên giá xăng dầu năm 2020 giảm
khá sâu. Cùng với việc phối hợp chặt chẽ và linh hoạt trong
công tác điều hành giá các mặt hàng do nhà nước quản lý và
việc chỉ đạo triển khai tốt công tác bình ổn thị trường hàng hóa
nên về cơ bản diễn biến lạm phát năm 2020 tương đối sát với
dự báo từ đầu năm, nằm trong kịch bản CPI tăng thấp.
Bên cạnh đó, cuộc chạy đua điều chế vac-xin Covid 19 cũng
khiến cho tình hình kinh tế chung có nhiều bất ổn, lạm phát là
kịch bản hồn tồn có khả năng diễn ra cao khi hàng hoạt các
sản phẩm tiêu dùng đột ngột tăng giá mạnh và mức khan hiếm
của các trang thiết bị thiết yếu.
Ngoài ra, do ảnh hưởng của mưa bão, lũ lụt tại các tỉnh miền
Trung trong tháng 10 và tháng 11 tác động làm cho diện tích
rau màu ngập nặng, nhiều ao, hồ, chuồng trại bị hư hỏng, cuốn
trôi,…làm cho giá rau tươi, khô và chế biến tăng. Tuy nhiên, giá
các mặt hàng thiết yếu như xăng, dầu giảm 23,03% so với năm
trước (làm CPI chung giảm 0,83%); giá dầu hỏa giảm 31,21%;
giá gas trong nước giảm 0,95% do ảnh hưởng của giá nhiên liệu
thế giới. Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh
hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói
giảm 6,24% so với năm trước; giá cước vận tải của các loại
phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm. Chính phủ triển khai
8
các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do
dịch Covid-19 như gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam
(EVN) triển khai giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng nên
giá điện tháng 5 và tháng 6 năm nay giảm lần lượt là 0,28% và
2,72% so với tháng trước,...
Nhìn chung, tình hình mức giá chung tăng cao hơn cùng kì năm
trước. Nhưng dưới sự chỉ đạo, công tác quản lý điều hành sao
sát của Chính Phủ đã đạt mục tiêu kiểm sốt lạm phát dưới 4%
được Quốc hội đã đề ra.
Phần 3 : Các giải pháp giảm thiểu lạm phát trong giai đoạn tới
Việc kiểm soát và giảm thiểu lạm phát trong giai đoạn tới đặt ra
nhiều thách thức cần phải đối mặt khi tình hình hình chung của
kinh tế thế giới đang đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn nhất
toàn cầu do dịch bệnh và những bất ổn về chính trị ở nhiều nơi.
Trước tình hình đó, Việt Nam phải có những biện pháp sẵn sàng
đối phó với các bài tốn kinh tế cấp bách và kìm chế lạm phát
tiếp tục là mục tiêu hàng đầu của Chính Phủ cần quan tâm.
Trong giai đoạn mới, việc hạn chế lạm phát nên
Tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ mở rộng,
hợp lý để duy trì đà phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế gắn với ổn định kinh tế vĩ mơ và kiểm sốt lạm phát.
Thực hiện tốt các nhiệm vụ phịng, chống dịch Covid-19.
Chính sách tài khóa đã tập trung hỗ trợ tạm thời cho các
doanh nghiệp và các hộ gia đình dễ bị tổn thương, trong
khi chính sách tiền tệ được nới lỏng để duy trì thanh khoản
dồi dào trong hệ thống ngân hàng.
Tiếp tục nâng cao hiệu quả, hiệu lực điều hành CSTT và
hoạt động ngân hàng góp phần thúc đẩy hiệu quả chu
chuyển vốn trong nền kinh tế.Ngân hàng Nhà Nước xem
xét điều chỉnh mức lãi suất trong trường hợp tình hình dịch
vẫn diễn ra căng thẳng và tái bùng phát để hỗ trợ nền
kinh tế
Phối hợp chặt chẽ với các Bộ,ban ngành chủ động nguồn
hàng dự trữ khơng để tình trạng khan hiếm các mặt hàng
cần thiết,vật tư y tế, lượng thực thực phẩm,....và giá tăng
đột biến gây hoang mang cho người tiêu dùng
9
Theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tình hình dịch
bệnh trong nước và quốc tế để chủ động điều hành đồng
bộ, linh hoạt các công cụ CSTT, phối hợp chặt chẽ với
chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mơ khác
nhằm kiểm sốt lạm phát theo mục tiêu năm 2021 bình
qn khoảng 4%, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mơ, góp phần
phục hồi tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định thị trường
tiền tệ và ngoại hối.
Cần giám sát chặt chẽ những rủi ro tài chính và giải quyết
kịp thời các khoản vay có vấn đề. Các mục tiêu trung hạn
cần bao gồm cải thiện khuôn khổ tái cơ cấu nợ khu vực tư
nhân và cải thiện hơn nữa vốn của các ngân hàng trong
bối cảnh áp dụng những quy định của Basel II.
Theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án
phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động
của hạn hán, xâm nhập mặn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại
tới sản xuất và cuộc sống của người dân. Thực hiện có
hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm
Hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong việc tìm thị trường
nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện
thay thế, tháo gỡ khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đồng thời, vận động người dân ưu tiên dùng
hàng trong nước, ủng hộ doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm trong giai đoạn khó khăn.
