Tải bản đầy đủ (.pdf) (53 trang)

Bài tiểu luận ảnh hưởng của rác thải nhựa tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.15 MB, 53 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
NGÀNH CƠNG NGHỆ THÔNG TIN

BÀI TIỂU LUẬN
CHUYÊN ĐỀ: ẢNH HƯỞNG CỦA RÁC THẢI NHỰA
TẠI VIỆT NAM

TP. Hồ Chí Minh, 2022


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
NGÀNH CƠNG NGHỆ THÔNG TIN

BÀI TIỂU LUẬN
CHUYÊN ĐỀ: ẢNH HƯỞNG CỦA RÁC THẢI NHỰA
TẠI VIỆT NAM

TP. Hồ Chí Minh, 2022


MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI......................................................................................1
1.1.


Lý do chọn đề tài.............................................................................................................1

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................................2

1.3.

Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................................2

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT NAM VÀ THẾ
GIỚI.................................................................................................................................................3
2.1. Rác thải nhựa là gì?.............................................................................................................3
2.2. Nguồn gốc của rác thải nhựa...............................................................................................3
2.3. Thực trạng phát sinh rác thải nhựa trên thế giới...............................................................4
2.4. Thực trạng phát sinh rác thải nhựa tại Việt Nam..............................................................7
2.4.1. Sản xuất và tiêu thụ nhựa tại Việt Nam.......................................................................7
2.4.2. Thực trạng rác thải nhựa tại Việt Nam........................................................................8
2.4.3. Thực trạng xử lý rác thải nhựa tại Việt Nam............................................................10
CHƯƠNG 3: HẬU QUẢ PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT NAM..........................12
3.1. Thời gian để rác thải nhựa có thể phân hủy....................................................................12
3.2. Tác hại của rác thải nhựa đối với sinh vật biển................................................................13
3.3. Tác hại của rác thải nhựa đối với con người....................................................................16
3.4. Tác hại của rác thải nhựa đối với môi trường..................................................................19
3.5. Tác hại của rác thải nhựa đối với nền kinh tế..................................................................22
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT NAM.....25
4.1. Khó khăn trong cơng tác quản lý rác thải nhựa tại Việt Nam........................................25
4.1.1. Về cơ chế, chính sách...................................................................................................25
4.1.2. Về mơ hình quản lý......................................................................................................26
4.1.3. Về cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương................................................26

4.1.4. Về nguồn vốn đầu tư và kinh phí thực hiện...............................................................27
4.1.5. Về công nghệ xử lý.......................................................................................................27
4.1.6. Về dự báo, cập nhật dữ liệu, truyền thông và giáo dục cộng đồng..........................28
4.2. Giải pháp hạn chế phát sinh rác thải nhựa tại Việt Nam................................................28
4.2.1. Thúc đẩy hồn thiện các nghị định và thơng tư chính hướng dẫn Luật BVMT.....28
4.2.2. Tăng hiệu quả thu gom và phân loại chất thải nhựa.................................................30
4.2.3. Cải thiện khả năng tiếp cận tài chính cho các dự án tái chế.....................................31


4.2.4. Khuyến khích sử dụng hàm lượng tái chế.................................................................31
4.2.5. Quy định bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn thiết kế để tái chế đối với tất cả các loại
nhựa........................................................................................................................................32
4.2.6. Cải thiện sự minh bạch về dữ liệu trên thị trường nhựa..........................................32
4.2.7. Tăng khả năng tái chế cơ học và hóa học và khơng khuyến khích thải bỏ nhựa....32
4.2.8. Thiết lập u cầu cụ thể theo ngành để giúp tăng tỷ lệ thu gom và tái chế chất thải
nhựa........................................................................................................................................33
4.2.9. Nâng cao công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương..................................33
CHƯƠNG 5: CÁC CHƯƠNG TRÌNH VIỆT NAM ĐÃ THAM GIA NHẰM HẠN CHẾ
PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT NAM.....................................................................35
5.1. Chương trình Đối tác Hành động Quốc gia về Nhựa (NPAP)........................................35
5.2. Dự án Giảm thiểu rác thải nhựa đại dương tại Việt Nam...............................................35
5.2.1. Mục tiêu và nhiệm vụ..................................................................................................36
5.2.2. Tác động của dự án.....................................................................................................37
5.3. Dự án giảm ô nhiễm rác thải nhựa với các giải pháp địa phương (LSPP).....................38
5.4. Chương trình tái chế rác thải đô thị nhằm giảm thiểu sự ô nhiễm chất thải nhựa.......41


