HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
—^^^⅛ £3 ^&^&—
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
NĂM HỌC 2019 - 2020
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG
NGOẠI BẢNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
1. Thông tin chung
—^^^⅛
£3 ngoại
^&^&—bảng đến hoạt động kinh doanh
- Tên đề tài: Nghiên cứu tác động của
hoạt động
của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Sinh viên thực hiện:
* ∣Nti
4 lf
STT
1
2
3
4
Họ và tên
Lớp
Thân Thị Hạ
K20NHA
Năm thứ
Số năm đào tạo
DỰ THI CẤP HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Hoàng Minh Đức
Lại Thu Hằng
Khoa
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Ngân hàng 3
NĂM HỌC 2019 - 2020
4
K20NHA
Ngân hàng 3
4
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG
K20TCM
Tài chính 3
4
NGOẠI BẢNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CÁC NGÂN Kế
HÀNG
MẠI
Nguyễn Thị Lý CỦA K21KTDN
toán THƯƠNG
2
4 VIỆT NAM
A
Sinh viên thực hiện: Thân Thị Hạ - K20NHA - 20A4010181
Hoàng Minh Đức - K20NHA - 20A4010109
Lại Thu Hằng - K20TCM - 20A4010865
Nguyễn Thị Lý - K21KTDNA - 21A4020352
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Viện NCKH Ngân
hàng
-
Người hướng dẫn: PGS. TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Viện NCKH Ngân hàng
2. Mục tiêu đề tài
-
Mục tiêu tổng quát của đề tài nghiên cứu đó là đánh giá tác động của hoạt động
ngoại bảng đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
-
Nhiệm vụ cụ thể:
+ Tổng quan lại những vấn đề lí thuyết cơ bản về hoạt động ngoại bảng trong lĩnh
vực kinh doanh ngân hàng, từ đó nêu ra được những tác động của hoạt động này đến
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
+ Làm rõ thực trạng tác động của hoạt động ngoại bảng đối với hoạt động kinh
doanh của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
+ Ứng dụng một số mơ hình kinh tế lượng để phân tích, đánh giá tác động của hoạt
động ngoại bảng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
+ Đề xuất
số khuyến
nghị,
sách
nhằmra,cải
thiện,
vấn
đề
NHTM
sẽ thumột
được
các khoản
phíchính
thủ tục.
Ngồi
các
ngânkhắc
hàngphục
cũngnhững
thu hút
được
hạn chế
trong
triểncóhoạt
bảng đến hoạt động kinh doanh của
một
khoản
tiềnviệc
kháphát
lớn khi
hoạtđộng
độngngoại
ký quỹ.
Ngân hàng thương mại.
Bảng 2.8: Tác động của ngoại bảng đến thu nhập phi lãi của
3. Tính mới và sáng tạo
các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan, nhóm cho rằng nghiên cứu này có những
đóng góp cụ thể sau:
Thứ nhất, đây là nghiên cứu đầu tiên đi sâu đánh giá tác động của OBS đến
hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Thứ hai, dựa trên mơ hình hồi quy pooled, phương pháp hồi quy hiệu ứng cố
định (FEM), phương pháp hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), nghiên cứu đã đánh
giá tác động của hoạt động ngoại bảng đến 4 biến số gồm: (i) Thu nhập ngoài lãi; (ii)
Lợi nhuận trên tổng tài sản; (iii) Rủi ro ngoại bảng và (iv) Rủi ro tín dụng.
4. Ket quả nghiên cứu
4.1.
Tác động của giao dịch ngoại bảng đến lợi nhuận của ngân hàng
4.1.1.
Kết quả về tác động của ngoại bảng đến thu nhập ngồi lãi
Thứ nhất, mơ hình hồi quy dữ liệu bảng cho thấy các giao dịch ngoại bảng
có mối quan hệ tích cực và ảnh hưởng mạnh mẽ đến thu nhập ngồi lãi. Nói cách
khác, giao dịch ngoại bảng tăng sẽ góp phần cải thiện nguồn thu ngồi lãi cho các
NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này ủng hộ quan điểm của những nghiên cứu
trước đây, đặc biệt là nghiên cứu của Baele et al.(2007), Adrian and Shin (2009) và
Pellerin 2008. Việc cung cấp hoạt động ngoại bảng như các nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối, giao dịch phái sinh, cam kết bảo lãnh... giúp ngân hàng tăng các khoản thu
nhập ngồi lãi từ khoản phí thu được. Ở Việt Nam, trong việc cung ứng các hoạt động
ngoại bảng, các NHTM chủ yếu tập trung vào hai hoạt động là bảo lãnh và cam kết
L/C (Bùi Tín Nghị và Phạm Thị Hoang Anh, 2019). Hoạt động bảo lãnh là một trong
các dịch vụ đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân hàng từ phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh chiếm
tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các NHTM tại Việt Nam hiện nay. Trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, L/C là một trong các hình thức thanh tốn chủ yếu trong
thương mại quốc tế (cùng với chuyển tiền và nhờ thu) vì phương thức này được coi là
an toàn nhất đối với người xuất khẩu. Khi thực hiện cung ứng cam kết L/C, các
(1)
n_ii
(2)
n—ii
(3)
n—ii
gdp
0.261*
[1.82]
0.121
[0.79]
0.649**
[2.44]
-0.0109
[-0.05]
-0.0925**
[-2.48]
L . gdp
ir
L.ir
m2
L . m2
Ita
L . Ita
-0. 128***
[-3.82]
0.
