Tải bản đầy đủ (.docx) (109 trang)

Tác động của việc tuân thủ chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS đến chỉ tiêu lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng thương mại tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (586.94 KB, 109 trang )

TT

^2

Họ và
tên

Khoa

ĐH
năm
thứ
3

Mã số SV

Lớp

Điện thoại

Email

Nguyễn
Thị Lý

21A4020352

Lại Thu
Hằng

20A4010865



K21KTD Ke toán 098275341 Ly.src.h
NGÂN
HÀNG
NHÀ
NƯỚC
NA
Kiểm
7 VIỆT NAM
vnh@g
tốn
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG mail.co
m_______
K20TCM Tài chính “4
094382724 Hanglt3
5
18@gm
ail.com

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI THAM DỰ CUỘC THI “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
CẤP HỌC VIỆN NĂM 2020 - 2021

TÊN CƠNG TRÌNH: NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TN THỦ
CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐẾN CHỈ TIÊU LỢI NHUẬN VÀ RỦI
RO CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

LĨNH

VỰC


NGHIÊN

CHUYÊN NGÀNH: Kế toán - Kiểm toán

CỨU:

Kinh

tế


GVHD: PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh, Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa
học ngân hàng

HÀ NỘI - 2021


1
LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
chúng tơi. Các số liệu trong nghiên cứu là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Các
kết quả của nghiên cứu chưa từng được cơng bố trong bất cứ cơng trình khoa học
nào. Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ.
Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2021
Người cam đoan

Nhóm nghiên cứu



11
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT...................................................................................vi
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của nghiên cứu..............................................................................1
2. Tổng quan nghiên cứu.........................................................................................2
3. Tính mới của nghiên cứu.....................................................................................8
4. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................................9
5. Câu hỏi nghiên cứu............................................................................................10
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................................10
7. Phương pháp nghiên cứu................................................................................... 10
7.1. Cách tiếp cận............................................................................................. 10
7.2. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................10
8. Cấu trúc bài nghiên cứu.....................................................................................11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUẨN MỰC IFRS ĐẾN
CHỈ TIÊU LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÁC NHTM.....................................12
1.1. Tổng quan về chuẩn mực IFRS.......................................................................12
1.1.1. Lịch sử quá trình hội tụ kế toán quốc tế...................................................12
1.1.2. Tại sao chuẩn mực kế tốn của các quốc gia có sự khác biệt...................13
1.1.3. Sự cần thiết của chuẩn mực kế toán quốc tế............................................. 14
1.1.4. Hệ thống chuẩn mực kế tốnquốc tế/báocáo tàichính quốc tế...............17
1.2. Tổng quan về tác động của IFRSđến lợinhuận và rủi rocủa NHTM...............20
1.2.1. Tác động đến lợi nhuận............................................................................ 20
1.2.2. Tác động đến rủi ro.................................................................................. 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 1..........................................................................................27
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN TẠI VIỆT NAM......................28
2.1. Lịch sử hệ thống tài chính kế tốn Việt Nam..................................................28
2.1.1. Trước những năm 1995........................................................................... 28
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2000: sự tiếp cận kế toán quốc tế.........28

2.1.3. Giai đoạn từ năm 2001 đến nay: Sự ra đời và phát triển của hệ thống
chuẩn
mực kế toán VN................................................................................................. 29
2.2. Sự khác biệt giữa VAS với IFRS/IAS.............................................................32
2.2.1. Chuẩn mực kế toán Hàng tồn kho (VAS 02 và IAS 2)..........................32
2.2.2. Chuẩn mực kế toán Tài sản cố định hữu hình (VAS 03 và IAS 16).......32
2.2.3. Chuẩn mực kế tốn Tài sản cố định vơ hình (IAS 38 và VAS 04).........33


iii
2.2.4. Chuẩn mựckế toán về bất động sản đầu tư (IAS 40 và VAS 05)............34
2.2.5. Chuẩn mựcvề trình bày Báo cáo tài chính (VAS 21 và IAS 1)...............34
2.2.6. Chuẩn mựcvề Hợp nhất kinh doanh (VAS 11 và IFRS 3)......................35
2.2.7. Chuẩn mựcvề Báo cáo tài chính hợp nhất và kế tốn khoản đầu tư vào
công ty con (VAS 25 và IFRS 10)...........’.......................................................... 35
2.3. Thực trạng áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế của các NHTM......................36
2.3.1. Thực trạng áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế của các NHTM và so sánh
sự khác biệt giữa báo cáo tài chính được lập theo VAS và IFRS......................... 36
2.3.2. Nhận xét chung về việc tuân thủ IFRS của các ngân hàng......................41
TÓM TẮT CHƯƠNG 2..........................................................................................43
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.....................................................44
3.1. Quy trình nghiên cứu......................................................................................44
3.2. Mơ hình đánh giá tác động của IFRS đến lợinhuận của NHTM.....................44
3.2.1. Tổng quan về mơ hình nghiên cứu.......................................................... 44
3.2.2. Lựa chọn mơ hình nghiên cứu................................................................. 46
3.2.3. Mơ tả biến số và dữ liệu nghiên cứu........................................................ 46
3.3. Mơ hình tác động của IFRS đến chỉ tiêu rủiro................................................48
3.3.1. Tổng quan về mơ hình nghiên cứu.......................................................... 48
3.3.2. Lựa chọn mơ hình nghiên cứu................................................................. 50
3.3.3. Mơ tả biến số và dữ liệu nghiên cứu........................................................50

TÓM TẮT CHƯƠNG 3..........................................................................................52
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................53
4.1. Tác động của việc tuân thủ chuẩn mực IFRS đến chỉ tiêu lợi nhuận của các
NHTM Việt Nam.......................................................................’........’..................53
4.2. Tác động của việc tuân thủ chuẩn mực IFRS đến rủi ro của các NHTM Việt
Nam......................................................................................................................... 59
TÓM TẮT CHƯƠNG 4..........................................................................................66
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN -KHUYẾN NGHỊ.......................................................67
5.1. Khuyến nghị đề xuất.......................................................................................67
5.2. Đóng góp về mặt khoa học.............................................................................70
5.3. Đóng góp về mặt thực tiễn..............................................................................70
5.4. Đề nghị hướng nghiêncứu tiếp theo................................................................71
KẾT LUẬN.............................................................................................................72
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................74
PHỤ LỤC................................................................................................................ 85


iv
PHỤ LỤC 1: Danh sách các NHTM trong mẫu nghiên cứu....................................85
PHỤ LỤC 2: Ket quả hồi quy và kiểm định liên quan của mơ hình tác động của
IFRS đến chỉ tiêu lợi nhuận các NHTM..................................................................86
PHỤ LỤC 3: Kết quả hồi quy và các kiểm định liên quan mơ hình tác động của
IFRS đến rủi ro của các NHTM..............................................................................90


vi
v
DANH
DANHMỤC
MỤCTỪ

CÁC
VIẾT
BẢNG
TẮT
Bảng 1.1: Danh sách các Chuẩn mực Ke toán quốc tế (IAS).................................18
Bảng 1.2: Danh sách các Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế(IFRS)................19
Bảng 2.1: Hệ thống 26 chuẩn mực kế tốn Việt Nam............................................30
Bảng 2.3: So sánh mơ hình tổn thất dự kiến ECL và mơ hình trích lập dự phòng rủi
ro VAS..................................................................................................................... 40
Bảng 2.4: So sánh sự khác biệt về chỉ tiêu thu nhập/ chi phí giữa IFRS và VAS.... 41
Bảng 3.1: Thống kê các biến số trong mô hình.....................................................47
Bảng 3.2: Thống kê các biến trong mơ hình đánh giá rủi ro..................................51
Bảng 4.1: Tác động của việc tuân thủ chuẩn mực BCTC quốc tếIFRS..................55
Bảng 4.2: Tác động của tuân thủ IFRS đến rủi ro của các NHTM........................60
Từ viết tắt