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WHO


: Tổ chức y tế Thế Giới

EPA

: Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ

UNEP

: Chương trình Mơi trường Liên hợp quốc

WWF

: Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên

CFR

: Tỷ lệ thu gom tái chế

TNMT

: Tài nguyên môi trường

BVMT

: Bảo vệ môi trường

ODA

: Vốn hợp tác phát triển chính thức


EPR

: Cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất

QLCTR

: Quản lý chất thải rắn

DNVVN

: Doanh nghiệp vừa và nhỏ

NHNN

: Ngân hàng Nhà Nước

EHS

: Môi trường - Sức khỏe - An tồn

NPAP

: Chương trình Đối tác Hành động Quốc gia về Nhựa

LSPP

: Dự án giảm ô nhiễm rác thải nhựa với các giải pháp địa phương

WEF


: Diễn đàn Kinh tế Thế giới

GPAP

: Chương trình Hợp tác Hành động Toàn cầu về Nhựa

PHA

: Đối tác hành động về Nhựa và sức khỏe


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1……………………………………………………………………………12
Bảng 5.1……………………………………………………………………………42


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1……………………………………………………………………………...3
Hình 2.2……………………………………………………………………………...4
Hình 2.3……………………………………………………………………………...5
Hình 2.4……………………………………………………………………………...7
Hình 3.1…………………………………………………………………………… 14
Hình 3.2…………………………………………………………………………….15
Hình 3.3…………………………………………………………………………….18
Hình 3.4…………………………………………………………………………….20
Hình 3.5…………………………………………………………………………….21
Hình 4.1…………………………………………………………………………….30


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu

đồ

2.1…………………………………………………………………………...6
Biểu

đồ

2.2…………………………………………………………………………...9
Biểu
3.1………………………………………………………………………….23

đồ



1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài
Thời gian qua, trên các chương trình thời sự, báo đài… ln nhắc đến vấn
đề: “Ơ nhiễm trắng”. Vậy “Ơ nhiễm trắng là gì?” hiện đang là câu hỏi mà rất nhiều
người quan tâm. Đây là cụm từ được các nhà khoa học dùng để chỉ về ô nhiễm gây
ra bởi túi nilon hay nói rộng hơn là chất thải nhựa. Vấn đề này xảy ra khi các loại
rác thải nhựa thải ra trong quá trình sinh hoạt, sản xuất không được xử lý đúng cách.
Chúng tồn đọng trong môi trường và gây ra nhiều hệ lụy nguy hiểm khôn lường.
Tuy nhiên, các sản phẩm làm từ nhựa đã và đang trở thành một phần thiết
yếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân. Nhựa được sử dụng để làm bao bì,
túi, ly, quần áo, đồ chơi, đồ gia dụng, các sản phẩm cơng nghiệp, thậm chí vật liệu

xây dựng. Việc sản xuất và tiêu thụ nhựa gia tăng trong khi tỷ lệ tái chế thấp dẫn
đến tăng lượng rác thải nhựa rị rỉ ra mơi trường bên ngồi và đây đang là vấn đề vô
cùng nhức nhối của toàn cầu, hầu hết ai cũng biết rằng chúng mang đến nhiều nguy
hiểm cho nhân loại thế nhưng để hiểu rõ tác hại của rác thải nhựa không phải ai
cũng nắm được. Nó khơng những tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia, đến hoạt động hàng hải, đánh bắt hải sản, du lịch, mơi trường sống… mà
cịn ảnh hưởng khơng nhỏ đến sức khỏe của con người.
Theo báo cáo của Liên hợp quốc cho thấy mỗi năm lượng nhựa thải ra môi
trường đủ để bao quanh trái đất bốn lần, trong đó có 13 triệu tấn chất thải nhựa
được đổ ra đại dương. Mỗi phút sẽ có một triệu túi nhựa được tiêu thụ, nhưng mới
chỉ có 27% trong số đó được xử lý và tái chế. Theo số lượng thống kê, mỗi hộ gia
đình Việt Nam thường thải ra hơn một túi ni-lơng mỗi ngày. Như vậy sẽ có hàng
triệu túi ni-lơng được sử dụng và thải ra mơi trường. Đây chính là gánh năng cho
mơi trường, thậm chí cịn dẫn đến thảm họa cho các thế hệ tương lai của chúng ta.
Bạn hãy tự tưởng tượng xem, nếu một ngày trên thế giới tràn ngập rác thải
nhựa và túi nilon khó phân hủy, các loài sinh vật biển, vi sinh vật có lợi dưới đất


