U
∣i
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
PHÂN VIỆN BẮC NINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NĂM HỌC 2020 - 2021
TÊN ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA MẠNG LƯỚI
QUAN HỆ XÃ HỘI VÀ CƠ HỘI TÌM VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Sinh viên thực hiện:
Trương Thị Bình An: Lớp: KTA-BN Mã sinh viên: 21A4020674
Nguyễn Thị Thanh Hiền: Lớp: KTA-BN Mã sinh viên: 21A4020773
Nguyễn Thị Thúy: Lớp: KTA-BN Mã sinh viên: 21A4020733
Nguyễn Công Phương Nam: Lớp: NHA-BN Mã sinh viên: 21A4011142
GVHD: TS. Nguyễn Thị Như Nguyệt
HÀ NỘI - 5/2021
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT......................................................................................4
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU............................................................... 5
MỞ ĐẦU...............................................................................................................6
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu........................................................... 6
2. Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa mạng lưới quan hệ xã
hội và cơ hội tìm việc làm của sinh viên học viện ngân hàng.........................9
2.1.
Các cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi......................................9
2.2.
Các cơng trình nghiên cứu ở trong nước....................................10
3. Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.............12
3.1.
Mục đích nghiên cứu của đề tài..................................................12
3.2.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.....................................13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 13
4.1.
Đối tượng nghiên cứu..................................................................13
4.2.
Phạm vi nghiên cứu.....................................................................14
5. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 14
6. Kết cấu bài nghiên cứu............................................................................... 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU..................15
1.1.2.
Lý thuyết về mạng lưới xã hội...................................................16
1.1.5. Lý thuyết “Sức mạnh của các mối quan hệ yếu”.......................22
1.2.1
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng..............................................24
1.2.2
Phát biểu các giả thuyết nghiên cứu.........................................25
Chương 2: XÂY DỰNG QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU..........................................32
2.1.
2.2.1.
Quy trình nghiên cứu tổng quát................................................... 32
Xây dựng thang đo...................................................................33
2
2.2.2.
Bảng hỏi điều
tra......................................................................38
DANH
MỤC VIẾT TẮT
2.2.3.
Phương pháp lấy mẫu và thu thập số liệu................................38
2.2.4.
Thơng tin về mẫu......................................................................39
2.2.5.
Phương pháp phân tích dữ liệu................................................39
2.2.5.1
Kiểm tra độ tin cậy của hệ số Cronbach Alpha......................39
2.2.5.2
Phân tích các nhân tố khám phá EFA.................................... 40
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................43
3.1.
Tổng quan chung về Học viện Ngân Hàng.................................. 43
3.1.1.
Giới thiệu chung về Học viện Ngân Hàng................................43
3.1.2.
Các chuyên ngành đào tạo.......................................................44
3.2.
Phân tích thống kê mơ tả.............................................................. 45
3.3.
Phân tích tương quan....................................................................46
3.4.
Phân tích độ tin cậy Cronbach’sAlpha........................................ 48
3.5.
Phân tích nhân tố khám pháEFA.................................................50
3.6.
Mơ hình điều chỉnh....................................................................... 53
3.8.
Kiểm định giả thuyết của mơ hình nghiên cứu...........................58
3.9.
Kiểm định sự khác biệt về các biến định tính.............................59
3.9.1.
Kiểm định cơ hội việc làm giữa nam và nữ...............................60
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................61
4.2.1.
Đối với sinh viên Học viện Ngân Hàng....................................63
4.2.2.
Đối với Học viện Ngân Hàng...................................................65
4.2.3.
Đối với Chính phủ....................................................................65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................68
“Từ viết
“Tiếng Anh”
“Tiếng Việt”
tắt”
SPSS 20
MLQHXH
“Phần mềm
3 phân tích số liệu SPSS
20
Mạng lưới quan hệ xã hội
VIF
Varince Inflation Factor
Hệ số phóng đại phương sai
ANOVA
Analysis of Variance
Phân tích phương sai
Social Network
Mạng lưới xã hội
MLQHXH
HVNH
Banking Academy
Mạng lưới quan hệ xã hội
Học viện Ngân Hàng
VXH
Social Captial
Vốn xã hội
MLXH
GD & ĐT
Giáo dục & đào tạo
TBXH
Thương binh xã hội
4
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tổng hợp thang đo của nghiên cứu.....................................................................34
Bảng 3.1. Thông tin thống kê mô tả tần số về mẫu khảo sát................................................45
Bảng 3.2. Phân tích sự tương quan giữa “các biến độc lập trong từng nhóm yếu tố” với
“biến phụ thuộc”.................................................................................................................46
Bảng 3.3: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha của các thang đo......................48
Bảng 3.4: Kiểm định KMO và Phân tích nhân tố EFA........................................................51
Bảng 3.5: Mơ hình giá trị R2
Watson 55
và trị số Durbin...........................................-
Bảng 3.6: Kết quảkiểm định ANOVA.............................................................................55
Bảng 3.7: Kết quả hồi quy tuyến tính.................................................................................. 56
Bảng 3.8: Kết quảkiểm định giả thuyết...........................................................................59
Bảng 3.9: Kết quảkiểm định sự khác biệt các...............................................biến định tính
60
Bảng 3.10: Kiểm định Levene.............................................................................................60
Hình 1: Sơ đồ mơ tả một mạng lưới của “Nút” (Phan Thị Kim Dung, 2016)......................15
Hình 2: Các khía cạnh của vốn xã hội (Van Deth, 2008).....................................................18
Hình 3: Mơ hình nghiên cứu............................................................................................... 25
Hình 4: Quy trình nghiên cứu tổng quát.............................................................................. 32
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vấn đề việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm
chú ý của người học, gia đình, nhà trường và xã hội. Thực tế cho thấy, số lượng sinh viên
sau khi tốt nghiệp nói chung và sinh viên khối Kinh tế nói riêng tìm được việc làm đúng
ngành đào tạo ngày càng ít đi, trong khi nhu cầu việc làm lại rất nhiều. Điều này không
những tác động không tốt cho sinh viên sắp ra trường mà còn ảnh hưởng bất lợi đến tâm lý
chung của sinh viên đang theo học, thậm chí cũng ảnh hưởng đến các em học sinh đang
chuẩn bị lựa chọn ngành nghề vào các trường cao đẳng, đại học.
Trong quá trình tìm kiếm việc làm của mỗi người, ngồi sử dụng các phương pháp
tìm kiếm việc làm chính thức như: các kênh quảng cáo, qua các đơn vị dịch vụ việc làm,
ứng tuyển trực tiếp,... thì mạng lưới quan hệ xã hội là một trong những kênh tìm kiếm hiệu
quả nhất. Theo Fichter, J. H. (1957), iiMang lưới xã hội được hiểu là một cấu trúc xã hội
hình thành bởi những cá nhân hay tổ chức. Trong đó, các cá nhân thường được gắn kết bởi
sự phụ thuộc lẫn nhau thơng qua những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích,
trao đổi tài chính, quan hệ tình dục, mối quan hệ về niềm tin, kiến thức và uy tín. Những
điểm nút gắn kết cá nhân với xã hội chính là mối liên hệ xã hội của mỗi cá nhân. Trong đó,
mạng lưới xã hội cũng có thể được dùng như nguồn vốn xã hội và giá trị mà cá nhân có
được thơng qua nó ”.
Theo Dương Văn Linh, chuyên gia tư vấn chiến lược của tập đoàn Ernst & Young,
New York trên Harvard Business Review, chuyên gia cho rằng: “Khả năng tạo dựng và duy
trì các mối quan hệ là điều rất cần thiết dù cho bạn đang trong bất kì giai đoạn nào của sự
nghiệp’”. Việt Nam có rất nhiều cơ hội tốt nếu người lao động đặc biệt là thế hệ trẻ chủ
động với tương lại của mình. Đối với sinh viên đại học, việc xác định - lên kế hoạch phát
triển mạng lưới quan hệ của mình từ các mối quan hệ từ giảng viên trong trường đại học
của mình, với các đối tác trong cơng việc, gia đình, họ hàng và các hoạt động tập thể
khác,... sẽ giúp các bạn tiến xa hơn trong sự nghiệp. Việc xây dựng MLQHXH, không chỉ
6
được người Mỹ vận dụng trong thời chiến, mà đến tân bây giờ tầm quan trọng của nó cịn
được nâng lên đến đỉnh điểm, nổi bật là Bill Gates_người đã đưa Microsoft trở thành một
thương hiệu lớn như bây giờ. Điểm đặc biệt trong mạng lưới của Bill Gates là sự góp mặt
của mẹ (bà Mary Gates, chủ tịch của United Way). Sự tác động không nhỏ từ mạng lưới gia
đình đã giúp Microsoft có được hợp đồng điều hành DOS và cuối cùng đã vượt qua IBM để
trở thành cơng ty máy tính lớn nhất thế giới.
Nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài cũng chứng minh rằng sử
dụng mạng lưới quan hệ xã hội như một phương pháp tìm kiếm việc làm phổ biến như:
Trịnh Duy Luân (2009)1, Nguyen. Tuan Anh (2010)2, Lê Ngọc Hùng (2003)3, Mark
Granovetter (2015)4... Hay những nghiên cứu chứng mính sự cần thiết của mạng lưới xã hội
(MLXH) và vốn xã hội (VXH) đến cuộc sống thực tiễn của con người của Nguyễn Tuấn
Anh (2015)1 2 3 4 5 . Tuy cịn có những tranh luận xoay quanh các tác động cụ thể của cách
thức
tìm kiếm này đến từng khía cạnh của công việc.
Mark Granovetter (2015) đã đưa ra những kênh tìm kiếm việc làm qua nghiên cứu
về sự tương tác giữa mối quan hệ và nghề nghiệp tại Chicago. Tác giả đưa ra ba giả thuyết:
Thứ nhất, nhiều người tìm được cơng việc của mình thơng qua chi nhánh, cơ sở tuyển dụng
hay thông qua các tờ rơi tuyển dụng chứ khơng phải qua các kênh tìm kiếm ứng tuyển trực
tiếp. Thứ hai, MLXH giúp tìm kiếm việc làm có những thơng tin hiệu quả hơn về tính phù
hợp, đặc thù của công việc. Thứ ba, thông qua các mối liên hệ yếu có thể tạo ra được thị
trường lao động tốt hơn. Kết quả Mark Granovetter thấy rang, trong vấn đề tìm kiếm việc
làm các mối quan hệ mạnh sẽ kém hiệu quả hơn các mối quan hệ yếu. Bên cạnh đó, bài
1
Trịnh Duy Luân. (2009). “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực, lao động việc làm ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa”, sách Dân số Việt nam qua các nghiên cứu xã hội học (tr. 27), NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
2
Nguyen Tuan Anh. (2010). Kinship as Social Capital: Economic, Social and Cultural Dimensions of Changing
Kinship Relations in a Northern Vietnamese Village.Ph D Thesis, Vrije Amsterdam. University, Amsterdam.
3
Lê Ngọc Hùng (2003). “Lý thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội: trường hợp tìm kiếm việc làm của
sinh viên”, Tạp chí Xã hội học, Số 2 (82), tr. 67- 75.
4 Granovetter. (1995/ M. Getting a job: A Study of Contacts and Careers, University of Chicago Press, Chicago.
5
Nguyễn Tuấn Anh. (2015). “Vốn xã hội và vai trị của nó trong việc thích ứng và phát triển kinh tế ở nơng thơn Bắc
Trung Bộ trong thời kì đổi mới”. Hội thảo quốc tế: đóng góp của Khoa học Xã hội - Nhân văn trong phát triển Kinh
tế - Xã hội
7
nghiên cứu “Mạng lưới quan hệ xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp” của Phạm
Huy Cường (2014) 6cũng nghiên cứu về vấn đề này. Chúng tôi nhận thấy rằng, ngồi phân
tích mối quan hệ mạnh yếu như nghiên cứu của Mark Granovetter (2015), Phạm Huy
Cường còn phân tích sâu hơn về khía cạnh mạng lưới quan hệ xã hội và vốn xã hội trong thị
trường lao động Việt Nam để khẳng định lần nữa: “Mạng lưới quan hệ xã hội có vai trị
quan trọng trong q trình tìm kiếm việc làm của mỗi cá nhân, trong trường hợp nghiên cứu
này là những sinh viên mới tốt nghiệp”. Ngoài ra, nghiên cứu cũng xác nhận mối liên hệ
giữa mạng lưới quan hệ xã hội với các khía cạnh kinh tế và phi kinh tế của công việc.
Dựa trên cơ sở dữ liệu phân tích về về tình hình lao động Việt Nam, Phịng thanh tra
khảo thí & đảm bảo chất lượng giáo dục đã tiến hành khảo sát, thống kê số lượng sinh viên
HVNH có việc làm trong vòng 1 năm sau khi tốt nghiệp. Nhận thấy rằng trong giai đoạn
2015-2019, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp có xu hướng giảm nhẹ nhưng vẫn
giữ ở mức cao, cụ thể: 2015 chiếm tỷ lệ 96%, 2016 - 2018 ở mức ổn định 95%, sang đến
2019 giảm cịn 93%. Để duy trì mức tỷ lệ cao và ổn định sau khi tốt nghiệp tại HVNH, sinh
viên đều đã được tích lũy các kiến thức cơ bản, tiếng anh, tin học cũng như các kỹ năng
mềm cần thiết. Với bề dày lịch sử, HVNH được công nhận là một trong những trường có tỷ
lệ sinh viên ra trường kiếm được việc làm nằm trong top cao so với các trường kinh tế khác.
Tuy nhiên, trong bối cảnh có nhiều trường cùng đào tạo sinh viên khối ngành kinh tế, bên
cạnh sự thiếu hụt nguồn cung việc làm đến từ khó khăn chung của đại dịch Covid 19 khiến
mức độ cạnh tranh việc làm trở nên gay gắt. Để đối phó với khó khăn đó, sinh viên không
chỉ tập trung rèn luyện, nâng cao khả năng bản thân mà cịn phải tìm cách làm thế nào để
vận dụng mạng lưới quan hệ xã hội triệt để và hiệu quả vào trong quá trình tìm kiếm việc
làm của bản thân.
Do đó, cần bổ sung thêm những nghiên cứu thực nghiệm về các biến ảnh hưởng đến
mạng lưới quan hệ xã hội (MLQHXH) và cơ hội tìm việc làm của sinh viên kinh tế, nhằm
mục đích tìm ra vai trị quan trọng của nó trong q trình tìm kiếm việc làm, đồng thời xác
6
P.H. Cường (2014). Mạng lưới quan hệ xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN:
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 30, Số 4, 44-53
8
định loại MLQHXH nào có vị trí quan trọng giúp nâng cao cơ hội tìm kiếm việc làm. Từ đó
đề xuất các biện pháp nhằm góp phần giải quyết vấn đề việc làm của sinh viên kinh tế, cụ
thể là sinh viên HVNH qua đề tài “Phân tích mối quan hệ giữa mạng lưới quan hệ xã hội và
cơ hội tìm việc làm của sinh viên Học viện Ngân Hàng”.
2. Tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ giữa mạng lưới quan hệ xã hội và cơ
hội tìm việc làm của sinh viên học viện ngân hàng
2.1. Các cơng trình nghiên cứu ở nước ngoài
Kể từ khi lý thuyết về mạng lưới quan hệ xã hội ra đời, với bản chất bao hàm các
nguồn lực hữu hình và vơ hình mà nó mang lại như giá trị kinh tế, thơng tin và tri thức thì
lý thuyết này đã được ứng dụng rộng rãi trong việc nghiên cứu tác động của nó đối với các
tổ chức và cá nhân trong việc tìm kiếm nguồn lực bổ sung cho nguồn lực nội tại cịn thiếu
sót. Đối với các tổ chức điển hình là trong các doanh nghiệp hiện nay mạng lưới quan hệ xã
hội đóng vai trị vơ cùng quan trọng việc trao đổi thông tin giữa các doanh nghiệp và thúc
đẩy sự phát triển của chính doanh nghiệp đó...Trước tiên là phải kể đến nghiên cứu của
Francis Fukuyama (2003) nghiên cứu chỉ ra rằng đối với các doanh nghiệp Mỹ Latin mạng
lưới quan hệ xã hội giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp, ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng con người hoạt động vì mục đích kinh tế. Phần lớn tổng GDP ở các
nước Mỹ Latin được tạo ra nhờ các doanh nghiệp gia đình gồm khoảng 10 đến 30 gia đình
đình hàng đầu. Những mạng lưới này hoạt động dựa trên mối quan hệ họ hàng; khi doanh
nghiệp được mở rộng quy mô họ sẽ đưa các con, các cháu hay bà con có quan hệ thân thiết
vào. Như vậy ở Mỹ Latin mối quan hệ chặt chẽ, đáng tin cậy chỉ có ở trong gia đình hoặc
bạn bè thân thiết, là một mạng lưới quan trọng trong nền kinh tế. Nếu thiếu đi nó nền kinh
tế có thể xảy ra khủng hoảng, nạn thất nghiệp cao.
Đối với cá nhân MLQHXH đã đem lai cho cá nhân sở hữu những mạng lưới then
chốt có được những lợi ích về tinh thần và vật chất. Xét riêng đối với việc tìm kiếm việc
làm, MLQHXH chiếm vai trị vơ cùng quan trọng đối với các cá nhân trong việc tìm kiếm
việc làm đặc biệt là đối với sinh viên mới ra trường. Nhà xã hội học Axel Franzen &
9
Dominik Hangartner thông qua việc điều tra sinh viên tốt nghiệp tại Thụy Sĩ cũng đã chỉ ra
rằng MLXH có ảnh hưởng đến việc tìm kiếm việc làm: Thứ nhất, phần lớn cơng việc đầu
tiên của họ tìm được thơng qua các mối quan hệ mạng lưới. Thứ hai, với những người đã
chấp nhận công việc thông qua mạng lưới sẽ không được trả thêm tiền thù lao theo giờ. Thứ
ba, nhờ vào sự giúp đỡ từ bạn bè hay những người thân sẽ giúp cho cơng việc tìm được của
sinh viên tốt nghiệp có sự chun mơn hóa cao hơn. Thứ tư, phân tích cho thấy rằng tìm
kiếm thơng qua các mạng lưới tiết kiệm được chi phí tìm kiếm, thời gian.
Nghiên cứu của Bonnie H. Erickon (2013) cho rằng mối liên hệ cá nhân có vai trị
đặc biệt trong tuyển dụng việc làm: “Khi nào người ta cần tìm cơng việc hoặc người ta tìm
kiếm cơng nhân thơng qua giới thiệu cá nhân thay vì các bài quảng cáo khơ khan? Việc tìm
kiếm thơng qua cá nhân có tạo nên sự khác biệt? Kết quả cho thấy các ông chủ thích thuê
người làm thông qua mối liên hệ cá nhân đối với các vị trí cơng việc ở bậc cao hơn do có
vốn xã hội lớn hơn và những người có vốn xã hội nhiều hơn sẽ tìm được một cơng việc tốt
hơn dù họ có tham gia tuyển dụng thông qua các mối liên hệ cá nhân hay khơng. ” Như
vậy, có thể thấy nghiên cứu của ông cho thấy mạng lưới quan hệ các nhân rất cần thiết đối
với khơng chỉ người lao động mà cịn có các chủ doanh nghiệp. Thơng qua mạng lưới đó,
họ có thể tìm thấy thơng tin cơng việc hay tìm kiếm người lao động một cách tin cậy, dễ
dàng và hiệu quả.
2.2. Các cơng trình nghiên cứu ở trong nước
MLQHXH và VXH có vai trị vơ cùng quan trọng trong nền kinh tế. Nó khơng chỉ
hữu ích cho các cơng ty trong việc xác định các cơ hội thị trường, tăng cường các nguồn và
phương thức huy động vốn chiến lược, thúc đẩy việc thiết lập lòng tin và hợp tác trong
mạng lưới mà cịn giúp cải thiện thơng tin, tiết kiệm chi phí... Bên cạnh đó, nó là một kênh
rất hữu ích để tăng cơ hội tìm kiếm việc làm trong thời buổi ngày nay, đặc biệt là sinh viên
Việt Nam.
Nghiên cứu của Nguyễn Quý Thanh (2005) cũng cho thấy trong thị trường vốn tín
dụng cịn khan hiếm, các doanh nghiệp hầu hết đều dựa vào nguồn vốn xã hội từ MLXH
10
gia đình và bạn bè thân thiết để huy động vốn kinh tế. Ở đây vốn xã hội tồn tại dưới dạng
trách nhiệm, lịng tin, sự tín nhiệm giữa các cá nhân trong gia đình và các mối quan hệ thân
quen với chính quyền địa phương giúp giảm chi phí giao dịch kinh tế và tăng cường huy
động nguồn lực lao động khi cần thiết. Tuy nhiên nó gây ra việc rủi ro cao, phát sinh thêm
chi phí cơ hội khác và gây giảm sự triển vọng của các thế hệ sau nếu như sử dụng nguồn
lao động là trẻ cm_
Lê Ngọc Hùng (2003) cũng cho rằng MLXH là cầu nối giúp sinh viên tốt nghiệp tìm
kiếm việc làm. Ơng chỉ ra ba kiểu MLXH: kiểu truyền thống: cá nhân tìm kiếm thơng qua
các mối quan hệ của gia đình; kiểu hiện đại: cá nhân tìm kiếm việc làm thơng qua bên trung
gian như mơi giới việc làm để tìm việc hay thông qua quan hệ với các cơ quan tổ chức; kiểu
hỗ hợp: sự kết hợp giữa hai kiểu truyền thống và hiện đại. Tác giả Phạm Huy Cường (2014)
với bài nghiên cứu iiMang lưới quan hệ xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp” 7 cho
thấy mối liên hệ giữa mạng lưới quan hệ xã hội đến khía cạnh kinh tế và phi kinh tế tới kết
quả tìm kiếm việc làm của sinh viên tốt nghiệp. Bên cạnh các phương pháp tìm kiếm qua
kênh quảng cáo, qua đơn vị ứng tuyển trực tiếp.. .người lao động còn sử dụng các mối liên
hệ xã hội như người than, bạn bè.
“Vốn xã hội với tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp- Cựu sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội” 8 của Phạm Huy
Cường (2016) chỉ rõ vai trò của VXH trong thị trường lao động, nó khơng chỉ là kênh kết
nối giữa người lao động và việc làm mà cịn có ý nghĩa hai chiều từ đó mở ra hướng nghiên
cứu về “sức mạnh của các liên kết yếu”. Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên đã bắt đầu ý
thức được vai trò quan trọng của mạng lưới quan hệ xã hội với cơ hội việc làm của mình.
Kế thừa các mối quan hệ trong gia đình, tạo dựng mạng lưới quan hệ ngồi gia đình với bạn
bè, thầy cơ và các bạn cùng tham gia mạng lưới xã hội. Sinh viên tốt nghiệp tận dụng
7
Phạm Huy Cường. (2014). Mạng lưới quan hệ xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp. Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 30, Số 4, 44-53
8
Phạm Huy Cường. (2016). Vốn xã hội với tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp - Cựu sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội
11
MLXH để khai thác các nguồn lực trong quá trình tìm kiếm việc làm: nguồn lực thơng tin,
tài chính, các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đó nhiều sinh viên tìm được việc làm nhờ
thơng tin hỗ trợ từ các thành viên trong MLXH đặc biệt là từ gia đình. Ta thấy được khi vận
dụng các mối quan hệ mạng lưới xã hội trong việc tìm kiếm việc làm giúp chúng ta tiết
kiệm được thời gian tìm kiếm, gia tăng sự phù hợp của công việc với năng lực chuyên môn
được đào tạo, tập trung vào khu vực làm việc nhà nước và mức ổn định công việc cao tuy
nhiêm mức thu nhập lại bị sụt giảm.
Như vậy, nghiên cứu về mối liên hệ giữa mạng lưới xã hội và cơ hội tìm kiếm việc
làm của sinh viên tốt nghiệp đã và đang được quan tâm nhiều hơn khai phá và bổ sung
những tri thức mới.
3. Mục đích nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nhóm nghiên cứu lựa chọn: “Phân tích mối quan hệ giữa mạng lưới
quan hệ xã hội và cơ hội tìm việc làm của sinh viên Học viện Ngân Hàng”. Bài nghiên cứu
nhằm làm rõ tầm quan trọng của mạng lưới mối quan hệ xã hội trong việc tạo điều kiện cho
sự thiết lập và sự phát triển về cơ hội tìm việc làm của sinh viên HVNH. Đồng thời đề tài
cũng đưa ra các phương pháp phù hợp để vận dụng vào trong tìm kiếm việc làm đối với
sinh viên nói chung.
Đề tài hướng đến giải đáp ba câu hỏi chính như sau:
Câu hỏi 1: Các mạng lưới quan hệ nào tác động đến cơ hội tìm việc làm của sinh
viên HVNH hiện nay?
Câu hỏi 2: Vậy mức độ tác động của các mạng lưới quan hệ xã hội.
Câu hỏi 3: Việc vận dụng mạng lưới quan hệ xã hội vào cơ hội tìm việc làm của sinh
viên HVNH ?
Do đó, nghiên cứu hướng tới việc xây dựng mơ hình các nhân tố mạng lưới xã hội
tác động đến cơ hội tìm việc làm của sinh viên kinh tế hiện nay cụ thể là sinh viên Học viện
Ngân Hàng. Các mục tiêu được xác định như sau:
12
(1) Tổng hợp được tổng quan cơ sở lý thuyết về các nhân tố mạng lưới xã hội
tác động đến cơ hội tìm việc làm của sinh viên HVNH.
(2) Đánh gia được các nhân tố mạng lưới xã hội tác động đến cơ hội tìm việc
làm của sinh viên.
(3) Xác định mức độ ảnh hưởng lẫn của các nhân tố mạng lưới xã hội tác động
đến cơ hội tìm việc làm của sinh viên HVNH.
(4) Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm định hướng cho sinh viên có thể vận
dụng được tốt trong tìm kiếm việc làm hiện nay.
3.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Với các mục đích cụ thể của nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ hướng đến một số ý nghĩa
quan trọng như sau:
(1) Về mặt khoa học: Cung cấp thêm một nghiên cứu thực nghiệm cụ thể về mối
quan hệ giữa mạng lưới quan hệ xã hội và cơ hội tìm việc làm của sinh viên HVNH
trong
thời kỳ cạnh tranh việc làm gay gắt và sự tác động của dịch Covid hiện nay.
(2) Về thực tiễn: Cung cấp một tầm nhìn khoa học, khách quan về mối quan hệ giữa
mạng lưới quan hệ xã hội và cơ hội tìm việc làm của sinh viên kinh tế, để từ đó góp
phần
đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong cơ hội việc làm
cho
sinh viên HVNH.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được nhóm tác giả xác định là “mối quan hệ xã hội” tác động
đến cơ hội tìm việc làm của sinh viên HVNH. Do đó, bảng khảo sát sẽ hướng đến các bạn
sinh viên đã và đang hoặc có ý định sử dụng mối quan hệ xã hội như mạng lưới quan hệ
bạn bè, mạng lưới quan hệ người thân, mạng lưới trực tuyến,... trong quá trình tìm kiếm
việc làm của mình, từ đó, nhằm mục đích làm rõ tầm quan trong của mạng lưới mối quan
13
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại trường Học viện Ngân Hàng
Hà Nội và Phân viện Bắc Ninh.
-
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thu thập dữ liệu trong khoảng từ tháng 10 đến tháng
1/2021.
5. Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp điều tra, phỏng vấn: việc phát bảng hỏi tới các bạn sinh viên theo học
tại các khoa bộ môn của trường HVNH, tập chung chủ yếu vào các sinh viên năm
cuối
và
sinh viên vừa ra trường, có ý định hoặc đã và đang sử dụng mối quan hệ xã hội trong
việc
tìm kiếm việc làm của mình.
-
Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp tài liệu: Việc đánh giá “tổng quan về tình hình
nghiên cứu”, tìm ra khoảng trống khoa học được dựa trên tổng hợp và xử lý các tài
liệu
có
liên quan .
-
Phương pháp phân tích định tính, định lượng: Việc kết hợp đồng thời cả hai
phương pháp này nhằm đánh giá sự tác động giữa mối quan hệ mạng lưới quan hệ xã
hội
và
cơ hội tìm việc làm của sinh viên HVNH.
6. Ket cấu bài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bao gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mơ hình nghiên cứu.
14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.
Cơ sở lý thuyết của nghiên cứu
Dựa theo đối tượng nghiên cứu là các “mối quan hệ xã hội” tác động đến việc tìm
kiếm việc làm của sinh viên hiện nay, đề tài tập trung trình bày các học thuyết quan trọng
với mối quan hệ xã hội của từng cá nhân. Có rất nhiều cơng trình nghiên cứu đã được
nghiên cứu và thực nghiệm về những học thuyết này như: thuyết chức năng về “vốn xã
hội”, lý thuyết nguồn lực xã hội, “thuyết mạng lưới xã hội”, ...
1.1.1.
Lý thuyết phân tích mạng lưới xã hội
Phan Thị Kim Dung (2016) đã chỉ ra rằng thuyết phân tích mạng lưới quan hệ xã hội
dựa trên điều kiện và sự kết nối giữa các “nút”. “Nút” là một mạng lưới xã hội hay còn gọi
là cấu trúc xã hội của một cá nhân hay một tổ chức được gắn kết với nhau hay phụ thuộc
lẫn nhau (VD: bạn bè, họ hàng, quan hệ trao đổi kinh tế.). “Nút” ở đây chính là các cá
nhân tham gia vào mạng lưới, còn sự kết nối giữa các nút chính là tần suất hay là sự liên hệ
giữa những các “nút” với nhau. Có nhiều loại kết nối giữa các nút tập hợp lại thành một
mạng xã hội chính là một bản đồ của tất cả các quan hệ giữa các nút với nhau nơi mà các
nút sẽ là các điểm cịn mối quan hệ chính là các dòng kết nối giữa các điểm với nhau 9 .
Hình 1: Sơ đồ mơ tả một mạng lưới của “Nút” (Phan Thị Kim Dung, 2016).
Nhìn vào sơ đồ trên ta có thể thấy được ở trong một mạng lưới thì các “nút” chính là
các điểm A,B,C,D,.và các đoạn thẳng như AB,AD,BE,. chính là nói đến các mối liên hệ
9
Phan Thị Kim Dung. (2016). Nghiên cứu mạng lưới xã hội dưới cách tiếp cận xã hội học. Tạp chí khoa
học TrườngĐH Quy Nhơn, ISSN: 1859-0357, tập 10, số 3, Tr 29-35
15
giữa các nút với nhau còn độ đậm nhạt của mũi tên chỉ sự liên kết đó là mạnh yếu của mối
liên hệ ấy. Giữa những các nút cần có sự tương, tác tin tương... .chia sẻ thông tin với nhau
thì sự liên kết của mạng lưới mới được củng cố bền chặt hơn.
Trong một hệ thống các mạng lưới thì các mạng lưới nhỏ thường có sự liên kết chặt
chẽ hơn giữa các thành viên nhưng đem lại lợi ích ít hơn so với các mạng lưới lớn, liên kết
lỏng lẻo. Tuy nhiên mạng lưới lớn thường có tính cơi mơ hơn. nhiều kết nối xã hội hơn sẽ
mang lại nhiều cơ hội mới hơn cho các thành viên hơn. Và khi một nhóm các cá nhân nếu
có mối liên hệ với một nhóm trong mạng lưới khác cũng sẽ đem lại nhiều cơ hội hơn cho
toàn bộ mạng lưới của họ.
1.1.2.
Lý thuyết về mạng lưới xã hội
Lý thuyết về mạng lưới xã hội là một vấn đề của phương pháp luận liên quan đến
các nghiên cứu về xã hội học, nhân khẩu học và nhiều chuyên ngành khoa học xã hội.
Người đầu tiên đã đặt nền móng cho chủ đề nghiên cứu mạng lưới xã hội là Sundt (1856)
trong cuộc nghiên cứu tổ chức xã hội của người nông dân trong cộng đồng. Sundt đã chỉ ra
rằng mối quan hệ giữa các gia đình được tạo nên thơng qua các dịp đặc biệt như: ma chay.
cưới hỏi.. .Bài nghiên cứu này chính là nền móng để cho các nhà khoa học xã hội khác như
Barnes. Wolf và George Simmel, Jacos Moreno. tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu.
Năm 1954, John A. Barnes lần đầu tiên công bố bài viết về thuyết mạng lưới xã hội
trên tạp chí “Quan hệ con người”. Những tư tương tiên phong liên tiếp xuất hiện trong triết
học xã hội của Georg Simmel (đầu thế kỷ XX). tư tương tâm lý xã hội của Moreno (đầu
những năm 30). nhân học cấu chức chức năng của Radcliffe Brown, nhân học cấu trúc của
Claude Levis-Strauss, ngôn ngữ học của Roman Jakobson và các lý thuyết toán học (đại số
tuyến tính, ma trận và các lý thuyết về đồ thị). Nghiên cứu mạng lưới hoàn chỉnh và dựa
vào lý thuyết về biểu đồ và ma trận để thể hiện và phân tích các dữ liệu về quan hệ nhằm
làm rõ các đặc tính cấu trúc mạng lưới. Đặc điểm về mặt cấu trúc của một mạng lưới xã hội
dựa trên các yếu tố: đặc điểm của mối quan hệ (loại tương tác) định hướng - không định
hướng. đối xứng - phi đối xứng, trực tiếp gián tiếp. tính đồng nhất: sự tương đồng về đặc
16
điểm giữa các nhân tố trong mối quan hệ, sức mạnh của các quan hệ, tần xuất tương tác
v.v.. và đặc điểm của cấu trúc: kiểu quan hệ, mật độ của các mạng lưới, khoảng cách giữa
các thành viên trong mạng lưới, các dạng thức tập trung, những lỗ hổng cấu trúc v.v...
Theo Fichter, J. H. (1957), iiMang lưới xã hội được hiểu là một cấu trúc xã hội hình
thành bởi những cá nhân hay tổ chức. Trong đó, các cá nhân thường được gắn kết bởi sự
phụ thuộc lẫn nhau thơng qua những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích, trao
đổi tài chính, quan hệ tình dục, mối quan hệ về niềm tin, kiến thức và uy tín. Những điểm
nút gắn kết cá nhân với xã hội chính là mối liên hệ xã hội của mỗi cá nhân. Trong đó, mạng
lưới xã hội cũng có thể được dùng như nguồn vốn xã hội và giá trị mà cá nhân có được
thơng qua nó ”. Fitchter đồng thời nhấn mạnh đến mạng lưới xã hội bao gồm nhiều mối
quan hệ đơi.
Mạng lưới xã hội có cấu trúc gồm các cá nhân hay tổ chức. Trong đó các cá nhân
được liên kết với nhau thông qua các mối quan hệ giữa người thân trong gia đình, hàng
xóm, bạn bè thân thiết, có sự trao đổi tài chính.dựa trên niềm tin, kiến thức và uy tín.
Fichter (1957) cho rằng mạng lưới xã hội gồm nhiều mối quan hệ hai hay ba và khơng ai
trong đó có mối liên kết với tất cả mọi người.
Cũng có quan điểm khác cho rằng mạng lưới xã hội bao gồm các mối quan hệ giữa
các thực thể xã hội. Nó bao gồm các nhóm xã hội, tổ chức, liên hiệp,... và cả các quốc gia.
Các mối quan hệ có thể mang nhiều nội dung thơng qua trao đổi hàng hóa, sự tương trợ,
trao đổi thông tin.. .Lê Minh Tiến (2006).
1.1.3.
Lý thuyết nguồn lực xã hội.
Vốn xã hội là một nguồn lực nằm trong mạng lưới quan hệ xã hội, Lin (1999) cho
rằng: “Một cá nhân khi tham gia vào một mạng lưới xã hội mà ở đó các thành viên của
mạng lưới đang sở hữu, kiểm soát nguồn lực cần thiết cho mục tiêu của cá nhân thì đó
chính là một nguồn lực xã hội”. Nguồn lực chính là bộ phận trung tâm của VXH, nó chỉ
“các đường dây” trong mạng lưới hay còn chỉ đến khối lượng và mức độ của các mối quan
hệ gồm các mạng lưới kết nối giữa con người với con người.
17
Vốn xã hội cấu trúc thể hiện mối liên hệ giữa các thành viên trong mạng lưới quan
hệ giúp cho việc hoạt động trao đổi, chia sẻ thông tin và ra quyết định nhanh chóng. Các
cấu trúc được đặt ra bằng những quy tắc, quy định và luật lệ. Đồng thời, nó cịn giúp thúc
đấy sự tương tác xã hội giữa các yếu tố với nhau.
Vốn xã hội tri nhân chỉ ra các nút trong mạng lưới như: các chuẩn mực, lịng tin,
trách nhiệm và sự kì vọng của mỗi cá nhân tham gia mạng lưới. Trong khi đó, lịng tin được
xem như là yếu tố quan trọng nhất của khía cạnh vốn xã hội tri nhân, nó thể hiện ở chỗ một
cá nhân họ cho rằng mình có thể tin tưởng vào người khác, tin vào những thông tin họ nhận
được khi tham gia mạng lưới (Putnam,1995; Fukuyama, 1995). Cơ bản nhất là lịng tin, nó
được thể hiện qua việc các cá nhân trong mạng lưới cho rằng có thể tin tưởng vào người
khác. Đây chính là một loại chất bơi trơn của những cuộc giao tiếp nó tạo nên lòng tin tổng
quát và lòng tin cụ thể với từng cá nhân trong vốn xã hội. Vì vậy vốn xã hội chỉ đầy đủ khi
bao gồm cả vốn xã hội cấu trúc và vốn xã hội tri nhận (Van Deth, 2008).
Hình 2: Các khía cạnh của vốn xã hội (Van Deth, 2008).
Trong nghiên cứu, các nhà khoa học thường chia vốn xã hội theo ba chức năng: liên
kết (bonding), bắc cầu (briding) và kết nối (linking):
Vốn xã hội liên kết thường tập trung tìm hiểu sự đồng nhất trong các mạng lưới xã
hội thông qua thành phần (compotision) và chức năng (funcition) của chúng. Nó ám chỉ
những mối liên hệ gần gũi, liên hệ mạnh liên kết với nhau như những mối liên hệ gần gũi
18
thân quen trong gia đình, bạn bè, hàng xóm...Ở đây, nó giúp liên kết những người có sự
tương đồng trong đặc điểm nhân loại học hình thể hay cùng cấp độ tài chính- xã hội với
nhau. Đây là một loại mạng lưới có tính hướng nội, liên kết chặt chẽ theo chiều sâu và
chiều ngang, củng cố thêm về sự đồng nhất và đặc trưng riêng của mạng lưới. Về mặt cấu
trúc đây là một loại mạng lưới đóng kín theo tổ chức phi chính thức; xét về mặt tri nhận đây
là mạng lưới gắn với lòng tin về kinh nghiệm, kiến thức của từng cá nhân. Mặt tích cực nó
giúp liên kết gắn bó tạo nên lịng tin giữa gia đình, hàng xóm, bạn bè.. .nhưng nó cùng tiềm
ẩn nguy cơ cho xã hội bởi khuyết điểm “siêu kết dính”, tạo sự kháng cự đối với những
thành viên khác nhóm, đồng thời cũng tạo áp lực, làm mất sự tự do trong mạng lưới (Portes,
1998).
Vốn xã hội bắc cầu chỉ những mối liên hệ giữa những người hay nhóm người khơng
cùng chung đặc trưng về nhân học hình thể nhưng lại có cùng cấp độ tài chính- xã hội như
nhau. Nó kết nối nhiều nhóm xã hội với nhau theo chiều ngang và ngược lại với sự loại trừ
những người ngồi nhóm như vốn xã hội liên kết. Nó kết nối cho nhưng mối quan hệ mới
như bạn bè mới quen, đồng nghiệp mới vào,...thúc đẩy sự kết nối với các nguồn lực bên
ngồi. Có thể nói “vốn xã hội bắc cầu” đã dẫn đến “lòng tin tổng quát” trong định nghĩa
vốn xã hội. Đa số các tổ chức đều có “lỗ hổng cấu trúc” trong các kênh kết nối với nhau,
những người có thể liên kết các lỗ hổng giữa các hội nhóm với nhau sẽ tích lũy thêm được
nhiều vốn xã hội (Burt 1992). So với vốn xã hội liên kết chỉ giúp các cá nhân tồn tại thì vốn
xã hội bắc cầu lại giúp cho các cá nhân phát triển tự do tích lũy vốn xã hội cho mình.
Khác với hai loại vốn xã hội trên, vốn xã hội kết nối thể hiện các mối liên hệ theo
chiều dọc. Nó ám chỉ các mối liên hệ giữa các tầng lớp khác nhau, điển hình là kiểu quan
hệ thứ bậc giữa những cá nhân với những người có cấp bậc cao hoặc thấp hơn (Szeter và
Woolcock, 2004). Nó chính là địn bẩy cho nguồn lực, ý tưởng và thơng tin từ các tổ chức
chính thức lan xa trong cộng đồng, rất quan trọng cho sự phát triển (Woolcock, 1998).
1.1.4.
Thuyết chức năng về “Vốn xã hội”
19
Vốn xã hội (Social Captial) được biết đến như là một loại vốn, bên cạnh nhiều loại
vốn khác như: vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn con người,...Trong đó, năm 1916, Lyda
Judson Hanifan được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm về vốn xã hội. Tác giả thông
qua vốn xã hội để chỉ tình thân hữu, mối quan hệ thông cảm lẫn nhau cũng như sự tương
tác giữa các cá nhân, gia đình hay tập thể xã hội. Đến năm 1960, Jane Jacobs có nhắc đến
lại khái niệm này trong nghiên cứu của mình (Smith & Kulynch, 2002: 153-154) 10. Nhưng
tới cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, Vốn xã hội (VXH) mới được biết đến và
sử dụng rộng rãi sau cơng trình nghiên cứu của James Coleman, Bourrdieu và Putnam.
Có rất nhiều những nhận định xoay quanh chủ đề ‘vốn xã hội” ở Châu Âu như:
“Vốn xã hội được định nghĩa bằng chức năng của nó. Nó khơng phải những thực thể riêng
lẻ mà là những thực thể đa dạng với hai thành tổ chung: chúng bao gồm một số khía cạnh
của cấu trúc xã hội và tất nhiên là chúng linh hoạt trong các hành động của các tác nhândù các cá nhân hoặc liên kết các tác nhân- trong cấu trúc đó. Cũng giống như các hình
thức khác của vốn, nhờ vốn xã hội mà có thể đạt được những mục tiêu cụ thể mà nếu khơng
có vốn xã hội thì khơng thể đạt được.” (Halpern, 2005:39)* 11 hay trong các nghiên cứu của:
Bourdieu, (1986)12; Coleman, 198813; Fukuyama, 200114, 200215; Lin, 199916, 200117;
Portes, 199818; Putnam, 199519, 200020 cũng nhận định những khái niệm khác nhau. Không
dựa vào cơ sở nghiên cứu lĩnh vực hẹp, James Coleman (1994:302) đã giải thích theo quan
10
Smith, S. S., & Kulynch, J. (2002). It May Be Social, but Why Is It Capital? The Social Construction of
Social
11
Capital
and the
Politics
of xã
Language.
Society,
30(1),
Hoàng
Bá Thịnh.
(2009).
Vốn
hội mạngPolitics
lưới xã&hội
và những
phí149-186.
tổn. Báo Xã hội học, số 1
12
Bourdieu, P. (1986). The Forms of Capital. In J. G. Richardson (Ed.), Handbook of Theory and Research for
the
Sociology of Education (pp. 241-258). New York: Greenwood.
13
Coleman, J. S. (1988). Social Capital in the Creation of Human-Capital. American Journal of Sociology, 94,
S95S120.
14
Fukuyama, F. (2001). Social Capital, Civil Society and Development. Third World Quarterly, 22(1), 7-20.
15
Fukuyama, F. (2002). Social Capital and Development: The Coming Agenda. SAISreview, 22(1), 23-38.
16
Lin, N. (1999). Building a Network Theory of Social Capital. Connections, 22(2), 28-51.
17
Lin, N. (2001). Social Capital: A Theory of Social Structure and Action. Cambridge: Cambridge University
Press.
18
Portes, A. (1998). Social Capital: Its Origins and Applications in Modern Sociology. Annual Review of
Sociology,
20
điểm, chức năng về vốn xã hội: “vốn xã hội là các nguồn lực cấu trúc xã hội mà cá nhân có
thể sử dụng như là nguồn vốn tài sản”.
Trong nghiên cứu của mình, Coleman (1994) chỉ ra một số điểm chủ yếu của vốn xã
hội như21 22:
-
“Lòng tin, sự kì vọng và trách nhiệm trong quan hệ xã hội, thơng qua đó mà hành
động dưới hình thái của vốn xã hội.”
-
“Các số liệu được thu thập và phát triển trong mối quan hệ giữa con người với
con người, từ đó hành động được thực hiện là hình thái của vốn xã hội.”
-
“Những chuẩn mực có hiệu lực trong xã hội mà nhờ nó những hành động được
phép thực hiện là hình thái của vốn xã hội, dưới hình thức là các chuẩn mực vốn xã
hội
có
thể khuyến khích hoặc ngăn chặn hành động. ”
-
“Quyền lực, uy tín cũng là một hình thái của vốn xã hội”. (Coleman, 1994: 306,
313)
Đối với từng nhà nghiên cứu về khái niệm và cách thức vận dụng vốn xã hội sẽ có
nhiều sự khác nhau, nhưng hầu hết điểm chung giữa các bài đều chỉ ra các đặc điểm về vốn
xã hội một cách rất chặt chẽ qua ba khía cạnh:
-
Các thành tố chính: các mạng lưới, chuẩn mực và sự tán thành
-
Phân tích dựa trên ba cấp độ: cấp độ cá nhân, trung gian, vĩ mô
-
Đặc trưng của vốn xã hội: sự liên kết, tính ràng buộc của các mối quan hệ
Vốn xã hội khơng phải là tài sản cá nhân, nó được hình thành và phát triển dựa trên
lòng tin, sự tin cậy,.. mức độ bền vững phụ vào số lần tương tác giữa các cá nhân hay tập
thể trong xã hội. Coleman tin rằng vốn xã hội rất hữu ích cho sự phát triển của con người
(Hoàng Bá Thịnh, 2003)22 và quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Do đó, ba
loại vốn chính được Coleman nhắc đến trong nghiên cứu của mình là: con người, vật chất
và xã hội.
21
Coleman, James. Cơ sở của Lý thuyết xã hội. Cambridge, MA: Belknap của Harvard UP. trang 30022
318.
Hoàng Bá Thịnh. (2008). Vốn xã hội và mạng lưới xã hội, Tạp chí Dân tộc học, số 5 (154).
21
Ngồi ra, VXH có giá trị sử dụng, nhưng nó là thứ không dễ trao đổi. Coleman
khám phá ý tưởng về vốn tương đối, tin rằng giá trị của vốn thực sự phụ thuộc vào môi
trường xã hội và cá nhân. Trong trường hợp đó, giá trị của vốn con người và vốn vật chất
cũng sẽ thay đổi ... Vì vậy, để VXH được duy trì và phát triển bền vững thì sự tương tác
hoặc sự liên hệ giữa các cá nhân, tập thể phải diễn ra thường xuyên, liên tục.
Tuy nhiên, ngoài việc tạo ra những giá trị của những yếu tố của mối quan hệ xã hội
thì vốn xã hội cũng mang lại một số bất cập như vốn xã hội là một thể khép kín ràng buộc,
nó gây hạn chế các mối quan hệ với những thành phần bên ngồi nhóm, làm giảm sự tự do
tự chủ của các cá nhân bên trong. Hầu hết các bộ phận trong vốn xã hội vẫn có quan niệm
rằng “một người làm quan cả họ được nhờ”, “chi bộ họ nhà ta”, chủ nghĩa cục bộ,.. .sự tin
tưởng gắn kết trong một nhóm quá lớn nó làm giảm đi sự tương tác với những mối liên hệ
bên ngồi nhóm và nếu như sự tin tưởng gắn kết ấy bị phá vỡ thì những thành phần trong
nhóm gần như là mất phương hướng trong việc xây dựng củng cố vốn xã hội cho mình.
Vốn xã hội khép kín cũng có nguy cơ tạo ra sự bình quan chủ nghĩa trong cách ứng xử với
con người.
1.1.5.
Lý thuyết “Sức mạnh của các mối quan hệ yếu”
Tại một số lĩnh vực có nhiều nghiên cứu cho thấy mạng lưới xã hội được chia thành
các cấp bậc khác nhau: từ mối liên hệ giữa những người thân trong gia đình đến những mối
liên hệ mang cấp quốc gia đóng vai trị điều hành tổ chức hay sự thành công của một cá
nhân tỏng việc đạt được mục đích đặt ra. Ở cấp độ đơn giản nhất mạng xã hội được nghiên
cứu qua cấu trúc bên trong, sự liên hệ tương tác giữa các thành viên với nhau còn ở mức độ
rộng hơn người ta lại quan tâm đến sự giao tiếp, hòa nhập xã hội của mạng lưới xã hội.
Theo Mark GranovetterY(1973), ông đã đi sâu vào phân tích ở cấp độ vi mơ từ sự
tin tưởng, tần suất, mật độ của các mối liên hệ thơng qua mối liên hệ mạnh yếu từ đó phân
tích sức mạnh của các mối liên hệ ấy theo 5 tiêu chí: độ dài của các mối quan hệ; cảm xúc,
tình cảm giữa các cá nhân; sự tin cậy ; sự hỗ trợ giữa các cá nhân; tính đa dạng về nội dung
của các quan hệ. Các tiêu chí này có thể hỗ trợ tương quan lẫn nhau hoặc độc lập.
22
Trên lý thuyết người ta thường hiểu sự liên hệ mạnh yếu thơng qua tần suất gặp gỡ,
cảm xúc tình cảm với nhau. Theo Mark GranovetterY thì sự kết nối mạnh chính là sự hiểu
biết giữa các cá nhân và sự liên hệ gắn kết chặt chẽ với cộng đồng hay quan hệ mạnh chính
là sự chiếm hữu phần lớn thời gian (như các mối quan hệ trong gia đình, người than, bạn
bè...). Nhưng nó cũng gây ra một số bất lợi khi đó là một mạng lưới khép kín hạn chế sự
tiếp xúc với các thực thể bên ngoài, làm giảm sự phong phú đa dạng trong các mối quan hệ
xã hội đó là một nhược điểm lớn.
Trái ngược với nó là sự kết nối yếu, đây chính là các mối quan hệ lỏng lẻo, ít thời
gian tiếp xúc của các thực thể và thể hiện nội dung, độ tin cậy và cảm xúc của cá nhân ít
hơn (những mối quan hệ chỉ dừng lại ở mức độ biết chứ không thân thiết.). Để xác định
mức độ kết nối giữa hai cá thể cần xác định mức độ gián tiếp thơng qua đó một trong hai
người có thể kết nối được với bao nhiêu cá thể bên ngoài xã hội. Dù kết nối lỏng lẻo nhưng
mang lại cho các thực thể nhiều thông tin mới mẻ, phong phú và thậm chí là giúp cá nhân
mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội của mình. Mạng lưới có quan hệ lỏng lẻo lại chính là
hướng quan hệ mở có lợi cho sự trao đổi thơng tin, tạo ra sự hịa nhập xã hội, phục vụ tốt
cho mục đích cá nhân và đó chính là “ hiệu ứng nhanh của các mối liên hệ yếu” mà Mark
Granovetter nhấn mạnh và quan tâm.23
Để xác định mức độ liên hệ mạnh hay yếu giữa các cá nhân hay nhóm, cộng đồng
phải căn cứ vào mức độ kết nối trao đổi thông tin gián tiếp của hai cá thể, thơng qua đó một
trong hai người có thể liên kết mở rộng thêm mạng lưới quan hệ với bên ngoài.
Điểm mạnh của những mối liên hệ yếu chính là phá vỡ yếu tố địa phương, mối quan
hệ khép kín hướng đến cá nhân, nhóm, cộng đồng và làm mở rộng thêm những mối quan hệ
bên ngoài.
Ngoài những mối liên hệ mạnh - yếu của MLXH, ta cần xem xét thêm các thành
phần cấu trúc liên mạng. Đầu tiên là các chủ thể quan hệ gồm những cá nhân, tổ chức, hiệp
hội.. .Trong đó, một hay nhiều mối quan hệ chủ thể liên kết với nhau được gọi là một nút và
23
Mark Granovetter. (1973). “The Strength of Weak Ties”, American Journal of Sociology, Vol.78.
23