-0. 000509
[-0. 10]
0. 0120**
ob s_a
[2.47]
0. 000000354***
L.ob s_a
[12.35]
0. 000000413***
Ina
L . Ina
—Cons
N
[13.28]
-2.748
[-1. 34]
3.918*
[1.92]
-17.69***
[-6. 12]
674
-
0.183
[1.51]
0.120
[0.95]
0.568**
[2.37]
0.0891
[0.44]
0.0782***
-2.72]
-0.101***
-3.93]
000323
-0.08]
.00601
[1.56]
.000000190
[1.40]
.000000243*
[1.79]
0.584
[0.31]
3.554*
[1.93]
-59.47***
-6.19]
674
0.225*
[1.84]
0.131
[1.02]
0. 620**
[2.56]
0.0315
[0.15]
-0. 0906***
[-3. 14]
-0. 120***
[-4. 73]
-0. 00161
[-0. 41]
0. 00612
[1.57]
0. 000000200
[1.45]
0. 000000254*
[1.84]
-0.780
[-0. 42]
3.058*
[1.65]
-32. 97***
[-5. 40]
674
t statistics in brackets
* p<0.1,
** p<0.05,
***
p<0.01
Ghi chú: (1): Phương pháp hồi quy pooled cho chuỗi dữ liệu
(2) Phương pháp hồi quy hiệu ứng cố định cho chuỗi dữ liệu
(3) Phương pháp hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên cho chuỗi dữ liệu
Nguồn: Thu được từ phần mềm Stata
Thứ hai, kết quả thu được từ mơ hình cho thấy tăng trưởng kinh tế có mối
quan hệ tích cực và tác động mạnh mẽ đến thu nhập ngoài lãi của ngân hàng
thương mại. Hahm (2008), Chortareas và ctg (2012), Hakimi và ctg (2012) cũng cho
rằng tăng trưởng kinh tế ổn định, thu nhập ngoài lãi sẽ cao hơn. Tại các quốc gia có
nền kinh tế và thị trường tài chính phát triển, các ngân hàng kinh doanh tại những quốc
gia này thường có cơ hội cung cấp rộng rãi hơn các sản phẩm tài chính, nhờ đó, tạo ra
nguồn thu nhập ngoài lãi lớn hơn. Hơn nữa, khi kinh tế tăng tưởng, thu nhập người dân
cao hơn, họ sẽ gửi tiền nhiều trong ngân hàng, cũng như sử dụng nhiều dịch vụ trong
ngân hàng. Trong những năm gần đây, Việt Nam duy trì mức tăng trưởng kinh tế ổn
định đặc biệt năm 2018, GDP đạt mức 7,08%, mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm
2008 trở lại đây tạo điều kiện cho nguồn thu ngoài lãi tăng. Theo nghiên cứu của Cơng
ty Chứng khốn BIDV (BSC) cho biết, trong nửa đầu năm 2019, thu nhập ngoài lãi
của toàn hệ thống ngân hàng đã tăng trưởng mạnh, tăng trưởng từ phí dịch vụ 46% so
với cùng kỳ nhờ việc tăng trưởng khách hàng và tăng phí dịch vụ.
Thứ ba, mức cung tiền có tác động âm đến thu nhập ngồi lãi của ngân hàng
thương mại. Kết quả nghiên cứu này ủng hộ quan điểm của Rogers và Sinkey (1999),
Stiroh (2004) và Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Hạnh Hoa (2013). Lượng tiền
cung ứng cho nền kinh tế sẽ được Ngân hàng trung ương khống chế thơng qua nhiều
cơng cụ trong đó có hạn mức tín dụng. Đó là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung
ương buộc các ngân hàng thương mại tơn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khi
Ngân hàng trung ương nới lỏng hạn mức tín dụng, các ngân hàng có điều kiện để mở
rộng hoạt động cho vay, là hoạt động truyền thống và chủ yếu của ngân hàng. Việc gia
tăng cho vay cho thấy ngân hàng đang tập trung nguồn lực vào hoạt động kinh doanh
lãi truyền thống, điều đó cũng đồng nghĩa với việc hoạt động ngồi lãi ít được chú
trọng hơn. Điều này làm cho các ngân hàng tăng nguồn thu nhập từ lãi nhưng lại giảm
thu nhập ngoài lãi. Như vậy, hạn mức tín dụng tăng hay mức cung tiền tăng sẽ làm cho
thu nhập ngoài lãi giảm. Ngược lại, khi hạn mức tín dụng bị hạn chế, các ngân hàng đã
buộc phải thay đổi kế hoạch bằng việc đẩy mạnh hoạt động dịch vụ, đa dạng hóa
nguồn thu, từ đó tăng thu nhập ngoài lãi.
Cơ sở lý thuyết này hoàn toàn phù hợp với thực trạng ở Việt Nam trong những
năm vừa qua. Khi hạn mức tăng trưởng tín dụng bị hạn chế theo mức trần của NHNN,
Chiến lược đa dạng hóa nguồn vốn và giảm sự phụ thuộc vào nguồn thu lãi thuần của
các ngân hàng thương mại đã đạt được được kết quả ấn tượng. Theo Báo cáo tài chính
một số ngân hàng năm 2019: VPBank có nguồn thu nhập từ lãi tăng 23% trong khi
nguồn thu ngoài lãi tăng tới 73% so với năm 2018, VIB có nguồn thu từ hoạt động
dịch vụ tăng 118% trong khi TP Bank tăng 70%.
Thứ tư, kết quả thu dược từ mô hình cũng cho thấy lãi suất cho vay bình
quân của các NHTM tăng khiến cho thu nhập ngoài lãi cũng tăng theo với mức ý
nghĩa 5%. Khi lãi suất cho vay bình qn tăng, các ngân hàng gặp khó khăn trong hoạt
động cho vay, kèm theo những quy định mới được ban hành nhằm kiểm soát chặt hơn
đối với hoạt động tín dụng, NHTM có xu hướng thực hiện chiến lược đa dạng hoá
nguồn thu để chuyển qua các hoạt động khác nhằm tìm kiếm cơ hội mới. Nguồn thu
ngồi lãi của ngân hàng trước đây chủ yếu thu từ phí dịch vụ bao gồm: Séc, dịch vụ ủy
thác và quản lí tài sản. Những năm gần đây, các ngân hàng mở rộng ra các hoạt động
như bảo hiểm, đầu tư kinh doanh thương mại và các hoạt động khác.