2

khơng cịn tồn tại, nguồn đất, nguồn nước bị ơ nhiễm, các lồi cây cối cũng chết dần
vì các mảnh đất khơ cằn chứa tồn rác thải. Liệu cuộc sống của chúng ta khi đó sẽ
như thế nào?
Việc lạm dụng sử dụng sản phẩm nhựa, nhất là túi ni-lơng khó phân huỷ, sản
phẩm nhựa dùng một lần đã để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường,
vấn đề ô nhiễm nhựa thật sự đáng báo động, đã, đang và sẽ gây thiệt hại to lớn cho
môi trường sinh thái ở nước ta. Vì vậy, nhằm làm rõ hơn thực trạng về rác thải
nhựa, nghiên cứu các giải pháp trong việc thu gom, xử lý rác thải nhựa hiện nay tại
Việt Nam, nhóm chúng tơi chọn đề tài tiểu luận là: “Ảnh hưởng của rác thải nhựa
tại Việt Nam”.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
-

Tìm hiểu về rác thải nhựa, nguồn gốc của rác thải nhựa.

-

Tìm hiểu thực trạng rác thải nhựa trên thế giới và tại Việt Nam.

-

Tìm hiểu về ảnh hưởng của rác thải nhựa tại Việt Nam.

-

Tìm hiểu về công tác quản lý chất thải nhựa ở Việt Nam.

-

Đưa ra một số giải pháp để giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa tại Việt Nam.

1.3. Phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu: rác thải nhựa.

-

Phạm vi nghiên cứu: đánh giá, phân tích hiện trạng, chính sách và thực tiễn


quản lý chất thải nhựa hiện nay tại Việt Nam.


3

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI
VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
2.1. Rác thải nhựa là gì?
Rác thải nhựa là tổng hợp toàn bộ vật dụng làm bằng nhựa (mà chủ yếu là
nhựa PE) được thải ra môi trường. Đặc tính của rác thải nhựa là chúng khơng thể
phân hủy được trong nhiều môi trường và tồn tại trong thời gian rất dài.

Hình 2.1 – Rác thải nhựa
2.2. Nguồn gốc của rác thải nhựa
Tại Việt Nam, các loại rác thải nhựa chủ yếu là túi ni-lông, vỏ chai nhựa bẩn,
các sản phẩm nhựa sử dụng một lần, sản phẩm nhựa khó thu hồi, khó tái chế… phát
sinh từ các nguồn sau:
-

Chất thải sinh hoạt của dân cư, khách vãng lai, du lịch: các túi nilon, chai

nhựa, ống hút nhựa, thùng nhựa, hộp đựng thức ăn bằng nhựa…


4

-

Chất thải nhựa từ các chợ, tụ điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, khu vui


chơi giải trí, khu văn hoá, …
-

Chất thải nhựa sinh hoạt từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, …

-

Chất thải nhựa từ các hoạt động sản xuất, nông nghiệp, thi công trong các

nhà máy, xí nghiệp, khu cơng nghiệp: 40% nhựa được sản xuất dùng để đóng gói,
bao bì đựng các thực phẩm, đồ dùng sinh hoạt gia đình, các sản phẩm cơng nghiệp.
Về nơng nghiệp thì chất thải nhựa có thể phát sinh từ q trình trồng trọt như nilơng che phủ đất và để bọc hoa quả, bao bì phân bón, thuốc bảo vệ thực vật - tồn tại
ở dạng chai nhựa, túi nhựa tráng kẽm khó phân hủy và được xếp vào danh mục chất
thải nguy hại.
-

Chất thải nhựa từ sinh hoạt của cơng nhân trong các cơng trình xây dựng, cải

tạo và nâng cấp, …: nhựa được sử dụng rất nhiều làm khung cửa, cửa nhựa, cổng,
dàn giáo, bàn ghế, tủ, vải nhựa che phủ các cơng trình.
-

Chất thải nhựa từ khu vực y tế, bệnh viện: kim tiêm, gang tay, chai, lọ

thuốc...
Khu dân
cư, khách
du lịch
Nhà hàng,
khách sạn


Cơ quan
trương học
Rác thải
nhựa

Khu vực y
tế, bệnh viện

Cơng nhân
cơng trình
Nhà máy,
xí nghiệp

Hình 2.2 - Sơ đồ nguồn phát sinh rác thải nhựa


5

2.3. Thực trạng phát sinh rác thải nhựa trên thế giới
Minh chứng rõ ràng nhất về thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa toàn cầu đang
được thể hiện qua những con số thống kê sau:
Về lượng tiêu thụ các đồ dùng nhựa: theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) cho biết mỗi phút cả thế giới tiêu thụ 1 triệu chai nhựa, mỗi năm có 5.000 tỷ
túi nilon được sử dụng… Chưa kể đến các loại sản phẩm làm từ nhựa khác như: đồ
dùng, bàn, ghế, tã, đồ chơi…
Về lượng rác thải đổ ra môi trường: Đến nay thế giới đã sản xuất ra 8,3 tỉ tấn
nhựa, trong đó có 6,3 tỷ tấn là rác thải nhựa. Trung bình mỗi năm thế giới thải ra
mơi trường khoảng 300 triệu tấn rác thải nhựa, trong đó có khoảng 8 triệu tấn bị thải
ra biển. Tổ chức Bảo vệ mơi trường biển Ocean Conservancy cịn dự báo là tới năm

2025, cứ 3 tấn cá sẽ có 1 tấn rác thải nhựa.
Về tốc độ tăng trưởng: trong 50 năm qua lượng nhựa được sử dụng tăng 20
lần, dự báo có thể gấp đôi trong 20 năm nữa. Chúng ta hãy cũng xem qua vài số liệu
thống kê khác về lượng nhựa được tiêu thụ và thải ra của một số nước như Mỹ,
Anh, New Zealand qua hình sau:


6

Hình 2.3 - Tình trạng rác thải nhựa của một số nước trên thế giới
Những con số khổng lồ này chắc hẳn sẽ khiến chúng ta phải giật mình. Chỉ
vì thói quen và sự tiện dụng của đồ nhựa mà mỗi người sử dụng hằng ngày lại đã và
đang góp phần gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường sống của chính chúng
ta. Đồ dùng nhựa càng được ưa chuộng thì thực trạng ơ nhiễm rác thải nhựa hiện
nay sẽ không thể dừng lại. Đặc biệt là khi mà rác thải nhựa là loại rác thải khó phân
hủy, vì thế chúng đang là sức ép không hề nhỏ đối với việc xử lý rác của các quốc
gia trên thế giới.
Hiện chưa có thống kê nào về tổng số lượng rác thải nhựa mỗi quốc gia thải
ra môi trường. Tuy nhiên một báo cáo cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) đã
thống kế được số lượng rác thải nhựa mỗi quốc gia thải ra biển như sau:

Biểu đồ 2.1 – Top 12 quốc gia xả rác thải nhựa ra biển nhiều nhất trên thế giới
Cụ thể, Trung Quốc và Indonesia lần lượt là 2 quốc gia xả nhiều rác thải
nhựa ra biển nhất hiện nay với 8,8 triệu tấn và 3,2 triệu tấn mỗi năm. Việt Nam hiện
đứng thứ 4 sau Philippines với 1,8 triệu tấn rác thải nhựa.


7

Nhiều khu vực biển khác trên khắp thế giới cũng đang phải đương đầu với

tình trạng ơ nhiễm rác thải khơng kém phần nghiêm trọng. Chẳng hạn như chính
quyền tại Hawaii (nơi nghỉ mát ưa thích của người dân Mỹ) đã phải đưa ra những
lời cảnh báo, khi phát hiện nhiều hịn đảo nổi lớn gồm tồn những rác thải bằng chất
dẻo đang tiến sát bờ biển của mình từ phía Tây Bắc, với diện tích lên tới 1.6 triệu
km2, được các nhà khoa học đặt tên là “Bãi rác Khổng lồ của Thái Bình Dương”.

Hình 2.4 – Rác thải nhựa trên bãi biển Mỹ
Chúng ta đã thấy rõ nhưng con số về lượng tiêu thụ, sử dụng đồ nhựa và cả
lượng rác thải nhựa thải ra môi trường nhiều tới mức nào. Thế mà hiệu quả công tác
xử lý lượng rác thải đó lại vơ cùng khiêm tốn. Theo thống kê từ các tổ chức như
WHO và EPA cho thấy trong số 6,3 tỉ tấn là rác thải nhựa đang tồn tại trong mơi
trường thì chỉ có: 9% rác thải nhựa được tái chế, 12% rác thải nhựa được đốt và
79% cịn lại tồn tại trong mơi trường tự nhiên, bao gồm cả môi trường biển. Dự báo
năm 2050 sẽ có hơn 13 tỷ tấn rác thải nhựa được chôn lấp hoặc xả thẳng ra đại
dương.
Số liệu trên đang cho thấy việc xử lý, tái chế rác thải nhựa chưa mang lại
hiệu quả cao. Chính thực trạng này đã khiến việc ô nhiễm rác thải nhựa trở nên báo
động trên toàn cầu.