Kích cầu đầu tư trong khối doanh nghiệp sản xuất cho
xuất khẩu để chủ động nguồn hàng khi thị trường các
nước trên thế giới mở lại bình thường và tận dụng cơ hội từ
Hiệp định Thương mại tự do châu Âu – Việt Nam
Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương,
biện pháp bình ổn giá, kiểm sốt lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, góp phần tạo sự đồng
10
thuận trong xã hội để hạn chế tối đa các tác động tăng giá
do yếu tố tâm lý, kỳ vọng lạm phát.
Các biện pháp ổn định lạm phát là những hướng đi quan trọng
trong thời gian tới. Song việc điều chỉnh và phản ứng kịp thời
trước những rủi ro và khó khăn vẫn là bước đi quan trọng trong
giai đoạn này. Điều đó, cần sự vào cuộc và nhất trí của tồn bộ
hệ thống chính trị.
Phần 4 : Kết luận.
Sau 4 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2016 2020, kinh tế vĩ mô dần ổn định, tích luỹ thêm nhiều kinh
nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành phát triển kinh tế xã hội, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội tăng lên.
Tuy nhiên, những khó khăn, hạn chế nội tại của nền kinh tế đã
ảnh hưởng không nhỏ tới phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi
trường. Ảnh hưởng từ bên ngoài gia tăng, cạnh tranh ngày càng
gay gắt, trong khi độ mở của nền kinh tế cao, sức chống chịu
còn hạn chế; tác động của biến đổi khí hậu ngày càng mạnh, các
loại dịch bệnh xảy ra, đặc biệt là đại dịch Covid-19, ảnh hưởng
rất nghiêm trọng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đời
sống nhân dân và khả năng hoàn thành mục tiêu kế hoạch đã
đề ra
Kinh tế tăng trưởng từng bước vững chắc và ngày càng được cải
thiện, quy mô kinh tế ngày càng mở rộng, các cân đối lớn của
nền kinh tế được bảo đảm. Giá cả hàng hoá tương đối ổn định,
lạm phát hằng năm được kiểm soát thấp hơn mục tiêu đề ra.
Chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thị trường ngoại hối và tỉ
giá đi vào ổn định, lãi suất giảm dần. Cơ cấu thu chuyển dịch
tích cực theo hướng tăng tỉ trọng thu nội địa, các nhiệm vụ chi
được thực hiện theo hướng tăng dần tỉ lệ chi đầu tư phát triển,
giảm dần chi thường xuyên, bảo đảm các mục tiêu về bội chi và
nợ cơng. Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển tồn xã hội
tăng lên, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh, đạt mức
kỷ lục và hiệu quả sử dụng dần được nâng cao. Cán cân xuất,
nhập khẩu hàng hoá được cải thiện rõ rệt, chuyển từ thâm hụt
11
sang thặng dư, cơ cấu xuất, nhập khẩu chuyển dịch tích cực,
bền vững hơn. Thương mại trong nước tăng trưởng nhanh, kết
cấu hạ tầng thương mại phát triển nhanh chóng, nhất là các
hình thức bán lẻ hiện đại
Ở chiều ngược lại, trong bối cảnh còn nhiều yếu tố bất định liên
quan đến dịch bệnh, tổng cầu của nền kinh tế khó có khả năng
phục hồi mạnh trở lại như giai đoạn trước dịch. Đặc biệt tình
hình kinh doanh một số lĩnh vực như lưu trú, du lịch, giải trí,
hàng khơng... dự báo gặp nhiều khó khăn, nên nhìn chung mặt
bằng giá cả mặt hàng thiết yếu dự kiến khơng có biến động.
Nhưng trước những kết quả đã đặt được, chúng ta không nên
chủ quan. Việc thực hiện mục tiêu kép bên cạnh việc khống chế
kiểm sốt dịch bệnh cịn duy trì sự phát triển kinh tế xã hội là
nhiệm vụ hàng đầu của nước ta trong thời gian tới
Dự báo về tình hình kinh tế của Việt Nam, Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF) cho rằng, dù đại dịch để lại một số tác động bất lợi kéo
dài nhưng nền kinh tế dự kiến sẽ phục hồi mạnh trong năm
2021 khi q trình bình thường hóa các hoạt động kinh tế trong
và ngồi nước tiếp diễn. Các chính sách tài khóa và tiền tệ được
kỳ vọng sẽ vẫn tiếp tục hỗ trợ, mặc dù ở mức độ thấp hơn so
với năm 2020 và lạm phát được dự báo sẽ vẫn gần với mục tiêu
của Chính phủ là 4%.
Nhằm giảm bớt áp lực lạm phát vào cuối năm 2021, kiểm soát
bền vững lạm phát năm 2022, các cơ quan chức năng cần theo
dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thiết
yếu; chủ động trong việc điều hành giá các mặt hàng do Nhà
nước quản lý đúng thời điểm với liều lượng phù hợp. Mặt khác,
liên Bộ Công Thương- Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng
dầu thế giới, sử dụng quỹ bình ổn giá xăng dầu hợp lý để hạn
chế mức tăng giá của mặt hàng này đến CPI chung.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
12 | P a g e
13
14