Nguyên nghĩa

BCĐKT

Bảng cân đối kế toán

BCKQKD

Báo cáo kết quả kinh doanh

BCLCTT

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ


BCTC

Báo cáo tài chính

BTC

Bộ Tài chính

IASB

Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế

IFRS

Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế

IOSCO

Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khốn

NHTM

Ngân hàng thương mại

VAS

Chuẩn mực Báo cáo tài chính Việt Nam




1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của nghiên cứu
Trước bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế Thế
giới, sự chuyển mình của ngành ngân hàng - một trong những ngành cốt lõi của nền
kinh tế đang nhận được nhiều sự quan tâm từ phía Chính phủ, các cơ quan chức
năng và các thành phần kinh tế khác. Đặc biệt, sự thay đổi từ trong chính các quy
định pháp lý để phù hợp với sự tồn cầu hóa đang đặt ra nhiều mối lo ngại lớn cho
các ngân hàng thương mại hiện nay. Theo đó, sự ra đời của Chuẩn mực Báo cáo tài
chính quốc tế (IFRS) là một trong những bước tiến quan trọng tạo ra thống nhất các
chuẩn mực cho hệ thống ngân hàng nói riêng và các doanh nghiệp nói chung.
Hiện nay, IFRS đang ngày càng trở nên phổ biến và có những lộ trình cũng
như cách thức áp dụng riêng tại mỗi quốc gia. Theo báo cáo của IASB năm 2018,
có tới 87% khu vực pháp lý yêu cầu sử dụng Tiêu chuẩn IFRS cho hầu hết các công
ty trong nước. Trong đó, có 144 khu vực pháp lý yêu cầu bắt buộc cho tất cả hoặc
hầu hết các công ty, 12 quốc gia cho phép tất cả hoặc hầu hết các cơng ty sử dụng, 9
khu vực pháp lý có tiêu chuẩn quốc gia riêng hoặc đang chuyển sang Tiêu chuẩn
IFRS. Tại Việt Nam, Quyết định 345/QĐ-BTC phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực
BCTC quốc tế ở Việt Nam và đề án đã đề cập giao việc nghiên cứu và triển khai lộ
trình áp dụng IFRS trong hệ thống tổ chức tín dụng cho Ngân hàng nhà nước. Thủ
tướng chính phủ phê duyệt quyết định 480/QĐ-TTg năm 2013 Chiến lược kế tốn kiểm tốn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, quyết định 986/QĐ-TTg năm
2018 Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng
đến năm 2030, trong đó chỉ rõ “giai đoạn 2021 - 2025: Nâng cao hơn nữa năng lực
cạnh tranh, tăng sự minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế tốt trong
quản trị và trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Như vậy, các cấp có thẩm
quyền cấp cao đều đã đưa ra định hướng hồn thiện hệ thống kế tốn, bao gồm cả
kế tốn TCTD phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế.
Mặt khác, IFRS được coi là chiếc chìa khóa vàng giúp phát triển thị trường
tài chính cụ thể là thị trường chứng khốn thơng qua việc nâng cao tính minh bạch
của thơng tin cũng như tính nhất qn giữa số liệu báo cáo và việc ghi nhận chúng.

Vì thơng qua đó, các nhà đầu tư, những đối tượng sử dụng báo cáo tài chính được
bảo vệ bởi hệ thống thơng tin chính xác - tin cậy, đồng thời các tiêu chuẩn được đưa
ra có ý nghĩa đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh, ra quyết định của nhà
đầu tư, phát triển nền kinh tế bền vững và thu hút nguồn vốn trong và nước. Hơn
nữa, trong thời kỳ hội nhập tồn cầu thì các ngân hàng thương mại, các tập đoàn đa
quốc gia, các doanh nghiệp mở rộng thương mại quốc tế khiến cho việc có tiêu


2
chuẩn chung trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính là điều quan trọng hơn
bao giờ hết. Xét trên khía cạnh các ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh liên quan nhiều nhất đến hai lĩnh vực tài chính và tiền tệ,
đồng thời Việt Nam là quốc gia có hệ thống tài chính phụ thuộc vào ngân hàng do
đó càng đặt ra nhiều vấn đề hơn về tài sản và kết quả kinh doanh của các ngân hàng.
Theo đó, việc áp dụng IFRS giúp cho các ngân hàng có sự minh bạch tài chính,
nâng cao chất lượng ổn định hơn cho hệ thống tài chính quốc gia. Mặt khác, áp
dụng IFRS cũng tạo điều kiện cho bản thân các ngân hàng nâng cao xếp hạng tín
nhiệm, đáp ứng đủ điều kiện để tham gia các dự án tài chính quốc tế lớn... Việc áp
dụng chuẩn mực IFRS sẽ giúp tăng tính cạnh tranh của ngân hàng nội địa so vOi
ngân hàng nước ngoài trên thị trường ở cả trong và ngoài nước, đồng thời thực tế
các ngân hàng áp dụng IFRS có những điều chỉnh chặt chẽ về lợi nhuận, quản trị rủi
ro và hệ thống thơng tin. Chính vì lẽ đó, nhóm chọn đề tài: “Tác động của việc
tuân thủ chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS đến chỉ tiêu lợi nhuận và rủi ro của
các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” cho đề tài nghiên cứu khoa học dành
cho sinh viên.
2. Tổng quan nghiên cứu
Trong nền kinh tế thế giOi, việc áp dụng chuẩn mực BCTC chung đang ngày
càng phổ biến và dần được triển khai rộng rãi khắp các quốc gia. Chính vì vậy,
nhiều cơng trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã hướng đến việc nghiên cứu các
tác động của việc áp dụng chuẩn mực IFRS đến kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Cụ thể, nghiên cứu của Tai-Yuan Chen và các cộng sự (2013) xem xét việc

áp dụng bắt buộc các chuẩn mực IFRS đối với các điều khoản trong hợp đồng vay
ngân hàng. Dựa trên mẫu gồm hơn 20.000 khoản cấp tín dụng, đến từ 23 quốc gia
bắt buộc áp dụng IFRS và 16 quốc gia không bắt buộc áp dụng IFRS trong giai
đoạn 2000-2009. Kết quả cho thấy, đối với các quốc gia áp dụng IFRS, người vay
phải trả mức lãi suất cao hơn, tăng các khoản vay thế chấp, giảm khoản vay trên
bảng cân đối kế toán và giảm thời gian đáo hạn. Hơn nữa, những phát hiện này cho
thấy quy định của IFRS có tác động khơng đồng đều đến chất lượng kế toán, và các
ngân hàng phải thay đổi các điều khoản hợp đồng cho vay để đáp ứng với những
thay đổi này.
Herve và J.Clavier (2017) nghiên cứu về việc áp dụng bắt buộc chuẩn mực
IFRS đối với hoạt động cấp tín dụng tại các ngân hàng ở Châu Âu trong giai đoạn
2003-2008. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của việc áp dụng cịn phụ thuộc vào mức
độ ràng buộc, quy mơ của ngân hàng và các quy định hiện hành. Đồng thời, nhóm
tác giả cũng chỉ ra rằng việc áp dụng tự nguyện hay bắt buộc IFRS đều dẫn tới sự


3
đẩy mạnh tăng cấp tín dụng đối với các ngân hàng nhỏ và khơng có tác động mạnh
đối với các ngân hàng lớn, có thanh khoản cao. Tác giả cũng nhận định kết quả cho
ra phù hợp và mang tới quyết định quan trọng trong tình trạng khan hiếm tín dụng ở
Châu Âu kể từ cuộc khủng hoảng tài chính.
Nghiên cứu của KJermakowicz và D. Hayes (2011) lại phân tích ảnh hưởng
của việc lần đầu tiên áp dụng IFRS 1 tại Deutsche Bank - trung tâm của cuộc khủng
hoảng tài chính tồn cầu. Đồng thời, nhóm tác giả kiểm tra về tính minh bạch khi
chuyển đổi từ US GAAP sang IFRS của Deutsche Bank về các điều khoản chủ yếu
liên quan đến chính sách hợp nhất và các cơng cụ tài chính.
Duru và A.Tsitinidis (2013) đưa ra cái nhìn tổng quan giữa IFRS và GAAP
để kiểm tra việc quản lý thu nhập cũng như ổn định lợi nhuận thông qua biến số dự
phòng rủi ro cho vay (LLP). Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ 20 NHTM lớn ở các
nước Bắc Âu (Đan Mạch, Phần Lan, Na Uy và Thụy Điển) giai đoạn 2004-2012 và