Thứ năm, Mơ hình hồi quy dữ liệu bảng cũng cho
thấy tổng tài sản của ngân hàng tác động tích cực đến thu nhập ngoài lãi của các
ngân hàng thương mại với mức ý nghĩa 10%. Sự tác động xuất phát từ lượng tiền gửi
tăng và khoản cho vay tăng nhưng chất lượng các khoản vay suy giảm ảnh hưởng đến
lợi nhuận, do đó ngân hàng phải tăng hoạt động kinh doanh phi truyền thống. Xét tài
sản nợ, tiền gửi của dân cư là nguồn chính của tài chính ngân hàng. Khi khoản tiền gửi
tăng đồng nghĩa với việc ngân hàng thu được nhiều phí hơn từ cung cấp dịch vụ tiền
gửi. Xét tài sản có, các khoản cho vay, khoản được tạo lập từ nguồn vốn huy động
được, là loại hình tài sản ngân hàng lớn nhất, mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho
ngân hàng. Một số cơng trình nghiên cứu nước ngoài như nghiên cứu của Antonina
(2010), Sehrish, Faiza và Khalid (2011) đã tìm được mối liên hệ tích cực giữa quy mơ
và chất lượng các khoản vay đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên
cứu của Tô Ngọc Hưng và Nguyễn Đức Trung (2011), Đoàn Việt Hùng (2016) cho
thấy khoản cho vay và lợi nhuận ngân hàng có quan hệ trái ngược. Điều này khá đúng
với thực trạng tại Việt Nam, khi chất lượng các khoản vay suy giảm mạnh. Đây là hậu
quả của việc tăng trưởng tín dụng cao trong thời kỳ trước, trong khi năng lực quản trị
rủi ro của các ngân hàng còn hạn chế cùng với những biến động bất lợi của nền kinh tế
khiến cho tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng lên, ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận ngân
hàng. Để khắc phục, ngân hàng thực hiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, đa dạng
hóa
phânnguồn
chia nguồn
thu nhập,
lực để
giảm
phátbớt
triển
sự cả
phụ
hoạt
thuộc
độngvào
ngoại
nguồn
bảngthu
thay
lãi vì
thuần.
hồn Quyết
tồn tập
định
trung
số
986/QĐ-TTg
để phát triển hoạt
phê động
duyệtcho
ngày
vay08/08/2018
truyền thống.
“Chiến
Mà thu
lược
nhập
phát
từ lãi
triển
mớingành
là nguồn
Ngân
thuhàng
chủ
Việt
yếu của
Nam
ngân
đếnhàng.
năm Nguồn
2025, định
thu nhập
hướng
này
đến
vẫnnăm
ổn định
2030”theo
đã thời
xác định
gian dù
rõ mục
độ nhạy
tiêu:giữa
“Phấn
lãi
đấu
suất đến
và suy
cuốithối
nămkinh
2025,tếtăng
là lớn.
tỷ trọng
Vì cả thu
người
nhập
đi từ
vay
hoạt
và động
các ngân
dịchhàng
vụ phi
đều
tíntốn
dụng
kém
trong
chi
tổng
phí chuyển
thu nhập
đổicủa
vàcác
chingân
phí thơng
hàng thương
tin khimại
chuyển
lên khoảng
qua vay
16tại
- 17%”.
ngân hàng khác. Do đó,
hoạt động 4.1.2.
cho vay kém
quảtác
sẽ động
ảnh hưởng
đến lợi
nhuận
của ngân
Kết hiệu
quả về
của ngoại
bảng
đếnlâu
lợidài
nhuận
của hàng.
ngân
Bên cạnh đó,hàng
nghiên
cứu của
thương
mại Stiroh (2004a) chỉ ra rằng mối tương quan giữa tăng
trưởng thu nhập từ lãi và tăng trưởng thu nhập ngoài lãi tăng lên trong những năm
Thứ nhất, kết quả hồi quy dữ liệu bảng cho thấy khi tài sản ngoại bảng của
1990. Tuy nhiên, thu nhập ngoài lãi biến động nhiều hơn so với thu nhập từ lãi và từ
NHTM tăng lại làm giảm tổng lợi nhuận của ngân hàng thương mại Việt Nam với
đó làm giảm thu nhập từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
mức ý nghĩa 10%. Tuy nhiên có thể thấy hệ số hồi quy vơ cùng nhỏ, nên có thể coi
Bảng
2.9:này
Táclà
động
của đáng
ngoại kể.
bảngCóđến
nhuận
tác động ngược
chiều
khơng
thểlợithấy
cáccủa
bằng chứng thực
nghiệm về tác động của các
hoạtngân
độnghàng
ngoạithương
bảng đến
mạilợiViệt
nhuận
Nam
của NHTM khá đa chiều,
vừa có thể tác động dương, vừa có thể tác động âm.
(1)
(2)
(3)
Cụ thể nghiên cứu thực nghiệm của Rose (1989), Stiroh và Rumble (2006),
roa
roa
roa
Swan và Panda (2017) cho thấy hoạt động ngoại bảng sẽ góp phần làm gia tăng lợi
nhuận của NHTM. Theo những nghiên cứu này, hoạt động ngoại bảng giúp ngân hàng
tăng các khoản thu nhập dưới dạng hoa hồng hay phí để bù đắp sự giảm thấp thu nhập
các nghiệp vụ truyền thống do sự phát triển của cơng nghệ tài chính. Ngồi ra, thực
hiện hoạt động ngoại bảng còn giúp các NHTM tránh được các khoản chi phí về thuế,
chi phí dự trữ bắt buộc, chi phí bảo hiểm tiền gửi và một số khoản chi phí khác khơng
áp dụng cho hoạt động ngoại bảng, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh. Từ đó, hoạt
động ngoại bảng sẽ giúp gia tăng lợi nhuận cho các ngân hàng.
Tuy nhiên, xét về dài hạn, hoạt động ngoại bảng lại có tác động tiêu cực đến lợi
nhuận - giống như kết quả thu được cho các NHTM Việt Nam mà mơ hình đã chỉ ra.
Theo Bora Aktan và cộng sự (2013), khi ngân hàng mở rộng các hoạt động ngoại bảng
thì các cổ đơng, nhà đầu tư sẽ kỳ vọng hoạt động này giảm rủi ro của ngân hàng, từ đó
giảm lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng. Các nghiên cứu thực nghiệm của DeYoung &
Roland (2001); Stiroh, 2004a, 2006a; Stiroh & Rumble (2006) cũng bác bỏ lợi ích về
mặt lợi nhuận khi ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh để tăng thu nhập.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, các ngân hàng có khả năng mất khách hàng nhiều hơn khi
tham gia các hoạt động tạo ra nguồn thu từ phí nhiều hơn hoạt động cho vay. Trong
gdp
L . gdp
.
6.
. 337***
1 311***
1 334***
điều[ 1kiện
nguồn .lực
có hạn, hoạt
. [động tín dụng sẽ kém hiệu quả hơn khi ngân hàng
[
.80]
-0
260
[-1
32]
6.
0 .
[-1
.54]
.2 64
26]
6.
0 .
[1.
66]
258
22]
ir
L. ir
m2
L. m2
lta
.
*
1 221***
[3. 05]
-0. 602*
[-1. 95]
-0.0863
[-1. 33]
0.
187***
[2.73]
-0.0107
[-1. 44]
L. lta
-0.00789
[-1. 00]
ob s _a
L. obs_a
-0.
000000316*
[-5. 36]
6. 83e-08*
[1. 71]
lna
L. lna
3. 386
[
[
. 195***
1
.
[3. 08]
-0.535
[-1.61]
-0. 570*
-0. 0736
0.0813*
[-1.55]
-1.73]
0.196***
[4.62]
-0.00300
-0
[-0.46]
[
-0.00642
-0
[-1.01]
[
** -0.000000449*
[-2.00]
[
-7.60e-08
-5.
[-0.34]
[
5.965*
-1. 72]
0. 186***
[4.49]
. 00486
-0. 75]
. 00690
-1. 09]
*
-0.
000000430*
-1. 91]
51e-08
-0. 24]
5.019*
[0. 94]
[1.92]
-1. 556
-2.891
[-0.95]
-2.972
-52.98***
[-3.34]
-38.17***
[-0. 43]
_c ons
1
.
[3.02]
-34.38***
[-10. 06]
[
[
[1. 66]
-0. 98]
-5.12]
221***
675
N
675
675
t statistics in brackets
*
p<0.1,
**
p<0.05,
***
p<0.01
Ghi chú: (1) Phương pháp hồi quy pooled cho chuỗi dữ liệu
(2) Phương pháp hồi quy hiệu ứng cố định cho chuỗi dữ liệu
(3) Phương pháp hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên cho chuỗi dữ liệu
Nguồn: Thu được từ phần mềm Stata
Thứ hai, kết quả thu được cho thấy biến tăng trưởng GDP cho kết quả ảnh
hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại ở cả ba mơ hình đều mang dấu
dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Điều này cho thấy khi nền kinh tế tăng
trưởng thì lợi nhuận của ngân hàng cũng tăng. Kết luận này hoàn toàn nhất quán với
nghiên cứu của Kosmidou và cộng sự (2006), Neely và Wheelock (1997), Sufian và
Chong (2008). GPD là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế
của quốc gia. Khi nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, các chủ thể trong nền kinh
có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh làm cho nhu cầu về vốn tăng lên.
Điều này giúp các ngân hàng tăng khoản thu từ hoạt động cho vay khách hàng hay nói
sách khác chính là tăng thu nhập từ lãi. Đây là nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng nguồn thu của ngân hàng (Nguyễn Thị Liên Hoa và Nguyễn Thị Kim
Oanh,2018). Đồng thời, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt thì năng lực tài chính của
khách hàng vay vốn được nâng cao, điều này làm tăng khả năng hoàn trả vốn và lãi,
dẫn đến rủi do tín dụng giảm, lợi nhuận của ngân hàng tăng lên.
Thứ ba, về biến lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng giảm làm cho
lợi nhuận của ngân hàng cũng giảm theo. Khi lãi suất cho vay bình quân giảm làm
cho khoản khoản thu nhập từ lãi giảm, kéo theo đó lợi nhuận của ngân hàng cũng bị
giảm. Afanasieff, Lhacer, and Nakane (2002) nghiên cứu trên mẫu các NHTM tại
Brazil đã đưa ra kết luận rằng lãi suất cơ bản hay phần bù rủi ro và lãi suất cận biên có
mối quan hệ thuận chiều. Vào thời điểm cuối năm 2019, NHNN đã ban hành quyết
định từ 19/11 giảm lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng một số lĩnh vực ưu tiên từ mức 6,5% xuống 6%/năm. Đồng thời để tạo cơ
sở hạ lãi suất cho vay, NHNN cũng ra quyết định hạ từ 0,2 - 0,5%/năm mức lãi suất
tiền gửi bằng VND của tổ chức, cá nhân tại các tổ chức tín dụng. Mặt bằng lãi suất
trên thị trường có sự đảo chiều và tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng. Đơn cử,
việc Vietcombank đi tiên phong cắt giảm lãi suất cho vay mức 0,5% đối với tất cả
khách hàng doanh nghiệp trong 2 tháng cuối năm 2019 đã tác động đến khoảng
320.000
làm
tăng tỷ
nguy
đồng
cơ dư
đốinợ
tácvà
khơng
làm thực
giảmhiện
khoảng
đúng260
nghĩa
- 300
vụ của
tỷ đồng
mình,lợi
theo
nhuận
đó ngân
của hàng
ngân
hàng
dễ
đốinày.
mặt với rủi ro từ các khoản nợ tiềm ẩn. Vì vậy tỷ lệ tài sản ngoại bảng trên tổng
obs_a
(3)
tài sản(1)tăng dẫn đến (2)
việc tăng rủi ro
ngoại bảng cho các NHTM. Với đặc điểm vốn có
Thứ tư, obs
mứciskcung tiền
có tác động âm tới lợi nhuận của các ngân hàng
obs risk
obsrisk
r
của0 hoạt
động
ngoại
“cam kết” chưa được thực hiện ngay và giá trị hợp
.
*
-0.0330bảng là những
0.
106
thương
mại.
Ket
luận này hoàn
toàn
nhất quán với nghiên cứu của Frisch (1990), Hall
323
đồng lớn nên việc tăng các cam kết này đồng nghĩa với việc tỷ lệ nợ tiềm ẩn/dư nợ tín
(1982) và Kobia Araya Marimba (2016). Mức cung tiền là một trong những công cụ
dụng là rất cao. Trên thực tế, nghiệp vụ L/C có thể được coi là nghiệp vụ phổ biến nhất
của Ngân hàng Trung ương trong điều hành chính sách tiền tệ nhằm ổn định kinh tế vĩ
và chiếm tỷ lệ nợ tiềm ẩn lớn nhất, thêm vào đó dù Basel II đã và đang được áp dụng
mơ. Khi muốn hạ lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, Ngân hàng Trung ương can
song công tác đánh giá và quản trị rủi ro của các NHTM Việt Nam hiện còn nhiều hạn
thiệp bơm thêm tiền vào nền kinh tế qua nghiệp vụ thị trường mở bằng cách mua vào
chế. Chiến lược quản trị rủi ro hiện nay vẫn còn tập trung chủ yếu vào việc quản trị rủi
các giấy tờ có giá. Tuy nhiên hiệu quả của cơng cụ này hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu
ro nội bảng nên không tránh khỏi lỗ hổng rủi ro trong ngoại động ngoại bảng.
ứng tính lỏng, hiệu ứng giá cả và hiệu ứng thu nhập. Nếu như hiệu ứng tính lỏng là
2.11:
Tác2động
của hoạt
độngthì
ngoại
đến rủi
ro Trung
ngoại ương
bảng mua
của vào
hiệu Bảng
ứng trội
so với
loại hiệu
ứng khác
với bảng
việc Ngân
hàng
các công cụ nợ sẽ giúp hạ lãi suất thị trường. Trong trường hợp hiệu ứng giá và hiệu
các ngân hàng thương mại Việt Nam
ứng thu nhập có tính trội thì với việc Ngân hàng Trung ương mua vào các công cụ nợ
sẽ làm lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng lên, gia tăng lạm phát. Đồng thời,
khi lạm phát tăng sẽ gia tăng chi phí cơ hội của việc tích trữ tiền, và sự khơng chắc
chắn về tình hình lạm phát trong tương lai có thể ngăn cản quyết định đầu tư và tiết
kiệm, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Từ năm 2015 đến nay, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện điều hành chính sách tiền tệ một cách hiệu quả,
kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng, từ đó tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng hợp
lý, hỗ trợ các ngân hàng xử lý quyết liệt tình trạng nợ xấu. Hệ thống các ngân hàng
hoạt động ngày càng hiệu quả và phát huy được vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.
4.2.
Tác động của giao dịch ngoại bảng đến rủi ro của ngân hàng
4.2.1.
Kết quả về tác động đến rủi ro ngoại bảng
Thứ nhất, kết quả mơ hình cho thấy tổng tài sản ngoại bảng có tác động
cùng chiều với rủi ro ngoại bảng, tức là khi tổng tài sản ngoại bảng tăng thì rủi ro
hoạt động ngoại bảng cũng tăng theo. Jay choi và Elyasiani (1996) cùng với Lepetit
(2007) xét trong trường hợp các ngân hàng ở Hoa Kỳ và Châu Âu, họ đều nhận thấy
rằng việc sử dụng các hợp đồng phái sinh trong hoạt động ngoại bảng của các ngân
hàng thương mại khiến rủi ro tiềm ẩn tăng đáng kể. Ngoài ra, Makati và Jiangli (2007),
Duran và Lozano-Vivas (2012) cũng cho ra kết quả tương tự. Theo lý thuyết, việc gia
tăng các cam kết ngoại bảng, thư tín dụng hay những hoạt động ngoại bảng khác sẽ
[
L.obs_a
gdp
L . gdp
i r
L.ir
lta
L . lta
Ina
L . Ina
roa
L.roa
_cons
1
0
[
-2
-
1[
-0
0
6
[
1
-
2 [
-0
0
0
0
[
-
[
-1
1
[
1
-
1 [
-1
0 [
-1
0
1
[
-
[
-2
1
[
0
.
83]
.4
91
.
12]
. 7
63
.
[* *
.
.
*
67]
.
520
.
*
* *
p<0.
brackets
05
***
,
0.
907**
569
10]
-
278
[-
0.
4
1.
0
[
93]
4
32]
-
.45*
58 [1.
0. [1.
0.
[
0.
1.
944
04]
672**
27]
377
59]
316
[
02]
-
341
[-
15]
1.
0.
45]
52
1.
.34
[
58]
-
.58*
-
195
[-
65]
5.8
96]
0.
1.
0.
0.
64
[
85]
309
01]
.15
57]
0.
246
p<0.01
1.
241
78]
1
0.
19]
375
[-
0.
59 [1.
0. [-
79]
-
0.
5
.79
[
246
n
350
03]
6
i
t statistic;
* p<0.1,
**
65]
946
1. [0.
0.
35]
N
1
32]
1.
68]
28.
5
.
806
42]
[
.
*
16]
0. [0.
1.
[
1.
6.
[
2.
1. [-
759
2.
62]
.
148
.
513
[-
83]
[
1.
30]
-
913*
[-
0. [0.
297
.
23]
.
496
.
91]
.
441
.
01]
1.2
8
.
0.
[
09]
-
1.
95]
. 3
15
.
86]
.
19]
.
856
.
14]
29.
4
.
0.
246
Ghi chú: (1): Phương pháp hồi quy pooled cho chuỗi dữ liệu
(2) Phương pháp hồi quy hiệu ứng cố định cho chuỗi dữ liệu
(3) Phương pháp hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên cho chuỗi dữ liệu
Nguồn: Thu được từ phần mềm Stata
Bên cạnh đó, qua việc xét tác động đồng thời của yếu tố tổng tài sản ngoại bảng
với các yếu tố khác tại mức ý nghĩa 5% và xem xét tác động riêng của yếu tố này đến
rủi ro ngoại bảng tại mức ý nghĩa 10% cho thấy tổng tài sản kỳ này tăng kéo theo sự
giảm rủi ro ngoại bảng trong những kỳ kế tiếp. Điều này có thể được giải thích bằng
chính sách quản lý, giám sát qua việc phân loại nợ tương đối hiệu quả tại các NHTM.
Ngay khi xem xét việc có nên tham gia vào các cam kết hay khơng thì NHTM đã xác
định rõ được rủi ro rất lớn từ hoạt động ngoại bảng và có động thái phân loại nợ. Thêm
vào đó, nguyên nhân khiến việc tăng tài sản ngoại bảng nhưng làm rủi ro giảm là do
lợi ích từ việc đa dạng hố hoạt động ngân hàng. Điều này cũng đồng quan điểm với
Hassan (1991) cùng với Deyoung và Torna (2012) khi đánh giá tác động của các hoạt
động ngoại bảng đối với rủi ro của các ngân hàng thương mại lớn của Hoa Kỳ. Xét
trên phương diện khác, Kaufman (1999), Lepetit (2007) đưa ra nhận định rằng mặc dù
ngân hàng có thể thua lỗ khi tham gia giao dịch phái sinh, song mức rủi ro này ít hơn
nhiều so với đầu tư khác.
Thứ hai, ảnh hưởng của lãi suất cho vay có tác động cùng chiều với rủi ro
ngoại bảng. Lãi suất có thể coi là nhân tố nhạy cảm nhất khi mà nó tác động trực tiếp
tới hành vi tiêu dùng của các chủ thể kinh tế cũng như gián tiếp tác động đến khả năng
thanh tốn của đối tác. Về phía khách hàng cá nhân, việc tăng lãi suất sẽ làm giảm tiêu
dùng, đồng thời làm giảm nhu cầu sử dụng tín dụng. Về phía các doanh nghiệp, sự
biến động của lãi suất ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề đầu tư của mình, khi mà lãi suất
tăng làm khoản lãi phải trả tăng đồng thời các chi phí vay cũng tăng. Điều này dẫn đến
việc các doanh nghiệp phải cân nhắc tính tốn rất kỹ dự án đầu tư để có thể thu được
tỷ suất sinh lời từ đầu tư cao hơn so với lãi suất vay vốn từ ngân hàng. Chính vì vậy,
doanh nghiệp có thể bỏ lỡ nhiều dự án, làm chậm q trình kinh doanh do khơng đủ
khả năng vay vốn. Về phía ngân hàng, việc mức lãi suất cho vay tăng khiến việc sử
dụng nguồn vốn huy động không hiệu quả. Do hoạt động chiếm doanh thu lớn nhất
của các NHTM là cho vay nên nếu lãi suất tăng dẫn đến việc cấp tín dụng giảm khiến
cho thu nhập từ lãi giảm. Đồng thời, việc này khiến tăng nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng
vì người đi vay khơng đủ khả năng thanh tốn hay do chi phí huy động vốn quá cao
mà kinh doanh không thuận lợi dẫn đến mất khả năng thanh tốn. Thêm vào đó, rủi ro
thanh khoản cũng tăng khi lãi suất tăng do ngân hàng đến hạn những khoản phải trả
hoặc trong ngắn hạn ngân hàng không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách
hàng nhưng lại chưa thu hồi được nguồn vốn cho vay. Trên thực tế, với đặc điểm giao
dịch có khối lượng giao dịch lớn thì việc doanh nghiệp xoay vốn bằng cách vay vốn
ngân hàng là giải pháp hàng đầu, song nếu lãi suất đi vay ngân hàng tăng cao mà việc
kinh doanh không thuận lợi sẽ dễ dẫn đến doanh nghiệp khơng thực hiện đúng nghĩa
vụ của mình.
Thứ ba, biến tổng tài sản cho kết quả tác động cùng chiều với rủi ro ngoại
bảng tại mức ý nghĩa 10%. Dionne và cộng sự (2007) cũng chỉ ra rằng để giảm rủi ro
thì cần giảm các tài sản rủi ro trên tổng tài sản hoặc giảm tổng tài sản. Theo đó, tổng
tài sản tăng làm gia tăng rủi ro ngoại bảng của các NHTM. Để giải thích cho tác động
này, có thể cho rằng việc tăng lên của tổng tài sản là do mở rộng quy mô kinh doanh,
đầu tư nhiều hơn vào các hoạt động kinh doanh của ngân hàng hay do lợi nhuận thu
được tăng lên. Sự tăng lên của tổng tài sản mang lại tín hiệu tốt đối với ngân hàng,
song cùng với đó rủi ro từ các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn cũng tăng lên. Tuy nhiên, mơ hình
nghiên cứu cũng cho thấy tổng tài sản kỳ này tăng lên làm cho rủi ro hoạt động ngoại
bảng kỳ kế tiếp giảm xuống.
Thứ tư, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản có tác động tiêu cực tới rủi ro
hoạt động ngoại bảng. Về cả lý thuyết lẫn thực nghiệm, Kalotychou và Staikouras
(2009) cũng đưa ra nhận định như trên về ảnh hưởng của ROA đến rủi ro ngoại bảng.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa lợi
nhuận và tổng tài sản hiện có của ngân hàng. Về mặt lý thuyết, ROA cho biết trên một
đồng tài sản doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận, theo đó ROA càng
cao thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng tốt. Trên thực tế, chỉ số ROA
cịn phụ thuộc rất nhiều vào nhóm ngành kinh doanh hay thời điểm kinh doanh. Theo
báo cáo của NHNN quý III năm 2019, ROA của các NHTM là 0,79% và nhìn chung là
tương đối ổn định trong những năm trở lại đây. Với những ngân hàng có ROA đạt mức
từ 1% đến 2% có thể cho thấy kết quả hoạt động kinh doanh tương đối hiệu quả khi
mà lợi nhuận thu được cao, song kèm theo đó là rủi ro tiềm ẩn tăng lên với những hoạt
động sinh lời lớn. Các hoạt động ngoại bảng mang về lợi nhuận là phí thu được dựa
trên giá trị hợp đồng bảo lãnh, tuy nhiên mức phí thu được này khá nhỏ so với nghĩa
vụ thanh tốn mà ngân hàng phải thực hiện khi có rủi ro xảy ra. Chính vì vậy, việc
xem xét cân đối giữa lợi nhuận thu được và các rủi ro có thể có từ hoạt động này cần
xét là tốt, điều này có thể khiến cho giá cổ phiếu của ngân hàng tăng đồng thời thu hút
được các NHTM chú trọng nhiều hơn.
các nhà đầu tư làm tăng nguồn lực tài chính cho ngân hàng. Hơn nữa, ngồi việc tăng
4.2.2.để tiếpTác
đến rủihoạt
ro tín
dụng
của
các NHTM
huy động vốn
tụcđộng
đẩy mạnh
động
kinh
doanh
thì ngân hàng cịn có thêm
thời gian để xử
lý khoản
nợ đã bán
cùng
thuthú
hồivịhoặc
vào
Thứ
nhất, nghiên
cứubằng
tìm cách
ra một
kếtVAMC
quả khá
chodựa
thấy,
sựtăng
gia
trưởng
kinh
doanh
tăngbảng
trích có
lậptác
dự động
phịngtích
để tất
khoản
VAMC.
tăng
các
giao
dịch và
ngoại
cựctốn
làmcác
giảm
quynợ
mơnày
và với
nguy
cơ rủi
ro tín Bảng
dụng của
ngân
hàng
mạingoại
với độbảng
trễ là
1 quý
tại tín
mức
ý nghĩa
2.12:các
Tác
động
của thương
hoạt động
đến
rủi ro
dụng
của 10%.
Ket luận này nhất quán với Mcanall (1995) khi tác giả chỉ ra rằng sử dụng các công cụ
các ngân hàng thương mại Việt Nam
phái sinh sẽ giúp ngân hàng phòng ngừa rủi ro và tránh tình trạng mất cân đối. Nguyên
nhân dẫn tới kết quả này có thể là do các ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng
hoá danh mục đầu tư. Trong đó, ngồi việc đầu tư vào góp vốn cho công ty con, công
ty liên doanh - liên kết... hay đầu tư vào thị trường bất động sản thì đầu tư vào thị
trường chứng khốn phái sinh hay đầu tư vào các hoạt động ngoại bảng đang ngày
càng trở nên phổ biến. Việc mở rộng danh mục đầu tư này không chỉ giúp ngân hàng
thu được lợi nhuận mà còn là cách phân tán rủi ro hữu hiệu đối với các ngân hàng. Đối
với tình hình biến động về lãi suất, tỷ giá và giá cả thị trường tương đối phức tạp do
những tác động khách quan từ thị trường trong và ngồi nước thì các NHTM ngày
càng ưa chuộng hơn các công cụ phái sinh như: hợp đồng tương lai, kỳ hạn, hoán đổi
hay quyền chọn để bảo hiểm rủi ro tài chính cho cả ngân hàng và đối tác, đồng thời
làm giảm những cú sốc từ bên ngồi thị trường. Ngun nhân khác có thể kể đến là do
ngân hàng bán lại nợ xấu cho công ty quản lý tài sản VAMC, việc bán lại các khoản
nợ xấu này làm cho khoản mục chi phí dự phòng tăng lên song lại làm cho khoản mục
chi tiết về nợ quá hạn và nợ xấu có xu hướng giảm mạnh. Trên thực tế, khoản nợ này
vẫn tồn tại song lại không được đề cập trong hoạt động nội bảng mà lại làm tăng lên
vào các hoạt động ngoại bảng, điều này khiến các NHTM cải thiện báo cáo tài chính
và cho thấy tình hình kinh doanh của ngân hàng tốt hơn. Mặc dù việc chuyển các
khoản nợ xấu nội bảng ra ngoại bảng khiến các số liệu trở nên khơng rõ ràng và thiếu
tính minh bạch do hoạt động ngoại bảng không được ghi nhận cụ thể trên BCTC, song
hành động này có thể được đánh giá là tốt đối với các NHTM. Vì khi BCTC trở nên
sạch với mức nợ xấu thấp, nhìn chung sẽ khiến cho tình hình kinh doanh được nhận
(1)
Obsrisk
obs a
0.323*
(2)
Obsrisk
(3)
llp2
-0.0330
-6.62e-08
L.obs_a
gdp
L. gdp
[1.83]
-0.491**
:-1.83;
-0.759
[0.15]
0.673*
[-0.95]
1.315
:-0.42;
1.946
[1.92]
0.263
[0.86]
6.297
L . ir
[1.23]
-2.496
L . Ita
Ina
L . Ina
[1.03]
6.907*
*
[2.32]
-1.569
:-0.18]
-1.053**
[-0.65]
0.350
[0.19]
-0.856
[1.10]
-0.278
:-0.18]
ũ .00114
:-1.14;
129.4*
[-0.93]
44.79
[0.1 ũ]
-7.156
[1.32]
-58.45*
[-1.30]
-5.080
[1.68]
-128.5*
:-1.67;
-0.520*
[-1.79]
-0.375
L. roa
:-1.51;
-0.441**
:-1.15;
-0.241
N
[0.73]
-0.115
[-0.62]
0.148
roa
_cons
[-0.16]
6.24e-08
:-2.12:
-1.763
ir
Ita
[-0.09]
-0.913*
[-2.01]
11.28
[0.35]
246
[-0.78]
155.8
[0.96]
246
[-2.02]
-0.00214
[-0.94]
178.4***
[9.55]
674
t statistics in brackets
* p<0.1, ** p<0.05, *** p<0.01
Ghi chú: (1): Phương pháp hồi quy pooled cho chuỗi dữ liệu
(2) Phương pháp hồi quy hiệu ứng cố định cho chuỗi dữ liệu
(3) Phương pháp hồi quy hiệu ứng ngẫu nhiên cho chuỗi dữ liệu
Nguồn: Thu được từ phần mềm Stata
Thứ hai, xét trên phương diện yếu tố vĩ mô, kết quả mơ hình cũng cho
thấy GDP có tác động cùng chiều với tỷ lệ dự phịng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ
cho vay khách hàng. Mơ hình thực nghiệm của Khasawneh và cộng sự (2012) tại các
ngân hàng ở Jordan cũng cho ra kết quả rằng nhân tố GDP có tác động tích cực trong
việc làm gia tăng các hoạt động ngoại bảng, kéo theo đó làm tăng rủi ro của ngân
hàng. Thêm vào đó, nghiên cứu của Vítor Castro (2012) về tác động của các yếu tố vĩ
mô tới rủi ro tín dụng của ngân hàng tại nhóm nước Greece, Ireland, Portugal, Spain
and Italy (GIPSI) cũng đồng tình với kết quả tăng trưởng GDP khiến rủi ro tín dụng
của ngân hàng tăng. Theo đó, GDP tăng thể hiện sự phát triển của nền kinh tế, mọi
hoạt động đầu tư cũng như sản xuất và trao đổi hàng hoá diễn ra nhiều với khối lượng
giao dịch lớn. Điều đó cho thấy nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất, nâng cấp và cải
thiện cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp tăng lên, dẫn tới nhu cầu vốn tăng cao. Về phía
khách hàng, vay vốn ngân hàng ln là sự lựa chọn hàng đầu của doanh nghiệp để
tránh mức lãi suất quá cao từ tín dụng đen và nhà quản trị kiểm soát được khoản vay
cũng như thời hạn trả của mình. Về phía ngân hàng, việc tăng lên nhu cầu vay là tín
hiệu tốt để sử dụng nguồn vốn huy động hiệu quả. Song, việc tăng cấp tín dụng sẽ
khiến rủi ro tín dụng tăng cao khi mà nguy cơ đối tác kinh doanh không hiệu quả dẫn
đến việc thiếu trách nhiệm trước nghĩa vụ trả nợ của mình và điều này dẫn tới nợ xấu
của ngân hàng tăng lên.
Thứ ba, kết quả cho thấy lãi suất cho vay tăng làm tăng rủi ro tín
dụng, đồng thời lãi suất cho vay kỳ này tăng làm dự phòng rủi ro tín dụng kỳ sau
giảm. Nghiên cứu của L. Angbazo (1996) cũng đồng tình với kết quả này qua việc
kiểm chứng giả thuyết khi lãi suất thị trường giao ngay tăng so với mức cam kết khiến
uy tín tín dụng của người vay giảm xuống dưới mức cam kết, dẫn đến việc ngân hàng
dễ đối mặt với rủi ro tín dụng. Theo lý thuyết, lãi suất cho vay tăng khiến người đi vay
phải trả lượng chi phí lãi vay lớn hơn, theo đó người đi vay sẽ hạn chế tiêu dùng còn
doanh nghiệp sẽ hạn chế mở rộng đầu tư vào thời điểm này. Trên thực tế, đa phần các
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp vừa và nhỏ và để có thể mở rộng
sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần một lượng vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên,
lãi suất cho vay trung và dài hạn thường cao hơn lãi suất thông thường, nếu tiếp tục
tăng lãi suất sẽ gây sức ép cực kỳ lớn đến doanh nghiệp và thậm chí có thể đẩy doanh
nghiệp vào tình trạng phá sản. Chính vì vậy, lãi suất tăng làm tăng khả năng khách
hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình và làm rủi ro tín dụng của ngân hàng
tăng lên. Bên cạnh đó, kết quả thu được từ mơ hình cũng cho thấy lãi suất kỳ này tăng
làm giảm dự phịng rủi ro tín dụng cho kỳ kế tiếp. Giải thích cho tác động ngược chiều
này là do lãi suất tăng khiến nhà đầu tư e ngại khi vay vốn mở rộng kinh doanh nên
làm giảm nhu cầu vay vốn, tuy nhiên lại làm tăng lên lượng vốn huy động tiền nhàn
rỗi trong dân chúng. Khi đó, ngân hàng có thể xử lý các khoản nợ xấu cịn tồn đọng
đồng thời làm giảm khoản dự phòng.
Thứ tư, tại mức ý nghĩa 10% kết quả mơ hình cho thấy tổng tài sản
tăng làm rủi ro tín dụng tăng. Khasawneh và cộng sự (2012) ủng hộ quan điểm cho
rằng quy mơ ngân hàng có ảnh hưởng tới rủi ro của ngân hàng vì nhóm tác giả chứng
minh rằng các ngân hàng lớn sẽ cho vay nhiều hơn và vì vậy khiến rủi ro tín dụng tăng
lên. Cịn nghiên cứu của Hayati Ahmad và Nizam Ahmad tại ngân hàng ở Malaisia sử
dụng mơ hình thực nghiệm chứng tỏ được tác động đáng kể của hiệu quả quản lý, tài
sản có rủi ro và quy mơ của tổng tài sản có ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro tín dụng của
ngân hàng. Theo nhóm tác giả thì khi tổng tài sản tăng lên mà khơng được quản lý
đúng cách thì dