Tải bản đầy đủ (.docx) (69 trang)

Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của khả năng chuyển đổi thanh khoản đến hệ số an toàn vốn CAR của các ngân hàng thương mại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (714.94 KB, 69 trang )


HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NĂM HỌC 2018 - 2019

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
KHẢ NĂNG CHUYỂN ĐỔI THANH KHOẢN ĐẾN HỆ SỐ
AN TOÀN VỐN CAR CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2019


HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NĂM HỌC 2018 - 2019

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA
KHẢ NĂNG CHUYỂN ĐỔI THANH KHOẢN ĐẾN HỆ SỐ
AN TOÀN VỐN CAR CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:

Lê Ngọc Minh Châu - K18NHB
18A4000096

Giáo viên hướng dẫn:


TS. Nguyễn Hồng Yến

HÀ NỘI - 2019


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
Tính cấp thiết của đề tài............................................................................................1
Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước..............................................................2
Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài................................................................................ 4
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................................5
Đóng góp mới của đề tài...........................................................................................6
Kết cấu của đề tài......................................................................................................6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHẢ NĂNG CHUYỂN
ĐỔI THANH KHOẢN ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CAR................................7
1.1. Vốn ngân hàng, an tồn vốn và tính đủ vốn của ngân hàng..........................7
1.2. Hệ số an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio)..........................................8
1.2.1. Sự ra đời và phát triển của hệ số an toàn vốn CAR................................ 9
1.2.2. Cách xác định hệ số an tồn vốn CAR..................................................10
1.2.3. Vai trị của hệ số CAR...........................................................................13
1.3. Khả năng chuyển đổi thanh khoản của ngân hàng......................................14
1.3.1. Khái niệm.............................................................................................. 14
1.3.2. Cách xác định khả năng chuyển đổi thanh khoản.................................15
1.3.3. Mối quan hệ giữa khả năng chuyển đổi thanh khoản ngân hàng và vốn
của
ngân hàng........................................................................................................ 17
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MƠ HÌNH LỰA CHỌN 21
2.1. Phạm vi đối tượng và thời gian.....................................................................21

2.2. Thu thập dữ liệu.............................................................................................21
2.3. Mơ hình nghiên cứu......................................................................................22


2.3.1. Mơ hình cơ sở...................................................................................... 22
2.3.2. Cách xác định các biến trong mơ hình................................................. 23
2.3.3. Mơ hình sử dụng trong nghiên cứu....................................................... 27
2.4. Thống kê mô tả các biến trong mơ hình.......................................................30
2.5. Phương pháp hồi quy sử dụng......................................................................33
2.6. Kiểm định các khuyết tật của mơ hình.........................................................34
2.6.1. Kiểm địnhhiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến trong mơ hình......34
2.6.2. Kiểm địnhhiện tượng tự tương quan giữa các biến trong mơ hình......35
2.6.3. Kiểm địnhhiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mơ hình.........35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN..........................36
3.1. Kết quả nghiên cứu.......................................................................................36
3.2. Thảo luận về kết quả hồi quy........................................................................38
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP CẢI THIỆN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CAR DựA
TRÊN HOẠT ĐỘNG CHUYỂN ĐỔI THANH KHOẢN..................................41
4.1. Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại....................................41
4.1.1. Nhóm giải pháp về cơ sở dữ liệu và thông tin......................................44
4.1.2. Nhóm giải pháp về cơng tác quản trị điều hành................................... 462
4.2. Nhóm giải pháp đối với các cơ quan chủ quản............................................414
4.2.1. Nhóm giải pháp tăng cường chức năng quản lý, giám sát của các cơ quan
chủ quản.......................................................................................................... 414
4.2.2. Nhóm giải pháp khác............................................................................ 426
4.3. Giới hạn của nghiên cứu & hướng gợi ý cho các nghiên cứu sau..............47
KẾT LUẬN...........................................................................................................48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



DANHDANH
MỤC CÁC
VIẾT TẮT
MỤCTỪ
BANG
Bảng 1.1: So sánh yêu cầu về hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR theo Basel I, II, III
Bảng 2.1: Phân chia mức độ thanh khoản tài sản và nguồn vốn trong ngân hàng
Bảng 2.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mơ hình (Lần 1)
Bảng 2.3: Tổng hợp các biến số trong mơ hình
Bảng 2.4: Thống kê mơ tả các biến trong mơ hình
Bảng 2.5: Hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến trong mơ hình
Bảng 2.6: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mơ hình (Lần 2)
Bảng 3.1: Kết quả hồi quy
Bảng 3.2: Tóm tắt kết quả mơ hình và so sánh với kỳ vọng
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa chuyển đổi thanh khoản và vốn ngân hàng theo giả thuyết
về sự hấp thụ rủi ro
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa chuyển đổi thanh khoản và vốn ngân hàng theo lý thuyết
về cấu trúc tài chính mong manh & sự lấn át tiền gửi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: “Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn trên tổng tiền gửi”, “Tỷ lệ tín dụng trung dài
hạn trên tổng dư nợ tín dụng” và “Khả năng chuyển đổi thanh khoản” của một số ngân
hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2018

ACB
BID

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt

Nam

CAR

Hệ số an toàn vốn Capital Adequacy Ratio

CTG

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam

CRSK

Tỷ lệ dự phịng rủi ro tín dụng

EIB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam

GDP

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế


INFL

Tỷ lệ lạm phát

MBB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội


MSB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Hàng Hải Việt Nam

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHTM

Ngân hàng thương mại

TCB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam

TCTD

Tổ chức tín dụng

TPB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên phong

ROA

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

ROE


Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

SHB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn - Hà Nội

STB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gịn Thương Tín

VCB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

VIB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam

VPB

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng



THƠNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Thơng tin chung:
- Tên đề tài: Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của khả năng chuyển đổi thanh
khoản đến hệ số an toàn vốn CAR của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Minh Châu

- Lớp: K18NHB
Khoa: Ngân hàng
Năm thứ: 4 Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hồng Yến
2. Mục tiêu đề tài: Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định và lượng hóa tác động
của khả năng chuyển đổi thanh khoản lên hệ số an toàn vốn của các Ngân hàng thương
mại Việt Nam, từ đó đưa ra các đề xuất nhằm cải thiện hệ số an tồn vốn CAR của
ngân hàng một cách bền vững.
3. Tính mới và sáng tạo:
Đề tài nghiên cứu và lượng hóa tác động của khả năng chuyển đổi thanh khoản của
ngân hàng - một hoạt động thường xuyên, cốt lõi trong hoạt động của ngân hàng, tuy
nhiên lại chưa được tìm hiểu phổ biến tại Việt Nam - đến hệ số an toàn vốn CAR của
ngân hàng.
4. Ket quả nghiên cứu:
Khả năng chuyển đổi thanh khoản có tác động ngược chiều đến hệ số an toàn vốn
CAR của ngân hàng thương mại Việt Nam.
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và
khả năng áp dụng của đề tài:
Đề tài đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện hệ số an toàn vốn CAR của ngân hàng
từ những hoạt động thường ngày, cốt lõi của ngân hàng chứ không chỉ nhấn mạnh vào
các phương án tăng vốn của ngân hàng.
6. Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp
chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu
có):


Ngày 20 tháng 5 năm 2019
Sinh viên chịu trách nhiệm chínhthực hiện đề tài
(ký và ghi rõ họ tên)


Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):

Ngày tháng năm
Người hướng dẫn
(ký và ghi rõ họ tên)


HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Lê Ngọc Minh Châu
Sinh ngày: 7 tháng 11 năm 1997
Nơi sinh: Hà Nội
Mã sinh viên: 18A4000096
hàng

Lớp: K18NHB

Khóa: 18

Khoa: Ngân

Địa chỉ liên hệ: 18H - Ngõ 6 - Bế Văn Đàn - P.Quang Trung - Q.Hà Đông - TP. HN
Điện thoại: 0948.178.187

Email:


II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
đang học):
* Năm thứ 1:
Ngành học: Ngân hàng thương mại

Khoa: Ngân hàng

Kết quả xếp loại học tập: Khá
Sơ lược thành tích:
*Năm thứ 2:
Ngành học: Ngân hàng thương mại

Khoa: Ngân hàng

Kết quả xếp loại học tập: Khá
Sơ lược thành tích:
*Năm thứ 3:
Ngành học: Ngân hàng thương mại
Kết quả xếp loại học tập: Khá
Sơ lược thành tích:
* Năm thứ 4:

Khoa: Ngân hàng


Ngành học: Ngân hàng thương mại
Khoa: Ngân hàng
Ket quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích: Top 1 Cuộc thi “ACBS Trade Pro 2018” khu vực Hà Nội, Top
16 Cuộc thi “Bản lĩnh Nhà đầu tư 2018”.


Ngày 20 tháng 5 năm 2019
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký và ghi rõ họ tên)


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các ngân hàng thương mại, với vai trò là trung gian tài chính, ln đóng một vị trí
quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế. Theo Incoom (1998), nền
kinh tế sẽ phát triển khi có một đơn vị đứng ra phân phối một cách hiệu quả các nguồn
tài nguyên nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức thặng dư với nhu cầu về tài nguyên của
các cá nhân, đơn vị thiếu hụt, đây cũng chính là bản chất của trung gian tài chính. Lý
thuyết hiện đại về trung gian tài chính cho rằng bản chất của các ngân hàng được thể
hiện qua hai chức năng chính của nó trong một nền kinh tế, cụ thể là: chuyển đổi rủi ro
và chuyển đổi thanh khoản (Berger & Bouwman, 2009). Với chức năng chuyển đổi rủi
ro, ngân hàng tiếp nhận nguồn tài chính từ các cá nhân, tổ chức không ưa rủi ro bằng
việc đưa ra các sản phẩm ngân hàng khơng có rủi ro hoặc rủi ro thấp cho họ; sau đó
ngân hàng dùng nguồn tài chính này để tài trợ, đầu tư vào các tài sản rủi ro hơn như
kinh doanh chứng khoán hay cho vay các cá nhân, tổ chức khác. Chức năng chuyển
đổi rủi ro của ngân hàng, dường như nhận được sự quan tâm nhiều hơn khi có rất
nhiều các nghiên cứu cả trong nước và quốc tế đều nghiên cứu về rủi ro, cụ thể hơn là
trọng số rủi ro đối với từng loại tài sản trong và ngoài bảng cân đối của ngân hàng.
Chức năng còn lại, chức năng chuyển đổi thanh khoản của ngân hàng được biết đến là
việc ngân hàng sử dụng các nguồn vốn có tính thanh khoản thấp để tài trợ cho các tài
sản có tính thanh khoản cao của mình. Ngược lại với chức năng chuyển đổi rủi ro,
chức năng chuyển đổi thanh khoản của ngân hàng lại ít được đề cập đến trong các
nghiên cứu hàn lâm, người ta thường tiếp cận thanh khoản của ngân hàng dưới khía
cạnh rủi ro thanh khoản, quản trị rủi ro thanh khoản, cịn với cách tiếp cận nhằm lượng

hóa khả năng chuyển đổi thanh khoản/tạo thanh khoản của ngân hàng cũng như nghiên
cứu tác động của việc tạo thanh khoản đến ngân hàng đặc biệt là các nghiên cứu về
khả năng tạo thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam lại càng hiếm hoi.
Việc thực hiện theo Hiệp ước vốn Basel II cũng như tuân thủ theo hệ số an toàn
vốn tối thiểu CAR (Capital Adequacy Ratio) đối với các ngân hàng thương mại Việt
Nam đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Ngân hàng Nhà nước đã chia ra hai lộ
trình trong việc áp dụng hệ số an toàn vốn CAR cho hệ thống ngân hàng thương mại,
trong đó: Đến cuối năm 2019 sẽ kết thúc lộ trình đầu tiên - thí điểm áp dụng với 10

1


NHTM được chọn, sau đó sẽ áp dụng Hiệp ước vốn Basel II cho tất cả các NHTM còn
lại trong hệ thống. Mặc dù trước đó đã được dời ngày kết thúc thí điểm, tuy nhiên đến
cuối năm 2018, thời gian kết thúc thí điểm chỉ cịn một năm, nhưng 10 NHTM được
chọn vẫn đang loay hoay với các phương án nâng hệ số an toàn vốn CAR và chỉ có 2
trên 10 NHTM đã đạt tiêu chuẩn. Là một trong hai chức năng chính của ngân hàng,
hơn nữa lại chứa đựng rủi ro khi dùng các nguồn vốn thanh khoản - nguồn vốn rất khó
để ước tính được khi nào khách hàng sẽ rút vốn khỏi ngân hàng - để đầu tư cho các tài
sản kém thanh khoản như các khoản đầu tư dài hạn, khả năng chuyển đổi thanh khoản
sẽ phần nào tác động đến hệ số an toàn vốn trong hoạt động của ngân hàng.
2. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
Trên thế giới, các đề tài đo lường và nghiên cứu tác động của “khả năng chuyển đổi
thanh khoản” ngân hàng đã được thực hiện khá nhiều, tuy nhiên phải kể đến hai
nghiên cứu điển hình, cung cấp phương pháp đo lường khả năng chuyển đổi thanh
khoản làm nền tảng phát triển các nghiên cứu khác, đó là cơng trình của các tác giả
Deep & Schaefer (2004) và Berger & Bouwman (2009). Deep và Schaefer là hai tác
giả đầu tiên đưa ra cách đo lường khả năng chuyển đổi thanh khoản của ngân hàng và
áp dụng tính tốn trên dữ liệu của 200 ngân hàng lớn nhất Hòa Kỳ từ năm 1997 đến
năm 2001. Trong đó, tác giả đo lường khả năng chuyển đổi thanh khoản của ngân

hàng bằng khái niệm “khoảng cách chuyển đổi thanh khoản” (LTG - Liquidity
Transformation Gap), là hiệu số giữa thanh khoản về nguồn vốn (liquid liabilities nguồn vốn có tính thanh khoản cao) và thanh khoản về tài sản (liquid assets - tài sản có
tính thanh khoản cao), với cách đánh giá rằng cách khoản tín dụng có kỳ hạn 1 năm trở
xuống là nguồn vốn thanh khoản và ngược lại, các khoản cho vay khách hàng có kỳ
hạn trên 1 năm được coi là kém thanh khoản. Nghiên cứu đã kết luận rằng LTG trung
bình của 200 ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ giai đoạn này vào khoảng 20% tổng tài sản
của ngân hàng, các ngân hàng dường như không tạo thanh khoản. Với việc đề cập đến
cả các tài sản ngồi bảng cân đối kế tốn của ngân hàng và chi tiết hơn trong việc phân
chia mức độ thanh khoản tài sản và nguồn vốn, Berger & Bouwman (2009) đã xây
dựng phương pháp đo lường khả năng chuyển đổi thanh khoản ngân hàng bằng cách
gắn trọng số dựa trên mức độ thanh khoản cho các loại tài sản và nguồn vốn của ngân
hàng. Cụ thể, tác giả đã đưa ra 4 phương pháp xác định mức độ thanh khoản của tài

2


sản và nguồn vốn ngân hàng là “cat fat”, “mat fat”, “cat nonfat” và “mat nonfat” (cat category - danh mục, mat - maturity - kỳ hạn thanh toán, fat - trong bảng cân đối kế
tốn, nonfat - ngồi bảng cân đối kế tốn), theo đó, các khoản tín dụng của ngân hàng
không chỉ được phân chia mức độ thanh khoản theo thời gian đáo hạn mà còn được
xác định dựa trên đặc điểm của khoản vay đó. Ví dụ, đối với phương pháp “cat fat”,
các khoản tín dụng cho các khách hàng tổ chức sẽ được xếp vào các tài sản kém thanh
khoản, vì theo tác giả, bất kể với kỳ hạn nào thì cũng rất khó để ngân hàng chuyển đổi
các khoản tín dụng cho các tổ chức thành tiền mặt; ngược lại, các khoản cho vay khách
hàng cá nhân, dù bất kể kỳ hạn nào cũng sẽ được xếp vào nhóm tài sản có tính thanh
khoản cao, là do tại Mỹ, các khoản tín dụng các nhân có thể dễ dàng được chứng
khốn hóa và bán ra thị trường, chuyển đổi thành tiền cho ngân hàng. Nghiên cứu đã
áp dụng trên dữ liệu của các ngân hàng Hoa Kỳ từ năm 1993 đến năm 2003 và đã chỉ
ra rằng các ngân hàng này đã tạo ra lượng thanh khoản gần gấp đôi trong thời gian
này, và năm 2003, lượng thanh khoản được tạo ra bằng 39% tổng tài sản của ngân
hàng và gấp 4,56 lần vốn chủ sở hữu, hàm ý rằng hệ thống ngân hàng đã tạo ra 4,56

đồng thanh khoản trên 1 đồng vốn chủ sở hữu.
Alhassan (2017) đã dựa trên phương pháp đo lường của Deep & Schaefer (2004) và
Berger & Bouwman (2009), sử dụng phương pháp hồi quy GMM (Generalized
Method of Moments) để xác định tác động của khả năng chuyển đổi thanh khoản đến
hệ số an toàn CAR của 20 ngân hàng tại Ghana giai đoạn 2006 - 2015. Sử dụng một
số biến kiểm sốt gồm: (i) Quy mơ ngân hàng SIZE, (ii) Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
ROA, (iii) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE, (iv) Tỷ lệ dự phịng rủi ro tín
dụng CRSK, (v) Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế GDP, (vi) Tỷ lệ lạm phát INFL, nghiên cứu
kết luận rằng khả năng chuyển đổi thanh khoản của các ngân hàng tại Ghana có mối
tương quan cùng chiều với hệ số an toàn vốn CAR, các ngân hàng thường tăng dự trữ
vốn tỷ lệ với mức chuyển đổi thanh khoản tăng lên, nhằm hấp thụ rủi ro thanh khoản
từ hoạt động này gây ra và đảm bảo khả năng thanh toán.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu hàn lâm định lượng khả năng chuyển đổi thanh
khoản của ngân hàng là vơ cùng ít, có thể kể đến 2 nghiên cứu gần đây của Vũ Hữu
Thành & các cộng sự (2016) và nghiên cứu của TS. Lê Đức Quang Tú (2019) về mối
tương quan giữa khả năng chuyển đổi thanh khoản và vốn ngân hàng. Đều phân chia

3


mức độ thanh khoản của tài sản và nguồn vốn dựa trên phương pháp của Berger &
Bouwman (2009), phương pháp hồi quy được sử dụng lần lượt là GMM (Generalized
Method of Moments) và Three-Stage Least Squares (3SLS), hai nghiên cứu trên đều
cho ra kết luận rằng khả năng chuyển đổi thanh khoản và vốn ngân hàng có mối tương
quan ngược chiều, trong đó vốn ngân hàng tác động đến 30% sự biến thiên của khả
năng chuyển đổi thanh khoản, trong khi ở chiều ngược lại, khả năng chuyển đổi thanh
khoản chỉ giải thích được 4% sự biến thiên của vốn ngân hàng. TS. Lê Đức Quang Tú
cũng kết luận rằng, các ngân hàng lớn tạo ra đến 92% thanh khoản trong cả hệ thống
ngân hàng giai đoạn 2007 - 2015.
Khoảng trống nghiên cứu: Các nghiên cứu về mối tương quan giữa khả năng

chuyển đổi thanh khoản và vốn ngân hàng đã có, tuy nhiên, nghiên cứu về tác động
của khả năng chuyển đổi thanh khoản lên hệ số an toàn vốn CAR của ngân hàng lại
chưa được thực hiện tại Việt Nam, trong khi việc tạo thanh khoản của ngân hàng
khơng chỉ tác động đến vốn ngân hàng mà cịn tác động đến tài sản có rủi ro của ngân
hàng (các tài khoản kém thanh khoản thường đi kèm với rủi ro cao). Hoạt động chuyển
đổi thanh khoản là một trong hai hoạt động cốt lõi của ngân hàng bên cạnh hoạt động
rủi ro, do vậy, phần nào cũng sẽ có tác động đến hệ số an tồn vốn CAR - hệ số đo
lường sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng.
Với tính cấp thiết của nghiên cứu như đã đề cập và khoảng trống nghiên cứu đã chỉ
ra, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của khả
năng chuyển đổi thanh khoản đến hệ số an toàn vốn CAR của các NHTM Việt
Nam ” làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình với hy vọng chỉ ra những bằng chứng
thực nghiệm về tác động của khả năng chuyển đổi thanh khoản đến hệ số an toàn vốn
CAR nhằm cải thiện hệ số an tồn vốn CAR thơng qua quản lý hoạt động chuyển đổi
thanh khoản tại các NHTM Việt Nam.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
-I- Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định và lượng hóa tác động của khả năng
chuyển đổi thanh khoản lên hệ số an toàn vốn của các Ngân hàng thương mại Việt

4


Nam, từ đó đưa ra các đề xuất nhằm cải thiện hệ số an toàn vốn CAR của ngân hàng
một cách bền vững.

-I- Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện một số nhiệm vụ sau:



Hệ thống hóa các lý luận liên quan đến “khả năng chuyển đổi thanh khoản” và hệ
số an tồn vốn CAR của ngân hàng.



Lượng hóa tác động của khả năng chuyển đổi thanh khoản đến hệ số an toàn vốn
CAR tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Xây dựng và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động chuyển đổi thanh khoản của các
ngân hàng từ đó cải thiện hệ số an toàn vốn CAR của các ngân hàng thương mại tại
Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu


-I- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hệ số an toàn vốn CAR của các ngân hàng thương mại
Việt Nam và khả năng chuyển đổi thanh khoản của ngân hàng.

-I- Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu của đề tài là giai đoạn 2012 - 2018, là
khoảng thời gian diễn ra các cột mốc quan trọng như việc Ngân hàng Nhà nước ban
hành và áp dụng Thông tư 36/2014/TT-NHNN với hướng dẫn về 6 tỷ lệ bảo đảm an
toàn theo quy định tại Luật các TCTD, bao gồm giới hạn cấp tín dụng, các tỷ lệ về an
toàn vốn tối thiểu; tỷ lệ khả năng chi trả, dự trữ thanh khoản; tỷ lệ tối đa của nguồn
vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn; tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần
và tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi và thời gian thí điểm Hiệp ước vốn
Basel II với 10 ngân hàng thương mại được chọn, làm tiền đề cho giai đoạn 2 của quy
trình áp dụng Hiệp ước vốn Basel II theo quy định tại Thơng tư 41/2016/TT-NHNN
đối với tồn bộ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
Phạm vi không gian: Gồm 13 ngân hàng TMCP chiếm gần 70% quy mô tổng tài

sản của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tính đến cuối năm 2018, trong đó

5


gồm 10 ngân hàng TMCP được Ngân hàng Nhà nước lựa chọn thí điểm thực hiện
phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II, bao gồm:


Ngân hàng Thương mại Cổphần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Ngoại thương Việt Nam (VCB)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Cơng thương Việt Nam (CTG)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Quân Đội (MBBank)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Á Châu (ACB)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Quốc tế Việt Nam (VIB)




Ngân hàng Thương mại Cổphần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Sài Gịn Thương Tín (Sacombank)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Sài Gịn - Hà Nội (SHB)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank)



Ngân hàng Thương mại Cổphần Tiên phong (TPBank)

5. Đóng góp mới của đề tài

về mặt lý luận, đề tài tiếp cận một cách rõ ràng và có hệ thống về khả năng chuyển
đổi thanh khoản của ngân hàng, đây là một hoạt động thường xuyên, cốt lõi trong hoạt
động của ngân hàng, tuy nhiên lại chưa được tìm hiểu phổ biến tại Việt Nam. Bên
cạnh đó, đề tài cũng lượng hóa tác động của khả năng chuyển đổi thanh khoản và một
số yếu tố nội sinh đến hệ số an toàn vốn CAR của ngân hàng.
về mặt thực tiễn, đề tài đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện hệ số an toàn vốn
CAR của ngân hàng từ những hoạt động thường ngày, cốt lõi của ngân hàng chứ
không chỉ nhấn mạnh vào các phương án tăng vốn của ngân hàng.
6. Ket cấu của đề tài
Bên cạnh phần mở đầu, kết luận và phụ lục thì kết cấu của đề tài gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của khả năng chuyển đổi thanh khoản đến hệ số
an toàn vốn CAR.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và mơ hình lựa chọn.

6


Chương 3: Ket quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 4: Giải pháp cải thiện hệ số an toàn vốn CAR dựa trên hoạt động chuyển đổi
thanh khoản.

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KHẢ NĂNG
CHUYỂN ĐỔI THANH KHOẢN ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN CAR
1.1. Vốn ngân hàng, an tồn vốn và tính đủ vốn của ngân hàng
Vốn ngân hàng là vốn đóng góp của các cổ đơng - nhà đầu tư trong cổ phiếu phổ
thông và ưu đãi mà một ngân hàng đã ban hành (Rose và Hudgins, 2014). Theo như
Casu và cộng sự (2015), vốn của ngân hàng được hiểu là giá trị tài sản ròng (sự chênh
lệch giữa tổng tài sản và tổng số nợ phải trả). “Vốn là điều kiện tiên quyết trong hoạt
động của ngân hàng, đồng thời là yếu tố tạo nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của

ngân hàng trên thị trường. Vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với
việc thực hiện các chức năng của ngân hàng trên thị trường trong nước cũng như để
vươn ra thị trường thế giới. Vốn là yêu cầu quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên
quyết để cấp phép cho một ngân hàng thành lập và đi vào hoạt động, đảm bảo khả
năng tồn tại và phát triển của ngân hàng đó” (Nguyệt Anh, 2011).
Theo Ahmad, R., Ariff, M. & Skully, M. (2008), trong một môi trường không được
kiểm sốt (khơng có bảo lãnh của chính phủ hoặc quy định về vốn), các ngân hàng vẫn
sẽ nắm giữ vốn vì thị trường yêu cầu các ngân hàng phải làm như vậy. Berger &
Herring (1995) định nghĩa điều này là yêu cầu về vốn của thị trường, cụ thể là yêu cầu
đáp ứng thanh khoản khi người gửi tiền đến ngân hàng để rút tiền. Lượng vốn này,
hoạt động như một tấm đệm để hấp thụ những tổn thất bất ngờ xảy ra. Khi tổn thất
vượt quá mức chịu đựng của “vốn đệm”, rủi ro sẽ xảy ra. Tương tự, theo Masood &
Ansari (2016), sự tồn tại của các ngân hàng nằm ở khả năng duy trì đủ vốn để hoạt
động trong tình huống xấu nhất - thời gian xảy ra khủng hoảng thanh khoản. Vì rủi ro
của ngân hàng có tính dây chuyền, chỉ cần một ngân hàng gặp phải rủi ro, ngay lập
tức, cả hệ thống ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng. Friedman và Schwart (1963) kết
luận rằng khủng hoảng ngân hàng là nguyên nhân gây nên khủng hoảng tài chính. Vì
7


vậy, để bảo vệ người gửi tiền và tránh sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng, các cơ quan
giám sát đã tập trung vào việc sử dụng tỷ lệ an toàn vốn CAR (Capital Adequacy
Ratio) theo các tiêu chuẩn Basel nhằm thúc đẩy sự ổn định và hiệu quả của hệ thống
tài chính (Casu và cộng sự, 2015). Mức độ đủ vốn đã trở thành tiêu chuẩn giám sát,
một yếu tố chính để đánh giá sự ổn định và minh bạch của hệ thống, giúp tạo đệm cho
các ngân hàng chống lại các cú sốc tài chính; bảo vệ người gửi tiền và bản thân ngân
hàng (Jeff, 1990; Hoggarth và cộng sự, 2002).
Theo Ebhodaghe (1991), an toàn vốn là việc ngân hàng điều chỉnh vốn đủ để sau
khi hấp thụ tất cả các khoản lỗ, tài trợ cho tài sản cố định của ngân hàng vẫn còn lại
một lượng vốn để duy trì hoạt động hiện tại và mở rộng hoạt động kinh doanh trong

tương lai cho ngân hàng. Trong thực tế, mức độ đủ vốn được coi là lượng vốn đủ để có
thể bảo vệ hiệu quả hoạt động ngân hàng bằng cách hấp thụ những rủi ro, thua lỗ.
Mức độ đủ vốn, theo Hiệp ước Basel, là số vốn liên quan đến tài sản và khoản vay
của một tổ chức tài chính, phụ thuộc vào quy mơ và chất lượng của tài sản (Casu và
cộng sự, 2015). Các ngân hàng đo lường mức độ rủi ro thông qua các tài sản có rủi ro
(RWA) (BIS, 1999). Cụ thể, mức độ đủ vốn được đo bằng cách sử dụng phương pháp
trọng số rủi ro, trong đó vốn liên quan đến các nhóm tài sản có và cam kết ngoại bảng
khác nhau nhân với các hệ số rủi ro tương ứng. Ngân hàng được coi là đủ vốn khi đáp
ứng được hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR được đề ra - nói cách khác là có đủ lượng
vốn để có thể bù đắp cho những rủi ro phát sinh từ các tài sản được đề cập ở trên. Các
ngân hàng có nhiều khả năng đổ vỡ nếu họ có mức độ an tồn vốn thấp hơn và việc
giảm vốn liên quan đến tài sản báo hiệu cho sự suy thối tài chính của ngân hàng
(Mayes & Stremmel, 2012). Khi duy trì được hệ số CAR cao hơn có nghĩa là ngân
hàng có khả năng hấp thụ rủi ro tốt hơn, hoạt động kinh doanh lành mạnh và vững
chắc hơn, tỷ lệ này chỉ ra rằng ngân hàng có thể mất tới một tỷ lệ phần trăm nhất định
tài sản mà khơng bị phá sản. Ln có một ngưỡng cho sự an toàn vốn ngân hàng được
quy định ở mỗi quốc gia, nếu hệ số CAR ở dưới ngưỡng này, ngân hàng được cho là
“không đủ vốn” và dễ bị mất khả năng thanh toán. Việc quy định tỷ lệ an toàn vốn tối
thiểu thúc đẩy hiệu quả và sự ổn định của hệ thống tài chính bằng cách giảm xác suất
mất khả năng thanh toán của ngân hàng (Bateni, Vakilifard & Asghari, 2014).
1.2. Hệ số an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio)

8


1.2.1. Sự ra đời và phát triển của hệ số an toàn vốn CAR
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng - Basel Committee on Banking Supervisor
(viết tắt là BCBS) được thành lập năm 1974 bởi các Ngân hàng trung ương và các cơ
quan giám sát của nhóm 10 nước phát triển (G10) với mục tiêu thiết lập ra các tiêu
chuẩn chung trong hoạt động quản lý và giám sát ngân hàng nhằm nâng cao chất

lượng hoạt động cũng như ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trên toàn thế
giới.
Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I lần đầu được BCBS
ban hành năm 1988, có hiệu lực vào năm 1992 cung cấp khung đo lường rủi ro tín
dụng với hệ số an tồn vốn tối thiểu CAR (Capital Adequacy Ratio) là 8%. Theo Basel
I, CAR sẽ được tính bằng tỷ lệ giữa vốn tự có và tài sản có rủi ro tính theo trọng số rủi
ro (chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng). Trọng số rủi ro được Basel I đưa ra hết sức đơn
giản, gồm 4 mức: 0%, 20%, 50% và 100%. Cụ thể, các khoản tín dụng của quốc gia sẽ
có trọng số rủi ro 0%, các khoản tín dụng của các tổ chức tín dụng khác có trọng số
20%, ..., khoản tín dụng của doanh nghiệp sẽ có trọng số là 100%. Chính cách chia
trọng số rủi ro như vậy đã tạo nên nhược điểm lớn nhất của Hiệp ước vốn này, chính là
quy điịnh này khơng đủ nhạy cảm với rủi ro, không phân biệt được các loại rủi ro đặc
thù. Ví dụ tất cả các khoản vay của khu vực tư nhân đều được gắn trọng số 100%, cho
dù đó là khoản vay của một cơng ty nổi tiếng với xếp hạng tín dụng AAA hoặc của
một doanh nghiệp địa phương khơng có tên tuổi với xếp hạng tín dụng ở mức B. Theo
đó, ngân hàng có mức vốn tốt nhất là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốn thích hợp
khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% và thiếu vốn
trầm trọng khi CAR < 2% (SBV).
Ra đời ngày 26/6/2004 và có hiệu lực vào năm 2007, Basel II được giới thiệu khắc
phục những hạn chế của Basel I và nhằm nâng cao kỷ luật và tính lành mạnh của hệ
thống ngân hàng quốc tế với 3 trụ cột chính. Trong đó, quy định về hệ số an toàn vốn
CAR tối thiểu vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro tính theo trọng số rủi ro như Basel I,
nhưng không chỉ là rủi ro tín dụng mà rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường cũng được
đề cập ở Basel II. Trọng số rủi ro cũng được chia thành nhiều mức độ hơn (từ 0% đến
150%), phức tạp hơn theo mức độ nhạy cảm của tài sản trước các rủi ro.

9


Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu năm 2008 lại một lần nữa khiến

BCBS nhận ra những "lỗ hổng" của Basel II dù từng được coi là một cơ chế quan
trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố tồn bộ cơng tác điều hành trong lĩnh vực tài
chính. Ngay lập tức, hai năm sau, BCBS đã đạt được thỏa thuận nhằm khép các ngân
hàng vào những tiêu chuẩn ngặt nghèo hơn bằng hiệp ước Basel III. Basel III đề ra
nhiều đề xuất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh khoản để củng cố
các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của lĩnh vực ngân hàng. Các tiêu chuẩn vốn và
vùng đệm vốn mới sẽ đòi hỏi các ngân hàng phải giữ vốn nhiều hơn và chất lượng vốn
cao hơn so với quy định của Basel II. Yêu cầu về hệ số an tồn vốn tối thiểu CAR cao
hơn thơng qua quy định về địn bẩy và tỷ lệ tính thanh khoản mới, nhằm đảm bảo duy
trì hoạt động cho cơ sở tài chính trong trường hợp xảy ra cú sốc tài chính.
1.2.2. Cách xác định hệ số an tồn vốn CAR

-I- Cách xác định hệ số an toàn vốn CAR theo Hiệp ước Basel I
Ban hành năm 1988 và có hiệu lực vào năm 1992, Hiệp ước vốn Basel I lần đầu
tiên đưa ra khung đo lường rủi ro tín dụng với hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR
(Capital Adequacy Ratio) là 8%. Hệ số này được xác định như sau:
Von ngân hàng
Hệ so an toàn von CAR = ■■■«
.,.
. „„
Tong tài sản có rủi ro
Trong đó, vốn được chia làm 3 cấp:
Vốn cấp 1: là vốn sẵn có chắc chắn và các khoản dự phịng được cơng bố gồm: vốn
chủ sở hữu vĩnh viễn (vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần phổ thông), vốn dự trữ đã công bố
(lợi nhuận khơng chia); lợi ích thiểu số (minorrity interest) tại các cơng ty con có hợp
nhất báo cáo tài chính; lợi thế kinh doanh (Goodwill).
Vốn cấp 2: là nguồn vốn bổ sung có độ tin cậy thấp hơn như: vốn tăng do đánh giá lại
tài sản, các khoản dự phịng tổn thất chung, vốn bổ sung từ các cơng cụ nợ hỗn hợp
(trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp), đầu tư tài chính
vào các cơng ty con và các tổ chức tài chính khác.

Vốn cấp 3: là các khoản vay ngắn hạn.

10


Rõ ràng, khả năng chủ động trong việc sử dụng các nguồn vốn nói trên để ứng phó với
rủi ro giảm dần từ vốn cấp 1 đến vốn cấp 3, trong đó, độ tin cậy của vốn cấp 3 với việc
ứng phó rủi ro là thấp nhất. Chính vì vậy, Basel 1 đặt ra tiêu chuẩn quy định:
Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
Cũng vì vốn cấp 3 là vốn có độ tin cậy thấp nhất nên khi xác định tỷ lệ an toàn vốn
(CAR) thường chỉ xét đến vốn cấp 1 và vốn cấp 2.
Ve hệ số rủi ro của tài sản, Basel 1 đưa ra 4 mức rủi ro cho các loại tài sản là 0%, 20%,
50% và 100% tương ứng với các khoản cho vay chính phủ, ngân hàng hay doanh
nghiệp. Với quy định như vậy, có thể thấy Basel 1 đo lường rủi ro một cách cào bằng
và khá sơ sài vì tỷ lệ rủi ro này không phụ thuộc vào quy mơ vốn vay, hệ số tín nhiệm
của khách hàng vay.
-I- Cách xác định hệ số an toàn vốn CAR theo Hiệp ước Basel II
Theo Hiệp ước vốn Basel II, hệ số an toàn vốn CAR được xác định như sau:

Hệ số CAR = R

^^

A

Rủi ro tín dụng

Vốn ngân hàng
x
5 + (K

x
Rủi ro hoạt động 12t )
Rủi ro thị trường 12,5)

+ (K

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được quy định vẫn là 8%, và cách xác định vốn cấp
1, cấp 2 và cấp 3 của hệ số CAR vẫn được giữ nguyên. Sự hoàn thiện và bổ sung hệ số
CAR tại Basel II được thể hiện ở mẫu số được bổ sung thêm rủi ro hoạt động và rủi ro
thị trường, bên cạnh đó, cách xác định rủi ro tín dụng của tài sản có cũng được bổ sung
và chuẩn hóa hơn, cụ thể như sau:
Thay vì quy định hệ số rủi ro từ 0% - 100% và ưu đãi hơn với các nước thuộc
OECD, Basel 2 quy định hệ số rủi ro từ 0% - 150% và khơng cịn đặc quyền nào với
các nước OECD. Bên cạnh đó, hệ số rủi ro không áp dụng cứng nhắc như quy định của
Basel 1 mà được chi tiết theo độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại và phụ thuộc vào hệ số
tín nhiệm của các đối tượng. Ngồi ra, theo Basel 2, mẫu số của cơng thức tính hệ số
an toàn vốn CAR sẽ bao gồm 2 phần: tổng tài sản đã điều chỉnh theo hệ số rủi ro tín
dụng cộng với 12,5 lần tổng vốn quy định cho dự phòng rủi ro thị trường và rủi ro hoạt
động. Điều đó có nghĩa là các ngân hàng phải cần nhiều vốn tự có hơn để thoả mãn tỷ
lệ tối thiểu 8%.

11


-I- Cách xác định hệ số an toàn vốn CAR theo Hiệp ước Basel II
mức 7%. Bên cạnh đó, có thể một số khoản trước
đây
được
tính
vào

Tấm
nệm
đảm
bảo
anvốn chủ sở hữu
u
cầu
vốn
nay phải
bóc
tách
ra

khơng
đủ
điều
kiện
coi

vốn
chủ
sở
hữu.
Chẳng
Một lần nữa, Ủy ban vốn ngân hàng Basel lại thơng
quavĩphiên
củakhoản
Hiệp
tồn
mơ bản thứ 3hạn,

vốn
vượt
q
giới
hạn
15%
đầu

vào
các
tổ
chức
tài
chính
khác,
khoản
vốn

nguồn
ước vốn Basel (Basel III) năm 2010 nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính tồn cầu.
gốc
số thuế
thuchính
nhậpcủa
lưuBasel
kỳ (hỗn
lại)...
Vì thế, yêu cầu nâng cao tỷ lệ vốn chủ sở
Nội từ
dung

sửa đổi
III bao
gồm:
hữu là bài tốn khơng đơn giản đối với nhiều ngân hàng xét trong bối cảnh kinh tế xã
• Nâng
tỷ nhiều
lệ vốnbiến
chủ động”.
sở hữu tối thiểu (cổ phần phổ thơng) từ 2% lên 4,5%.
hội
đang có


Nâng tỷ
lệ So
vốnsánh
cấp u
1 tốicầu
thiểu
lêntoàn
6%.vốn tối thiểu CAR theo Basel I, II, III
Bảng
1.1:
về từ
hệ 4%
số an



Bổ sung phần vốn đệm dự phịng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%.


Ve cơ bản, công thức xác định theo công thức tổng quát như sau:
Von ngân hàng
Hệ so an tồn von CAR = ■■■«
.,.
. „„
Tong tài sản có rủi ro
Tuy nhiên, sẽ có một số điểm khác biệt và nâng cao về cách xác định hệ số an
toàn vốn CAR của Hiệp ước vốn Basel III so với Hiệp ước vốn Bassel II như sau:
Thứ nhất, vốn ngân hàng được bổ sung thêm một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự
suy giảm theo chu kỳ kinh tế, được thiết lập với tỷ lệ từ 0 - 2,5% và phải được đảm
bảo bằng vốn chủ sở hữu phổ thơng (common equity). Phần vốn dự phịng này chỉ địi
hỏi trong trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao
trong hoạt động tín dụng một cách có hệ thống. Ngoại trừ khoản vốn đệm phịng ngừa
rủi ro tài chính này thì tiêu chuẩn an tồn vốn tối thiểu tại Basel III vẫn là 8%.
Thứ hai, Basel III đã đưa ra các biện pháp rà soát lại các tiêu chuẩn (định nghĩa)
vốn cấp 1, vốn cấp 2, loại bỏ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn khi giám sát và thay
đổi kết cấu của các loại vốn. Cụ thể: vốn cấp 3 được loại bỏ coi như một thành phần
vốn ban đầu được dành để trang trải rủi ro thị trường; vốn cấp 1 thì được tăng cường
và được mở rộng thành hai phần là vốn cấp 1 thông thường và vốn cấp 1 bổ sung.
Theo các giới hạn quy định, phần chung vốn cấp 1 không được giảm xuống dưới 4,5%
RWA, tỷ lệ tổng vốn cấp 1 không giảm xuống dưới 6% của RWA và những phần vốn
cấp 1 và cấp 2 không được phá vỡ các rào cản là 8%. “Nếu tính đầy đủ cả 2 khoản
vốn đệm dự phịng suy giảm tài chính và dự phịng chống hiệu ứng chu kỳ kinh tế thì
tỷ lệ vốn chủ sở hữu được điều chỉnh tăng từ 2% (Basel II) tăng lên thành 9,5% (4,5%
+ 2,5% + 2,5%) ở Basel III. Nếu loại trừ phần vốn đệm chống chu kỳ kinh tế 2,5%
(khơng bắt buộc trong điều kiện bình thường) thì mức tối thiểu vốn chủ cũng phải đạt

12



Vốn cấp 1

Tổng
vốn

Tấm nệm chống rủi ro
chu kỳ

Yêu Thấp Yêu
cầu nhất cầu

Thấp
nhất

Khoảng

Vốn chủ sở hữu chung
Thấp Tấm nệm
nhất
dự trữ
Basel I

-

-

-

4


-

8

-

Basel II

2

-

-

4

-

8

-

Basel III

4,5

21

7


6

8,5

10,

0-25

5
Các loại rủi ro được phản ánh
Basel I

Basel II

Basel III
Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng
Rủi ro thị trường

Rủi ro tín dụng

Rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường

Rủi ro hoạt động

Rủi ro hoạt động


Rủi ro thanh khoản
Rủi ro chu kỳ phản ứng


×