16 ngân hàng trong những năm 1996-2003 theo từng quốc gia. Kết quả cho thấy
một số mức thu nhập bị điều chỉnh khác nhau thông qua biến số LLP dựa theo
GAAPs quốc gia và IFRS.
Ahmad Abbas (2018) sử dụng mơ hình nghiên cứu định lượng để điều tra
việc quản lý thu nhập thông qua các khoản tích lũy trong giai đoạn trước và sau khi
áp dụng IFRS và phân tích tác động của nó đối với giá trị doanh nghiệp trong ngành
ngân hàng. Dựa trên mẫu gồm 23 ngân hàng được niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán Indonesia trong giai đoạn 2007-2014. Kết quả cho thấy việc quản lý thu nhập
khơng có sự khác biệt trong giai đoạn trước và sau khi hội tụ IFRS song lại có tác
động đáng kể đến giá trị ngân hàng.
Nghiên cứu của Oosterbosch (2009) cũng tập trung đánh giá ảnh hưởng của
việc áp dụng IFRS đối với việc quản lý thu nhập của các ngân hàng. Tác giả sử
dụng mẫu nghiên cứu bao gồm các ngân hàng châu Âu được niêm yết và chưa niêm
yết, sau đó hồi quy mơ hình theo biến LLP và các biến kiểm tra để điều chỉnh thu
nhập. Với hai mục tiêu chính là kiểm tra xem mức độ quản lý thu nhập của các ngân
hàng thơng qua trích lập dự phịng rủi ro tín dụng có giảm đi kể từ khi áp dụng
IFRS không và liệu việc công bố các khoản lỗ từ hoạt động cho vay có tác động tiêu
cực đến các hoạt động làm giảm thu nhập của các ngân hàng hay không. Kết quả
nghiên cứu cho thấy mức độ quản lý thu nhập giảm đi kể từ khi áp dụng IFRS, tuy
nhiên các yêu cầu công bố chi tiết liên quan đến kế tốn tổn thất cho vay khơng ảnh
hưởng tới quyết định sử dụng LLP để cải thiện thu nhập.
Xi Li và Holly I. Yang (2016) xem xét ảnh hưởng của việc áp dụng bắt buộc
các Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) đối với việc cơng bố thông tin.


4
Bằng phương pháp phân tích sự chêch lệch, nhóm tác giả ghi nhận sự gia tăng đáng
kể về khả năng và tần suất dự báo thu nhập của nhà quản trị sau khi bắt buộc áp
dụng IFRS, kết quả đưa ra phù hợp với quan điểm rằng việc áp dụng IFRS làm
khuyến khích sự cơng bố thơng tin của các công ty để đáp ứng nhu cầu làm tăng

huy động vốn. Thêm vào đó, sự gia tăng mạnh mẽ hơn tại các quốc gia có luật lệ,
điều này cho thấy hiệu ứng bắt kịp giữa các công ty khi mà các khuyến khích cơng
bố thơng tin vẫn cịn thấp.
Nadia Sbei và Mohamed (2014) dựa trên mơ hình hồn vốn của Easton và
Harris (1991) và mơ hình giá của Feltham và Ohlson (1995) để phân tích thực
nghiệm tại một số ngân hàng trong giai đoạn 2008-2013. Kết quả cho thấy khi áp
dụng IFRS tạo ra tác động tích cực với giá trị thị trường, đồng thời có tác động tích
cực đến giá cổ phiếu và lợi nhuận.
Bischof (2009) xem xét tác động của việc áp dụng IFRS 7 đối với thực tiễn
công bố thông tin tại các ngân hàng khu vực Châu Âu gồm 171 ngân hàng từ 28
quốc gia khác nhau. Nghiên cứu đánh giá dựa trên tiêu chuẩn rủi ro bao gồm: rủi ro
tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro thị trường, đồng thời cho thấy việc áp dụng
IFRS 7 làm tăng cả số lượng và chất lượng cơng bố thơng tin. Thêm vào đó, dù có
sự tác động khác nhau giữa các quốc gia song sự can thiệp của giám sát ngân hàng
và các quy định về kế tốn tài chính có thể có tác động tích cực đến việc thực thi
IFRS.
Nghiên cứu của Jamaldeen (2020) đưa ra cái nhìn tổng quan về việc áp dụng
chuẩn mực báo cáo tài chính của các ngân hàng Hồi giáo. Trước sự phổ biến của
IFRS thì một số ngân hàng Hồi giáo đã điều chỉnh chuẩn mực BCTC riêng theo
IFRS và các nhà quản trị ngân hàng thấy rằng điều này mang lại sự hiệu quả về đầu
tư, tính minh bạch, tính thanh khoản, lợi nhuận và tỷ lệ địn bẩy. Mặc dù các ngân
hàng Hồi giáo khơng thể hoàn toàn áp dụng toàn bộ chuẩn mực quốc tế, song với
những ảnh hưởng tích cực đến BCTC thì nhóm tác giả đặt ra mong muốn nghiên
cứu sâu hơn và có sự trao đổi với nhiều chuyên gia quốc tế để điều chỉnh cho phù
hợp.
Ozili và Outa (2018) kiểm tra các yếu tố quyết định việc sử dụng các khoản
dự phòng rủi ro cho vay (LLP) nhằm làm ổn định thu nhập của các ngân hàng ở
Nam Phi. Cụ thể hơn, các tác giả kiểm tra ảnh hưởng của quy định về quyền sở hữu,
quy tắc công bố thông tin theo IFRS và biến động kinh tế đối với hành vi làm giảm
thu nhập của các ngân hàng. Song song đó, nhóm tác giả kiểm sốt các yếu tố quyết

định thu nhập ngân hàng thông qua LLP. Kết quả, các tác giả nhận thấy rằng các
ngân hàng Nam Phi không sử dụng LLP để điều chỉnh thu nhập khi họ:vốn hóa


5
thấp, có các khoản nợ khó địi lớn và quy mơ ở mức trung bình. Mặt khác, thu nhập
ổn định rõ rệt đối với các ngân hàng có áp dụng IFRS trong thời kỳ kinh tế phát
triển, đồng thời nhóm các ngân hàng này cũng được vốn hóa tốt và đánh giá cao
hơn.
Sari và Muni (2017) phân tích tác động của nguồn vốn được đảm bảo bởi
bên thứ ba, mức độ an toàn vốn, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi và khả năng sinh lời của
ngân hàng sau khi áp dụng IFRS. Các mẫu được sử dụng là 22 NHTM được niêm
yết trên sàn Chứng khoán Indonesia, trong giai đoạn từ 2012 đến 2013. Kết quả
nghiên cứu chỉ ra rằng: thứ nhất, các biến của quỹ bên thứ ba (TPF), tỷ lệ an toàn
vốn (CAR) và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) đồng thời có ảnh hưởng đến lợi
nhuận trên tài sản (ROA); thứ hai, biến TPF có ảnh hưởng tích cực nhưng khơng
đáng kể đến ROA; thứ ba, biến CAR có tác động tích cực và đáng kể đến ROA; và
cuối cùng, biến LDR có kết quả dương nhưng khơng có ảnh hưởng đáng kể đến
ROA trong các NHTM làm mẫu.
U.Uwuigbe và các cộng sự (2016) xem xét liệu việc áp dụng bắt buộc IFRS
có liên quan đến việc cải thiện chất lượng kế toán của các ngân hàng niêm yết trên
Sở giao dịch chứng khoán Nigeria (NSE). Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp trong
giai đoạn từ năm 2010-2013. Kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi áp dụng IFRS, tỷ
lệ các ngân hàng Nigeria tham gia vào việc quản lý thu nhập chặt chẽ tăng, trong
khi quản lý thu nhập theo hướng ghi nhận gia tăng thu nhập giảm, do đó làm tăng
chất lượng của số liệu kế tốn được trình bày trong báo cáo tài chính. Những phát
hiện này ảnh hưởng đến hiệu quả của thị trường chứng khốn. Do đó, nhóm tác giả
đề xuất các cơ quan khác như SEC và BOFIA nên đưa ra các biện pháp hạn chế
mức độ ngân hàng, các nhà quản lý sử dụng quyền quyết định và các lựa chọn thay
thế của họ trong các chuẩn mực kế toán để quản lý thu nhập.

Panagiotis Ballas và các cộng sự (2019) điều tra việc thực hiện các Chuẩn
mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) kèm theo các thơng lệ Quản trị Cơng ty có
ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng của báo cáo tài chính và thơng tin được cung
cấp trong cơng bố báo cáo của các ngân hàng Hy Lạp trong giai đoạn từ 2008 đến
2011. Bài nghiên cứu tập trung vào Các tổ chức tài chính Hy Lạp trong thời kỳ
bùng nổ cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu và sự khởi đầu của khủng hoảng nợ
chính phủ Hy Lạp. Phân tích dữ liệu, nhóm tác giả cho thấy sự đóng góp tích cực
của hoạt động kiểm tốn độc lập đối với xu hướng đưa thơng tin có giá trị vào các
báo cáo. Ngồi ra, tác động tích cực từ chun mơn của ủy ban kiểm toán với chất
lượng của các báo cáo được tạo ra và số lượng trình bày chi tiết trong báo cáo cũng
được tác giả đánh giá cao.


6
Mahmoud Fatouh và các cộng sự (2015) sử dụng một phiên bản sửa đổi của
CAPM để ước tính tác động của việc tăng mức vốn tiềm năng thông qua tăng chi
phí tài trợ của các ngân hàng ở sáu nước châu Âu bao gồm: Anh, Đức, Pháp, Ý, Tây
Ban Nha và Thụy sĩ. Tác giả nhận định sự tồn tại của rủi ro bất thường ở mức thấp
đối với vốn chủ sở hữu của các ngân hàng ở sáu quốc gia trên, ngoại trừ Pháp. Các
mức độ bất thường khác nhau giữa các quốc gia, nhưng nhìn chung là thấp so với
chi phí dài hạn của vốn chủ sở hữu cho ngân hàng. Ket quả cho thấy rằng việc triển
khai IFRS 9 có thể làm tăng nhẹ chi phí cấp vốn cho các ngân hàng thuộc các quốc
gia kể trên.
WU Yongli (2018) lấy ngân hàng Nam Kinh làm mẫu nghiên cứu, bài báo
nhằm đưa ra tác động của các công cụ tài chính đối với NHTM từ hai khía cạnh là
phân loại tài sản và tài sản suy giảm. Từ đó đưa ra hai ket luận chính, thứ nhất về
phân loại tài sản: tác động của phân loại tài sản thành các cơng cụ tài chính mới của
Ngân hàng Nam Kinh chủ yếu tập trung vào việc thay đổi tên tài khoản, cũng như
tác động đến phương pháp kế toán tài sản và báo cáo lợi nhuận. Thứ hai, về suy
giảm tài sản: mơ hình tổn thất tín dụng dự kiến được đề xuất bởi tiêu chuẩn kế tốn

cơng cụ tài chính mới làm tăng phạm vi và mức độ kiểm tra độ suy giảm tài sản.
Arif Makhsun và các cộng sự (2018) xác định mục tiêu của nghiên cứu là để
điều tra xem liệu thu nhập có tăng lên sau khi áp dụng IFRS hay không. Mẫu nghiên
cứu bao gồm các ngân hàng Indonesia đã áp dụng IFRS vào năm 2011 và 2012, cắt
bỏ mẫu vào năm 2010 và sử dụng hai năm trước IFRS là 2008 và 2009 để làm cơ
sở. Phân tích hồi quy cho thấy có sự ổn định về thu nhập sau khi áp dụng IFRS và
chất lượng thu nhập sau khi thực hiện Chuẩn mực Kế tốn Tài chính Indonesia
(PSAK, nghĩa là IFRS) cao hơn so với trước đó. Song, kết quả này trái ngược với
Doukakis (2010) khi kiểm tra tính ổn định của thu nhập trước và sau khi thực hiện
IFRS ở Hy Lạp. Sự khác biệt về kết quả có lẽ là do sự khác biệt của các quy tắc áp
dụng ở Hy Lạp cũng như sự khác biệt về loại hình công ty được lấy mẫu nghiên
cứu.
A.Adzis (2012) khám phá tác động của việc áp dụng IAS 39 theo cách ghi
nhận mới ứng chiếu theo Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) đến thu
nhập ngân hàng. Đồng thời xem xét hành vi theo chu kỳ của ngân hàng thông qua
các khoản dự phòng rủi ro cho vay và biến động thu nhập của ngân hàng. Bằng cách
xem xét một số mẫu ngân hàng thương mại từ sáu quốc gia trong khu vực Châu Á
Thái Bình Dương trong giai đoạn 1995 đến 2009, các phát hiện chứng minh rằng
việc áp dụng IFRS dẫn đến giảm thu nhập làm trơn tru các hoạt động thơng qua dự
phịng rủi ro cho vay đối với những mẫu áp dụng IFRS. Lý giải cho kết quả này, tác


7
giả cho rằng việc áp dụng IFRS sẽ gây ra hành vi cho vay theo chu kỳ nhiều hơn dự
phòng tổn thất, song khơng thể tìm thấy đủ bằng chứng để ủng hộ đề xuất rằng IAS
39 khuếch đại tính chu kỳ của tổn thất cho vay. Đối với đề xuất rằng IFRS có thể
gây ra nhiều sự biến động của thu nhập đối với những tổ chức chấp nhận, tác giả đã
tìm thấy bằng chứng về thu nhập biến động lớn hơn sau khi áp dụng IFRS.
Nghiên cứu của Agostino và cộng sự (2010) nhằm đánh giá mức độ liên
quan của thơng tin kế tốn với giá cổ phiếu của 221 ngân hàng niêm yết ở Châu Âu

trong giai đoạn 2000-2006. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng bắt buộc
IFRS làm tăng thu nhập các cổ phiếu, trong khi giá trị sổ sách có xu hướng giảm.
Tuy nhiên tác động của IFRS đến giá trị sổ sách là không đáng kể và việc áp dụng
IFRS yêu cầu minh bạch hơn các quy định địa phương ở Châu Âu.
Amidu và Haruna (2019) phân tích các tác động của tồn cầu hóa và việc áp
dụng các chuẩn mực (IFRS) đến chất lượng thơng tin kế tốn của 329 ngân hàng
thuộc 29 quốc gia trước và sau khi áp dụng IFRS giai đoạn 2002 -2009. Nghiên cứu
đã chỉ ra rằng quy mơ của ngân hàng và mức vốn hóa của các ngân hàng khơng phải
là ngun nhân chính thúc đẩy ngân hàng sử dụng IFRS mà do sự toàn cầu hóa
mạnh mẽ tại các quốc gia. Bên cạnh đó, tác giả nhấn mạnh báo cáo tài chính trên cơ
sở IFRS giúp nâng cao chất lượng các khoản thu nhập của ngân hàng do các quy tắc
của IFRS hạn chế việc sử dụng nguồn vốn vay không hợp lý.
Nghiên cứu của Sang-Giun Yim (2020) xem xét ảnh hưởng từ việc bắt buộc
áp dụng IFRS ở các nước Châu Âu đến chi phí vốn chủ sở hữu của các ngân hàng.
Tác giả sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng các ngân hàng niêm yết ở Châu Âu
trong giai đoạn 1995 đến năm 2009. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí vốn chủ
sở hữu của các ngân hàng tăng lên sau khi áp dụng IFRS ở các ngân hàng chú trọng
hoạt động giám sát. Mặc dù việc thực thi pháp lý mạnh mẽ và các yêu cầu minh
bạch thông tin làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu của các ngân hàng, nhưng sự mâu
thuẫn của IFRS với các chuẩn mực kế toán quốc gia lại làm tăng nhiều hơn chi phí
vốn chủ sở hữu của các ngân hàng. Qua đó nghiên cứu hàm ý rằng cần xem xét kỹ
lưỡng trước khi thực hiện các chuẩn mực kế toán mới để tránh xung đột tiềm ẩn với
quy định cũ.
Alam (2020) thực hiện nghiên cứu định tính về việc áp dụng và thực hiện
IFRS của các ngân hàng truyền thống và cả ngân hàng Hồi Giáo tại Bangladesh.
Nghiên cứu kết luận rằng các kịch bản áp dụng IFRS mang lại nhiều lợi ích khác
nhau nhưng việc thực hiện đầy đủ IFRS của các ngân hàng Hồi giáo thực sự vi
phạm các nguyên tắc Shariah. Do đó, các sản phẩm và giao dịch Hồi giáo bắt buộc
phải có khn khổ kế toán riêng. Sự tồn tại của Tổ chức Kế toán và Kiểm toán cho



8
các Định chế Tài chính Hồi giáo (AAOIFI) vẫn phù hợp và cần thiết cho sự phát
triển của các tổ chức tài chính này. Tuy nhiên việc liên tục đối thoại và tham vấn
giữa Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) và Tổ chức Kế toán và Kiểm
toán cho các Định chế Tài chính Hồi giáo là cần thiết để hài hòa và giảm thiểu sự
khác biệt giữa hai khn khổ.
về phía các nghiên cứu trong nước, việc chuyển đổi sang áp dụng chuẩn
mực IFRS cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm điển hình như nghiên cứu của
Lê Trần Hạnh Phương (2019) cho rằng việc áp dụng chuẩn mực mới này là xu thế
tất yếu toàn cầu, theo đó, tác giả cho rằng các nhóm biến vĩ mơ như: Văn hóa, Giáo
dục, Tăng trưởng kinh tế và Chính trị và biến vi mơ như: Đầu tư nước ngồi, Chất
lượng kiểm tốn và Sự quản lý của người nước ngồi có những ảnh hưởng nhất
định đến q trình áp dụng chuẩn mực quốc tế ở phạm vi các quốc gia và tại doanh
nghiệp Việt. Cùng ý tưởng đó, Lê Việt (2020) khi dựa trên mẫu gồm 221 doanh
nghiệp Việt để đưa ra kết quả về các nhân tố gồm: Thái độ, Nhận thức về áp lực xã
hội, sự kiểm sốt, tính hữu ích có ảnh hưởng đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam.
Xét trên khía cạnh cụ thể về thể chế, Nguyễn Trà Giang (2017) sử dụng thang đo
Likert 5 điểm trên mẫu 158 bảng khảo sát chỉ ra 3 từ khố chính là: Cưỡng chế,
Quy phạm và Mơ phỏng có tác động rất lớn đến q trình hội tụ chuẩn mực IFRS.
Hay như nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hướng và cộng sự (2020) tập trung vào
so sánh sự khác biệt giữa VAS 14 và IFRS 15 để từ đó chỉ ra những thuận lợi và
khó khăn mà doanh nghiệp Việt có thể gặp phải khi áp dụng IFRS 15. Theo đó, các
nghiên cứu tại Việt Nam dù đã làm bật được sự cấp thiết của việc áp dụng IFRS,
song mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn
mực IFRS nói chung và chưa có những nghiên cứu đánh giá chuyên sâu về tác động
của việc áp dụng của chuẩn mực này đến mặt lợi nhuận và rủi ro của các doanh
nghiệp nói chung và hệ thống NHTM nói riêng. Do đó, bài nghiên cứu này là cần
thiết và thiết thực đặc biệt trong bối cảnh chuẩn mực IFRS đang được khuyến khích
áp dụng theo Đề án của BTC.

3. Tính mới của nghiên cứu
Cho đến hiện nay chưa có bất kỳ nghiên cứu trong nước nào cụ thể về tác
động của việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS đến kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Và cũng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về tác động
của IFRS đến riêng đối tượng các ngân hàng thương mại. Bởi vì theo VAS đã có sự
khác biệt hồn tồn giữa kế tốn ngân hàng và kế toán doanh nghiệp nên khi áp
dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cũng cần phải có sự nghiên cứu rõ ràng


9
cho đối tượng là hệ thống các NHTM. Do vậy, dựa trên những nội dung sơ bộ từ
các cơng trình nghiên cứu trước, đề tài này đã đưa ra một số đóng góp như sau:
Thứ nhất, bài nghiên cứu tập trung đi sâu vào đánh giá tác động của việc
tuân thủ IFRS đến chỉ tiêu lợi nhuận và rủi ro của các NHTM tại Việt Nam.
Thứ hai, thông qua các mơ hình như: phương pháp hồi quy FEM, phương
pháp hồi quy REM và phương pháp ước lượng ngẫu nhiên FGLS, mơ hình hồi quy
moment tổng qt S-GMM bài nghiên cứu tập trung vào đánh giá tác động của việc
tuân thủ chuẩn mực IFRS đến 2 biến số là (i) Lợi nhuận trên tổng tài sản và (ii) Dự
phòng rủi ro tín dụng.
Thứ ba, thơng qua kết quả định lượng bài nghiên cứu chứng minh có hay
khơng sự tồn tại của hành vi các NHTM quản trị lợi nhuận thông qua cơng cự dự
phịng rủi ro tín dụng.
Thứ tư, đưa ra các khuyến nghị phù hợp kết quả định lượng và định tính. Các
khuyến nghị nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề liên quan đến lợi nhuận và quản
trị rủi ro của hệ thống ngân hàng. Đồng thời đưa ra các gợi ý cho lộ trình áp dụng
IFRS trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của bài nghiên cứu là đánh giá tác động của việc áp dụng
chuẩn mực IFRS đến chỉ tiêu lợi nhuận và rủi ro của các NHTM tại Việt Nam, để từ
đó đề xuất những khuyến nghị phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam.

Nhiệm vụ cụ thể:
- Làm bật những vấn đề lý thuyết cơ bản về IFRS, đồng thời, nhấn mạnh
được tác động của việc tuân thủ chuẩn mực quốc tế đến lợi nhuận, rủi ro của
NHTM nói chung, cũng như hệ thống các ngân hàng thương mại tại Việt Nam nói
riêng.
- Nêu ra và đánh giá khái quát về thực trạng tuân thủ chuẩn mực IFRS của
các NHTM tại Việt Nam.
- Xây dựng một số mơ hình kinh tế lượng để phân tích, đánh giá tác động
của
IFRS đối với lợi nhuận và rủi ro của các NHTM.
- Kết hợp giữa lý thuyết và số liệu thực tiễn thu được, bài nghiên cứu trình
bày một số khuyến nghị, chính sách nhằm khắc phục những vấn đề còn hạn chế
trong việc thực hiện, áp dụng chuẩn mực IFRS đến lợi nhuận và rủi ro của NHTM.


10
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Thực trạng việc triển khai và áp dụng Chuẩn mực IFRS tại các
NHTM Việt Nam đang diễn ra như thế nào, việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài
chính quốc tế IFRS có gì khác biệt so với chế độ kế tốn Việt Nam VAS?
- Câu hỏi 2: Việc áp dụng IFRS có tác động thế nào đến chỉ tiêu lợi nhuận
của các NHTM Việt Nam?
- Câu hỏi 3: Việc áp dụng IFRS có tác động thế nào đến rủi ro của các
NHTM Việt Nam?
- Câu hỏi 4: Các NHTM Việt Nam có hành vi sử dụng cơng cụ Dự phịng rủi
ro để quản trị lợi nhuận hay không? Và hành vi này có giảm đi sau khi áp dụng
IFRS hay khơng?
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các chuẩn mực IFRS và
tác động của Chuẩn mực IFRS đến chỉ tiêu lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng.

- Phạm vi khơng gian: Đề tài tập trung phân tích đánh giá thực trạng tác
động
của Chuẩn mực IFRS đến lợi nhuận và rủi ro của NHTM Việt Nam giai đoạn trước
và sau áp dụng IFRS của 25 NHTM Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2007 - 2020
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Cách tiếp cận
Nhóm nghiên cứu đi từ cơ sở lý thuyết về chuẩn mực IFRS, đưa ra tác động
của việc áp dụng chuẩn mực IFRS đến lợi nhuận và rủi ro của NHTM, tiếp đó làm
rõ thực trạng tác động của chuẩn mực IFRS thơng qua mơ hình định lượng, từ đó
đưa ra khuyến nghị chính sách.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính:
+ Phân tích, đánh giá tình hình các nghiên cứu liên quan đến đề tài để xác định được các
biến số phù hợp cho mô hình đánh giá tác động IFRS đến lợi nhuận và rủi ro.
+ Đánh giá và suy luận logic để phân tích kết quả nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị
phù hợp.
Nghiên cứu định lượng:
+ Hồi quy dữ liệu bảng bằng các phương pháp: hồi quy hiệu ứng cố định (FEM), hồi quy
hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), ước lượng ngẫu nhiên (FGLS) và hồi quy tổng quát S-GMM
thông qua mẫu gồm 25 NHTM tại Việt Nam trong khoảng thời gian 2007 - 2020.


11
+ Các kiểm định và biện pháp khắc phục các khuyết tật được sử dụng để sử dụng cho mơ
hình hồi quy tốt nhất phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu.

8. Cấu trúc bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu thành 5 chương chính như sau:

- Chương 1: Tổng quan về tác động của việc áp dụng chuẩn mực IFRS đến
chỉ tiêu lợi nhuận và rủi ro của NHTM.
- Chương 2: Thực trạng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS

các NHTM tại Việt Nam
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Khuyến nghị chính sách


12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHUẨN Mực IFRS ĐẾN
CHỈ TIÊU LỢI NHUẬN VÀ RỦI RO CỦA CÁC NHTM
1.1. Tổng quan về chuẩn mực IFRS
1.1.1. Lịch sử quá trình hội tụ kế tốn quốc tế
Giai đoạn (1973-2000)
Năm 1973, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) được thành lập tại Úc
với sự tham gia của các quốc gia bao gồm: Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản,
Mexico, Hà Lan, Anh, Ireland và Hoa Kỳ. IASC là tổ chức độc lập, phi lợi nhuận,
phi chính phủ nhằm phát triển sự thống nhất trong các chuẩn mực kế toán sẽ được
sử dụng trên toàn thế giới. Ngoài ra, tiêu chuẩn IASC đầu tiên về tính minh bạch
của chính sách kế toán được ban hành vào tháng 1 năm 1975.
Năm 1977, Liên đồn kế tốn quốc tế (IFAC) được thành lập với mục đích
xây dựng nghiệp vụ kế tốn trên tồn thế giới. IFAC là đại diện quốc tế về nghề
nghiệp kế toán, chịu trách nhiệm tạo ra các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế
chất lượng cao, phát triển và thực hiện đạo đức - đào tạo kế toán chuyên nghiệp,
thúc đẩy sự hợp tác giữa các thành viên với các tổ chức quốc tế.
Đến năm 1987, IASC đã ban hành 25 tiêu chuẩn IAS bao gồm các vấn đề
khác nhau. Bởi vì các chuẩn mực đó được chắt lọc của nhiều chế độ kế tốn khác
nhau trên tồn thế giới nên sẽ có nhiều lựa chọn áp dụng cho hạch toán một nghiệp

vụ.
IASC và Tổ chức Quốc tế về Ủy ban Chứng khốn (IOSCO, trong đó SEC là
thành viên) đã nhất trí về những tiêu chuẩn cốt lõi của hệ thống chuẩn mực quốc tế
và tiến hành dự án để hoàn thành năm 1999. IOSCO đã đồng ý rằng nếu các chuẩn
mực hợp lí thì IOSCO sẽ khuyến nghị cho thực hiện chuẩn mực quốc tế cho mục
đích sử dụng vốn đầu tư nước ngoài và niêm yết quốc tế. Sau cuộc khủng hoảng tài
chính Châu Á năm 1997, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, các bộ trưởng
tài chính G7 và các bộ trưởng khác đã kêu gọi hồn thiện nhanh chóng và áp dụng
tồn cầu các tiêu chuẩn kế toán quốc tế chất lượng cao.
Giai đoạn 2000 đến nay
Năm 2001, tổ chức kế toán quốc tế IASB mới được thành lập có nhiệm vụ
ban hành các chuẩn mực thay thế cho IASC. Đồng thời IASC Foundation - Ban tổ
chức chuẩn mực kế toán quốc tế được thành lập nhằm giám sát các hoạt động, chiến
lược và ngân sách cho IASB.
IASB ra đời với 2 nhiệm vụ chính là tạo lập một hệ thống các chuẩn mực báo
cáo tài chính tồn cầu, đồng thời, đáp ứng nhu cầu thơng tin trung thực, hợp lí cho


13
các nhà đầu tư để đưa ra quyết định phù hợp. Trong hơn một thập kỉ, đã có 14
chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được ban hành, sửa đổi và bổ sung. Trong đó
năm 2010, khn mẫu lý thuyết cho việc chuẩn bị và trình bày BCTC quốc tế (IFRS
Framwork) được ban hành. IFRS ngày càng được mở rộng và nâng cao vị thế trên
trường quốc tế, thêm vào đó, Liên minh châu Âu (EU) đã thơng qua luật yêu cầu tất
cả các công ty niêm yết phải lập báo cáo tài chính hợp nhất của họ bằng IFRS bắt
đầu từ năm 2005, trở thành thị trường vốn lớn đầu tiên yêu cầu IFRS. Trong đó
quyết định giảm thiểu chuẩn mực về cơng cụ tài chính, tạo ra một chuẩn mực IFRS
của Châu Âu.
Cuộc tham khảo ý kiến mới nhất của IASB trên 81 quốc gia, gồm cả các nền
kinh tế lớn như G-20 và 61 quốc gia khác về việc tuân thủ chuẩn mực BCTC quốc

tế. Kết quả cho thấy 14/20 nước của G-20 yêu cầu hoàn toàn áp dụng chuẩn mực
BCTC trên thị trường vốn quốc tế. Ngồi ra, một nhóm các nước Mỹ, Nhật, Ản Độ,
Ả Rập, Trung Quốc, Indonesia cho phép áp dụng với phạm vi hạn chế. Thêm vào
đó, dữ liệu khẳng định 70/81 quốc gia cho phép áp dụng tất cả hoặc một phần của
tiêu chuẩn BCTC quốc tế, song chỉ 3 quốc gia trong dữ liệu trên là gần như hoàn
toàn sử dụng tiêu chuẩn quốc tế (Hồng Kông, Australia và New Zealand) và 27
nước thuộc EU tuân thủ các tiêu chuẩn BCTC quốc tế cho các công ty niêm yết và
một số tổ chức ngoại lệ (IASB, 2013). Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) là sự thay
đổi quan trọng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính và là thay đổi về chuẩn
mực kế toán lớn nhất trong thời đại, trở thành ngơn ngữ kế tốn chung phổ biến
nhất trên tồn cầu.
1.1.2. Tại sao chuẩn mực kế tốn của các quốc gia có sự khác biệt
Epstein và Mirza (2003) giải thích chuẩn mực kế tốn quốc gia khác nhau là
do mơi trường pháp lý các quốc gia có thể chia thành nhóm có chung tập quán luật
và các quốc gia có truyền thống luật lệ (thơng luật). Các quốc gia có thơng luật như
Anh, Hoa Kỳ và các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi Vương quốc Anh có xu hướng
không xác định các yêu cầu về BCTC trong luật pháp quốc gia và các mục tiêu của
báo cáo tài chính thường khác với các mục tiêu của chính sách thuế quốc gia . Trong
khi đó, các quốc gia có luật mã như Bộ luật Napoleon có xu hướng hợp pháp hóa
các quy định kế tốn và BCTC. Bên cạnh đó, báo cáo tài chính cịn phụ thuộc vào
chính sách thuế của từng quốc gia và một số nhân tố kinh tế có tác động đến sự thay
đổi trong các mơ hình kế tốn và phương pháp ghi nhận. Một vài nhân tố trong số
đó là:
1. Mức độ tập trung hóa trong nền kinh tế: tức là từ sự kiểm soát của nhà
nước sang tự do kinh doanh. Các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ít tập trung vào


14
việc phát triển các mơ hình báo cáo tài chính, cịn đối với các nhà hoạch định kinh
tế thì hiệu quả kinh tế không phải là mối quan tâm hàng đầu. Mặt khác, các quốc gia

thuộc nền kinh tế tự do kinh doanh như Anh và Hà Lan đã sớm có nhu cầu về báo
cáo tài chính có ý nghĩa.
2. Bản chất của hoạt động kinh tế: nền kinh tế nông nghiệp giản đơn khác
nền kinh tế phức tạp.
3. Giai đoạn phát triển kinh tế.
4. Mơ hình và tốc độ tăng trưởng kinh tế: từ một quốc gia có nền kinh tế trì
trệ chuyển bước thành quốc gia tăng trưởng bùng nổ.
5. Tính ổn định của đồng nội tệ hoặc kinh nghiệm lạm phát của nền kinh tế
trong nước.
Alexander và Archer (2003) đã trích dẫn bốn nguyên nhân của sự khác biệt
lịch sử trong chuẩn mực kế toán của các nước, như sau:
1. Tầm quan trọng tương đối của pháp luật. Đối với các quốc gia AngloSaxon, luật chỉ quy định những nguyên tắc chung, trong khi, trong truyền thống luật
La Mã bao gồm các điều khoản chi tiết hơn.
2. Áp đặt và linh hoạt. Một số quốc gia có xu hướng áp đặt quy định trong
khi những quốc gia khác thì linh hoạt trong việc áp dụng quy định. Việc áp đặt được
thực hiện theo luật hoặc bởi các cơ quan kế tốn chun nghiệp. Tính linh hoạt là
cách mà từng chuyên gia xử lý một tình huống, đặc biệt là có thể chọn cách thực
hiện thích hợp trong khn khổ luật đã được trình bày.
3. Tổ chức tài chính. Các quốc gia khác nhau có tổ chức tài chính khác nhau
về cấu trúc và cách thức huy động vốn và kế toán sẽ phải điều chỉnh cho phù hợp
với các nguồn tài chính chi phối trong nước. Đối với các tổ chức tập trung vào cổ
đơng thì mối quan tâm là lợi nhuận và báo cáo doanh thu - chi phí, từ đó u cầu
minh bạch và trung thực hơn về thơng tin kế tốn. Mặt khác, đối với các quốc gia có
lĩnh vực ngân hàng hoạt động với tư cách là nhà cung cấp quỹ thì đặt sự tập trung
vào các chủ nợ, sự thận trọng sẽ thể hiện qua chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán.
4. Ảnh hưởng của thuế: Một số quốc gia cho phép các chi phí được khấu trừ
thuế chỉ khi tính tốn số liệu thuế giống hệt với các tính tốn trong tài liệu đã xuất
bản BCTC.
1.1.3. Sự cần thiết của chuẩn mực kế tốn quốc tế
IAS nhằm mục đích nâng cao khả năng so sánh của các báo cáo tài chính

bằng cách giảm chênh lệch kế tốn quốc gia, nhằm đạt được sự đồng nhất về nội
dung và cách tiếp cận.


15
Rufo R. (2005) trình bày ba lý do chính về sự cần thiết phải có IAS, đó là:
(a) việc thực hiện kế toán và kiểm toán chất lượng ở một quốc gia là một thành
phần làm tăng cường công tác quản trị, (b) các chuẩn mực kế toán và kiểm tốn là
các yếu tố tạo nên tính hiệu quả của báo cáo tài chính quốc tế, (c) có mối liên hệ
chặt chẽ giữa các chuẩn mực kế toán và tài chính doanh nghiệp.
Chuẩn mực Ke tốn và Quản trị
Nhiều ý kiến cho rằng việc nghiên cứu các chuẩn mực kế tốn bắt nguồn từ
trong khái niệm quản trị. Theo đó, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng các thỏa
thuận trong quản trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển trong một quốc gia và
đồng thời một trong những thành phần quan trọng của quản trị là chất lượng của các
thơng lệ kế tốn và kiểm tốn. Theo nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển châu Á
(ADB,2002) về thực tiễn Kế toán và Kiểm toán các nước thành viên đang phát triển
đã trích dẫn rằng: các chuẩn mực kế toán và kiểm toán của một quốc gia sẽ (a) thu
hút đầu tư (b) hỗ trợ phát triển thị trường tài chính (c) giảm phần bù rủi ro quốc gia
(d) cải thiện kết quả tư nhân hóa và (e) giảm rủi ro khủng hoảng tài chính.
Về mặt chất lượng, theo khảo sát từ các nhà đầu tư toàn cầu về Quản trị
Doanh nghiệp, McKinsey & Co. (2002) lưu ý rằng trong số 200 nhà đầu tư, tổ chức
tham gia khảo sát đến từ Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ thì có
tới hơn một phần ba trong đó sẽ hạn chế đầu tư vào các quốc gia có nền quản trị
kém. Cuộc khảo sát cũng chỉ ra rằng các chuẩn mực kế toán, đặc biệt là thuyết minh
kế toán và việc sử dụng IAS ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định của nhà đầu tư.
Hoạt động kế tốn và kiểm tốn chất lượng cao hơn có liên quan tích cực đến phát
triển thị trường tài chính (Francis, et al. 2002). Cùng với đó, chuẩn mực kế tốn áp
dụng có chất lượng cao hơn dẫn đến niềm tin của nhà đầu tư lớn hơn, điều này dẫn
đến cải thiện tính thanh khoản và giảm chi phí vốn (Levitt, 1998). Theo La Porta và

cộng sự (2000), việc bảo vệ các nhà đầu tư kém hiệu quả có thể được giải quyết
thơng qua việc tăng cường áp dụng chính sách kế tốn và kiểm tốn thay vì thực
hiện cải cách pháp luật. Thơng qua đó, nhóm tác giả nhấn mạnh các hoạt động kế
toán và kiểm toán giúp hỗ trợ phát triển thị trường tài chính thơng qua việc phân bổ
nguồn vốn hiệu quả hơn.
Theo khảo sát của Pricewaterhouse Cooper (2001) được trích dẫn trong
nghiên cứu của ADB về 35 quốc gia, trong đó khảo sát chỉ ra sự không rõ ràng, kém
minh bạch của một quốc gia tạo ra phần bù rủi ro làm mất lòng tin của các nhà đầu
tư nước ngoài. Đồng thời, nghiên cứu cũng khẳng định rằng phần bù rủi ro là kết
quả của các chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật - quy định, các chính sách kinh
tế - thuế vĩ mơ và hành vi tham nhũng. Nhóm tác giả cũng kết luận rằng các tiêu


16
chuẩn và thơng lệ kế tốn rõ ràng làm tăng tính minh bạch và do đó hạ thấp phần bù
rủi ro quốc gia. Do đó, áp dụng chế độ kế tốn và kiểm tốn có thể cải thiện kết quả
tư nhân hóa ở một quốc gia. Ngồi ra, ADB đã trích dẫn nghiên cứu của Đại học
Texas (1998) trong việc chứng minh rằng việc không đáng tin cậy và không đầy đủ
thơng tin tài chính có thể làm giảm số tiền thu được từ q trình tư nhân hóa thơng
qua những khó khăn về định giá. Từ hệ thống kế tốn quốc gia và doanh nghiệp,
thơng tin tài chính và các phương pháp kiểm tốn đóng vai trị quan trọng trong sự
thành cơng của hoạt động tư nhân hóa, một số quốc gia sẽ gặp khó khăn hơn nếu
các vấn đề tài chính khơng được giải quyết trước. ADB cũng lưu ý rằng việc thực
thi không tốt các quy định của doanh nghiệp, kém phát triển thị trường vốn và mức
độ tập trung cao của quyền sở hữu công ty là những lý do chính dẫn đến việc quản
trị cơng ty yếu kém ở các nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính
châu Á vào năm 1997. Do đó, để giảm thiểu rủi ro tín dụng, một quốc gia cần đưa
ra các biện pháp để tăng cường kiểm soát nội bộ doanh nghiệp và cải thiện các
chuẩn mực kế toán, kiểm toán và hệ thống báo cáo tài chính. ADB cũng đã tham
khảo Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2002) và nhận thấy rằng các quốc gia có

các chuyên gia có năng lực về các lĩnh vực như: kế tốn, thẩm định viên, nhà phân
tích và các chuyên gia về quản trị khả năng thanh tốn có thể phản ứng nhanh hơn
với những hệ quả sau cuộc khủng hoảng.
Các yếu tố dẫn đến tính hiệu quả của BCTC theo chuẩn mực quốc tế
Bản phát hành năm 2002 của SEC Hoa Kỳ coi các yếu tố sau đây có hiệu quả
đến báo cáo tài chính quốc tế:
1. Người xây dựng chuẩn mực kế toán - kiểm toán hiệu quả, độc lập và chất
lượng cao;
2. Chuẩn mực kiểm tốn chất lượng cao;
3. Các cơng ty kiểm tốn có chất lượng kiểm tốn tốt trên tồn thế giới;
4. Đảm bảo chất lượng toàn nghề;
5. Giám sát quy định;
Cũng theo SEC Hoa Kỳ, một bộ tiêu chuẩn chất lượng cao được đánh giá là
có hiệu quả có các đặc điểm sau: (a) cơ quan ra quyết định độc lập; (b) chức năng
cố vấn; (c) quy trình hợp lý; (d) chức năng diễn giải hiệu quả; (e) giám sát độc lập
đại diện cho lợi ích cơng cộng; và (f) đủ kinh phí và nhân sự.
Các chuẩn mực kế tốn chất lượng cao là các chuẩn mực kế tốn phải có liên
quan, thơng tin hữu ích, đáng tin cậy cho các nhà đầu tư, người cho vay, chủ nợ và
những cổ đơng góp vốn. Để đạt được mục đích đó, các tiêu chuẩn phải đạt được: (a)


17
18
Chuẩn
mực

Tên Tiếng Anh

Tên Tiếng Việt


sự nhất(i)quán
Khuôn
- chokhổ
phép
lập các
BCTC
nhà(Conceptual
đầu tư so sánh
Framework)
có ý nghĩa
baovềgồm
hiệucácsuất
ngun
qua các
tắc

khoảng
bản nhất
thời cho
gianBáo
và giữa
cáo tài
cácchính
cơngđể
ty;phù
(b) hợp
sự minh
với IFRS.
bạch -Bản
để bản

thânchất
khn
và khổ
việckhơng
xử lý
phải
các giao
là một
dịch
Chuẩn
cơ bản
mựcrõriêng
ràng rẽđối
nhưng
với người
nó được
dùng;
sử dụng
(c) cung
làm cơ
cấpsởthơng
để xây
tindựng
đầy các
đủ,
Chuẩn
trong đó
mực.
bao gồm thơng tin bổ sung cho các báo cáo tài chính cơ bản, bối cảnh và
chế độ (ii)

kế toán
Chuẩn
đượcmực
áp dụng.
kế toán quốc tế (IAS) do IASC ban hành trước đây (trước
năm 2001)
hiệu
lực.kế toán chất lượng cao phải đảm bảo: (a) nhất quán với các
Các cịn
chuẩn
mực
(iii) niệm
Chuẩn
(IFRS)
dođối
IASB
hành.
khung khái
kếmực
tốn;BCTC
(b) kếquốc
tốn tếviên
có thể
ứngban
được
đối với các giao dịch
(iv)
Các
hướng
dẫn

bổ
sung
cho
IAS
(SIC
Interpretation)
dothế;
Ủy (c)
banchính
diễn
tương tự, bằng cách tránh hoặc giảm thiểu các bút toán kế toán thay
giải
sách kế toán nhất quán giữa các kỳ kế toán; và (d) minh bạch và trung thực
Chuẩn Chuẩn
mực (SIC)
ban
năm
2001.
mực
Kehành
tốntrước
và Tài
chính
Doanh nghiệp
(v)
Các
hướng
dẫn
bổ
sung

các vàChuẩn
mực
(IFRIC
Có mối quan hệ liên kết chặt chẽ giữacho
kế tốn
tài chính,
theoIFRS
đó nhiều
nhà
Interperetation)
quản trị, người sử dụng báo cáo thường hiểu rằng một phần quan trọng của quy
do
Ủykếban
diễn
(IFRIC)
trình
tốn
là giải
việcChuẩn
lập cácmực
báoIFRS
cáo tài
chính.ban
Cáchành.
báo cáo này được đặc biệt quan
tâm bởi các nhà đầu tư tài chính vì báo cáo cho phép người sử dụng phân tích được
Danh
mực ty
Keđểtốn
quốc

lịch sử hoạtBảng
động1.1:
trong
quásách
khứcác
củaChuẩn
một công
đánh
giátếvị(IAS)
thế hiện tại và đưa
ra ý kiến về khả năng hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp. Trong khi đó, tài
chính doanh nghiệp thì tập trung vào các quyết định liên quan đến nguồn vốn và sử
dụng vốn. Các quyết định này đóng vai trị chính trong việc hỗ trợ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh của hàng hóa và dịch vụ. Đồng thời, thơng qua hoạt động tài
chính, doanh nghiệp khơng chỉ mở rộng thị trường trong nước mà cịn có thể liên
kết với thị trường quốc tế. Doanh nghiệp có thể tài trợ cho việc mở rộng quy mơ của
mình bằng cách phát hành cổ phiếu ra công chúng hoặc thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Sự giao thương quốc tế này đang ngày càng được quan tâm đẩy mạnh bởi
chính sự gia tăng mạnh mẽ của các tập đoàn đa quốc gia và sự phát triển của thị
trường vốn quốc tế. Theo đó, sự đa dạng trong chuẩn mực kế toán của các quốc gia
khác nhau đặt ra vấn đề về chi phí bổ sung phải chịu cho báo cáo tài chính giữa các
cơng ty đa quốc gia. Hơn nữa, sự khác nhau về ngôn ngữ, sự khác biệt về đa dạng
chuẩn mực kế tốn giữa quốc gia có thể làm giảm khả năng thu hút nguồn vốn đầu
tư ngước ngoài, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh của các công ty thuần nội
địa so với cơng ty có vốn đầu tư nước ngồi. Bên cạnh đó, việc quốc tế hóa các
chuẩn mực kế toán cũng tạo điều kiện rất nhiều cho các hoạt động tài trợ quốc tế và
nâng cao khả năng tiếp cận của các tập đoàn nước ngoài muốn niêm yết và đầu tư
tại thị trường nước ngoài. Mặt khác, các sàn giao dịch chứng khoán cũng sẽ được
hưởng lợi từ việc thu hút một số lượng lớn hơn các nhà đầu tư.
1.1.4. Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế/ báo cáo tài chính quốc tế

Hệ thống chuẩn mực IFRS bao gồm:


×