8

2.4. Thực trạng phát sinh rác thải nhựa tại Việt Nam
2.4.1. Sản xuất và tiêu thụ nhựa tại Việt Nam
Năm 2015, Việt Nam sản xuất và tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn nhựa; nguyên
liệu chủ yếu là nhập khẩu (khoảng 80%), trong đó bao gồm phế liệu nhựa nhập
khẩu. Đến năm 2017, ngành nhựa Việt Nam đã tiêu thụ khoảng 5,9 triệu tấn nguyên
liệu nhựa nguyên sinh.
Hiện cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp nhựa, trong đó 450 doanh
nghiệp sản xuất bao bì, tạo ra lượng lớn chất thải nhựa hàng ngày bao gồm cả túi nilơng khó phân hủy. Với số lượng doanh nghiệp và chủng loại sản phẩm đa dạng, sản

lượng nhựa Việt Nam năm 2008 đạt 2,3 triệu tấn, tốc tộ tăng trưởng trung bình
15%/năm. Trong năm 2018, sản lượng sản xuất ngành nhựa tăng 7%, đạt 8,3 triệu
tấn, trong đó sản xuất nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá trị của
ngành, đạt khoảng 36%; nhựa vật liệu xây dựng, đồ gia dụng và các loại dành cho
các ngành công nghiệp khác như điện tử, điện, giao thông vận tải lần lượt chiếm
khoảng 16%, 36% và 12% tương ứng.
Việc tiêu thụ, sử dụng nhựa bình quân trên đầu người tại Việt Nam tăng
nhanh từ 1990-2018 là 3,8 - 41,3 kg/người; điều này phù hợp với thành phần nhựa
trong chất thải rắn sinh hoạt của Việt Nam tăng từ 5,5% trong năm 2009 lên 13,9%
trong năm 2017.
Một thống kê cho thấy, trung bình mỗi gia đình Việt Nam hàng ngày sử dụng
khoảng 10 túi ni-lơng các loại, bình qn mỗi hộ sử dụng khoảng 1kg túi nilông/tháng. Tại các đô thị của Việt Nam, tổng khối lượng các túi nhựa sử dụng là
10,48-52,4 tấn/ngày; chỉ khoảng 17% số túi này được tái sử dụng.
Số lượng bao bì nhựa và túi ni-lơng sử dụng ngày càng gia tăng trở thành
gánh nặng cho môi trường, đe doạ nghiêm trọng đến mơi trường đất, nước, khơng
khí và đại dương, thậm chí dẫn tới thảm họa ơ nhiễm trắng.


9

2.4.2. Thực trạng rác thải nhựa tại Việt Nam
Như trong phần phân tích về thực trạng rác thải nhựa trên thế giới ở trên,
chúng ta biết rằng Việt Nam hiện nằm trong 4 quốc gia có lượng phế phẩm nhựa
thải ra môi trường nhiều nhất thế giới.
Lượng rác thải nhựa gia tăng nhanh chóng, năm 2014 khoảng 1,8 triệu
tấn/năm, năm 2016 khoảng 2,0 triệu triệu/năm và hiện nay khoảng 3,27 triệu
tấn/năm được tạo ra tại Việt Nam. Lượng chất thải nhựa và túi ni-lông của cả nước
chiếm khoảng 10-12% chất thải rắn sinh hoạt. Riêng hai thành phố lớn là TP. Hà
Nội và TP. HCM, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và
nilon.

Xét riêng trong lĩnh vực y tế, quá trình khám, chữa bệnh và sinh hoạt hàng
ngày như các hoạt động sinh hoạt của nhân viên y tế, người bệnh và người nhà
người bệnh, người sử dụng dịch vụ y tế từ các hoạt động chun mơn như bao bì,
dụng cụ bao gói, chứa, đựng thuốc, hóa chất, trang thiết bị, vật tư, vật liệu, đồ dùng
trong y tế hoặc các hoạt động nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh thuốc, nguyên liệu
làm thuốc, hóa chất… cũng làm phát sinh rác thải nhựa ra ngoài môi trường. Theo
thống kê chưa đầy đủ của Bộ y tế, có khoảng 5% rác thải y tế là rác thải nhựa. Mỗi
ngày, có khoảng 22 tấn chất thải nhựa được thải ra từ các hoạt động y tế. Trong số
đó lẫn với rác thải nguy hại (thuốc, hóa chất …). Thu gom, tái chế và chôn lấp loại
rác thải nhựa này đều ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và ô nhiễm môi trường.
Cùng với sự tăng lên của rác thải nhựa từ trong nước, lượng phế liệu nhựa từ
các quốc gia trên thế giới đổ vào Việt Nam cũng đang ở mức đáng báo động. Chúng
ta có thể thấy rõ lượng phế liệu nhựa được nhập khẩu vào Việt Nam đang tăng dần
qua các năm qua biểu đồ bên dưới.


10

Biểu đồ 2.2 – Tình trạng phế liệu nhựa được nhập khẩu vào Việt Nam
Tình trạng này xảy ra là do nguyên liệu trong nước hiện nay vẫn không đủ
cung cấp cho ngành nhựa Việt Nam nên hằng năm các doanh nghiệp phải nhập khẩu
một số lượng lớn phế liệu nhựa để trộn với nhựa nguyên sinh nhằm giảm giá thành
sản phẩm. Tuy nhiên, quy định hiện hành về vấn đề nhập khẩu phế liệu nhựa vào
Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Theo văn bản luật, những loại phế liệu cho
phép nhập khẩu được quy định rất thuần chất. Nhưng trên thực tế khơng có loại phế
thải nhựa nào được phân ra chi tiết như vậy vì hầu hết đều bị nhiễm bẩn trong quá
trình sử dụng. Lợi dụng lỗ hổng này, một số nước đã tìm cách đưa một số lượng lớn
phế liệu nhựa kém chất lượng vào Việt Nam.
2.4.3. Thực trạng xử lý rác thải nhựa tại Việt Nam
Mặc dù hiện nay nhu cầu sử dụng sản phẩm nhựa của người dân còn cao

nhưng khả năng phân loại, thu hồi, tái chế và xử lý rác thải nhựa ở Việt Nam vẫn rất
hạn chế, chỉ khoảng 27% nhựa phế thải được tái chế đúng cách và hiệu quả. Một
phần là do lĩnh vực xử lý và tái chế nhựa ở Việt Nam chưa phát triển, nên đa số rác
thải được chôn lấp, đốt hoặc thải thẳng ra môi trường. Đơn cử ở thành phố Hồ Chí


11

Minh, trong 250.000 tấn rác thải nhựa thì có 48.000 tấn được đem đi chôn lấp, hơn
200.000 tấn được tái chế hoặc thải thẳng ra môi trường.
Việc phân loại, thu gom chất thải nhựa và túi ni-lơng có thể tái chế thường
mang tính chất tự phát ở quy mơ hộ gia đình, người thu gom rác và nhặt phế liệu tự
do; chất thải nhựa khơng có giá trị hoặc có giá trị tái chế thấp (ví dụ như hộp xốp
các loại, ống hút nhựa và đặc biệt là túi ni-lông mỏng) bị thải ra môi trường hoặc
đưa vào bãi rác, lị đốt. Rác thải nhựa được chơn lấp chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ chất thải
bao bì, túi ni-lơng trung bình tại bãi chơn lấp chất thải rắn sinh hoạt chiếm 6-8%.
Tại các bãi rác ở một số đô thị lớn (Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh và Bắc
Ninh), tỷ lệ rác thải nhựa dao động từ 12% đến 16%, đứng thứ 2 sau rác thải hữu
cơ. Chỉ riêng đối với chất thải nhựa và túi ni-lông từ hoạt động công nghiệp hầu hết
đều được các cơ sở sản xuất phân loại, thu hồi để quay vòng sản xuất hoặc được bán
cho các đơn vị khác để tái chế.
Qua việc phân tích thực trạng rác thải nhựa tại Việt Nam, chúng ta nhận ra
rằng nguy cơ gây ô nhiễm mơi trường do chất thải nhựa tại Việt Nam có xu hướng
gia tăng. Chất thải nhựa nếu khơng kiểm sốt tốt sẽ đe dọa cuộc sống của các loài
động thực vật thủy sinh, động vật biển, làm ô nhiễm môi trường, tác động lớn đến
phát triển kinh tế - xã hội như du lịch, giao thông vận tải, nông nghiệp... Vì vậy,
Việt Nam cần đưa ra các giải pháp hiệu quả để quản lý tốt hơn loại chất thải này.


12


CHƯƠNG 3: HẬU QUẢ PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TẠI VIỆT
NAM
3.1. Thời gian để rác thải nhựa có thể phân hủy
Với tình hình rác thải nhựa đáng lo ngại như vậy, việc quan tâm đến thời
gian phân hủy của nhựa là điều cần thiết để biết cách điều chỉnh việc sử dụng. Mỗi
sản phẩm làm từ nhựa sẽ có khoảng thời gian để phân hủy khác nhau bởi còn tùy
thuộc vào cấu trúc cũng như các loại nguyên liệu làm nên mỗi sản phẩm đó. Một số
sản phẩm làm từ nhựa phổ biến trong cuộc sống hàng ngày cùng thời gian phân hủy
được thể hiện qua bảng sau:
Sản phẩm nhựa từ nguyên liệu
dầu mỏ truyền thống
Túi nilon hay bao nhựa mỏng loại
thường
Túi nhựa dày và dai
Các loại chai nhựa
Các chai chất tẩy rửa

Thời gian
phân hủy
10 – 100
năm
500 – 1000
năm
450 – 1000
năm
500 – 1000
năm

Các sản phẩm thay

thế
Túi sinh học phân hủy
hoàn toàn
Túi sinh học phân hủy
hoàn toàn

Thời gian
phân hủy









6 – 12 tháng
6 – 12 tháng


13

100 – 500 Ống hút sinh học phân
6 – 12 tháng
hủy hồn tồn
năm
100 –
Thìa, dĩa sinh học phân
Thìa, dĩa làm từ nhựa

6 – 12 tháng
hủy hoàn toàn
500 năm
100 – 1500


Cốc sữa chua từ nhựa
năm
100 – 500
Bàn chải đánh răng


năm
50 – 500


Cốc/ly làm từ xốp
năm
Dây cước câu cá
600 năm –

100 – 500
Nắp chai nhựa


năm
Vòng nhựa cố định ở cổ chai
90 năm



250 – 500

Tã lót, băng vệ sinh
năm
Bảng 3.1 – Thời gian phân hủy của một số sản phẩm nhựa
Ống hút làm từ nhựa

Qua thông tin từ bảng trên, chúng ta biết được thời gian phân hủy của rác
thải nhựa thật sự là rất lâu, có thể lên đến hàng trăm hoặc hàng nghìn năm. Như vậy
có thể khẳng định rằng nhựa là loại rác thải để lại hậu quả lâu dài nhất, vì chúng rất
khó phân hủy nhưng lại dễ sản xuất. Loại rác thải này có tuổi thọ cao hơn chúng ta
rất nhiều, thậm chí gấp 10 lần chúng ta. Một ví dụ điển hình là chai nhựa đựng nước
bạn uống hằng ngày chẳng hạn, chúng có thể tồn tại lên đến 10 thế kỷ. Và khi
chúng bị phân rã khơng có nghĩa là đã bị loại trừ hồn tồn, chỉ là từ một mảnh lớn
bây giờ chúng tách thành những mảnh nhỏ xíu và tiếp tục phá hủy mơi trường từng
chút một. Những tác hại mà chúng mang lại, gây ra ảnh hưởng cho sức khỏe, môi
trường, nền kinh tế là rất nhiều và khó mà có thể đong đếm được.
3.2. Tác hại của rác thải nhựa đối với sinh vật biển
Kể từ khi được sản xuất thương mại đầu tiên vào những năm 1950, sản lượng
nhựa toàn cầu đã tăng theo cấp số nhân và đạt 359 triệu tấn vào năm 2018. Việc sản
xuất và tiêu thụ một lượng lớn các sản phẩm từ nhựa, cùng với công tác quản lý rác
thải chưa thật sự hiệu quả đã gây ra thực trạng ô nhiễm rác nhựa đáng báo động trên
các đại dương hiện nay.


14

Rác thải nhựa xâm nhập vào đại dương từ các nguồn trên biển và trên đất
liền. Ước tính 80% rác thải nhựa đổ ra đại dương có nguồn gốc từ đất liền và giả
định 20% cịn lại có nguồn gốc từ các hoạt động hàng hải như đánh bắt hải sản, giải

trí, du lịch trên biển và vận chuyển. Đáng chú ý, phải mất đến hàng trăm đến hàng
nghìn năm mới có thể phân hủy được nhựa và các thành phần vi nhựa.
Vi nhựa đã được tìm thấy trong nước mặt và trầm tích đáy ở các đại dương,
sơng, hồ, hồ chứa. Vi nhựa có thể là những hạt nhỏ được sử dụng trong các sản
phẩm chăm sóc cá nhân như sữa rửa mặt, kem đánh răng hoặc được dùng làm
nguyên liệu đầu vào trong ngành công nghiệp nhựa. Vi nhựa cũng có thể được tạo
thành từ sự chia nhỏ của các mảnh nhựa lớn hơn do chịu tác dụng của các tác nhân
phong hóa như bức xạ cực tím hay q trình mài mịn cơ học và các tác dụng sinh
học. Ngồi ra, vi nhựa cũng có thể là những sợi được tạo ra từ việc mặc và mài mịn
các loại vải sợi tổng hợp. Do đó, nước thải sinh hoạt và công nghiệp, đặc biệt là
nước thải chưa qua xử lý được xem là một nguồn thải vi nhựa ra mơi trường nước.
Qua đó có thể thấy rằng rác thải nhựa đã và đang tác động xấu đến các loại
sinh vật khác trên trái đất, trong đó ảnh hưởng nghiêm trọng nhất phải kể đến là các
loại sinh vật biển là điều không thể tránh khỏi. Bởi khi rác thải đổ ra đất, biển sẽ
phá hủy hoặc suy giảm đa dạng sinh học, chúng sẽ làm chết các loại sinh vật biển
nếu như chúng không may mắc hoặc ăn phải. Theo báo cáo của Chương trình Mơi
trường Liên hợp quốc (UNEP) ước tính đã có khoảng hơn 100 triệu động vật biển
đã chết bởi vì rác thải nhựa. Trong đó, hơn 260 lồi sinh vật biển đã bị vướng hoặc
ăn phải rác thải nhựa, trong đó có cả cá voi.


15

Hình 3.1 – Cá voi chết vì ăn phải nhựa
Ở Việt Nam có 112 cửa biển, đây chính là nguồn để rác trôi ra đại dương.
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu biển và hải đảo, rác thải nhựa chiếm khoảng từ
50% đến 80% lượng rác thải biển. Nhiều sinh vật nhầm tưởng rác thải là thức ăn
hoặc mắc kẹt giữa các ngư cụ dẫn đến việc sinh cảnh bị phá hủy. Theo thống kê của
Bộ Tài nguyên và Môi trường, ô nhiễm môi trường biển trong những năm gần đây
đã làm cho nhiều loài sinh vật biển giảm mạnh về số lượng, có lồi đã tuyệt chủng

cục bộ. Có đến 236 loài thủy sinh quý hiếm bị đe dọa ở cấp độ khác nhau, trong đó,
có hơn 70 lồi sinh vật biển đã bị liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam. Nguồn lợi hải sản
bị khai thác ngày càng cạn kiệt cả số lượng và chất lượng. Các nguồn cá dự trữ bị
suy giảm từ 4 triệu tấn vào năm 1990 xuống còn 3 triệu tấn như hiện nay. Kích
thước trung bình của cá và tính đa dạng lồi cũng giảm đáng kể. Điều đau lòng
trong các hệ quả của ô nhiễm, phải kể đến sự biến mất của quần thể các loại rùa
trong nước. Việt Nam có năm trong số bảy lồi rùa của thế giới. Đó là vích, đồi mồi,
quản đồng, rùa da, đồi mồi dứa, hiện cả 5 loài đều được đưa vào Sách đỏ Việt Nam.
Nhiều loài đã gần như tuyệt chủng. Trước đây rùa biển được phân bố hầu hết trên


16

các vùng biển của nước ta với mật độ cao. Hiện nay cả năm loài rùa biển của Việt
Nam đều suy giảm đáng kể về số lượng. Trong suốt thời gian từ năm 2008 đến
2013, chỉ ghi nhận được một cá thể rùa da lên đẻ trên bãi Cát Dài tại huyện Cam
Lâm (tỉnh Khánh Hòa) và Hải Lăng (Quảng Trị) vào năm 2013. Tại các địa phương
khác đã từng có rùa da lên đẻ như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú n… hồn tồn
khơng cịn dấu vết của rùa da lên bờ làm tổ đẻ trứng.

Hình 3.2 – Rùa bị mắc kẹt trong lưới nhựa và bao ni-lơng
Sự có mặt của một lượng lớn vi nhựa trong các hệ sinh thái thủy sinh có tác
động tiêu cực đến sức khỏe sinh vật thủy sinh. Động vật phù du hoặc động vật ở các
bậc dinh dưỡng thấp có thể ăn vi nhựa do kích thước của các hạt vi nhựa nhỏ, sẽ để
lại những hậu quả chưa xác định được đối với sức khỏe của sinh vật. Ví dụ, việc ăn
phải các hạt polystyrene (~ 100 nm) của nhóm sinh vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ
tăng
lên đáng kể khi chúng được tìm thấy ở các vùng có keo tụ vi nhựa trong nước biển
tự nhiên. Sự hình thành các mảng keo tụ là một quá trình quan trọng để truyền năng
lượng giữa môi trường sống của sinh vật nổi và sinh vật đáy, khi chúng chìm trên

các lớp trầm tích. Các sinh vật sống trong trầm tích, ví dụ như giun đũa, có khả
năng xáo trộn sinh học. Do đó, vi nhựa đã lắng đọng trong lớp trầm tích đáy có thể
bị xáo trộn trong các lớp trầm tích, từ đó chúng có thể tiêu thụ bởi hệ động vật.
Các lồi động vật thủy sinh như tôm, cá, nghêu, vẹm, và hàu có thể lầm
tưởng vi nhựa với thức ăn của chúng và vơ tình ăn phải. Trên thực tế, vi nhựa đã


×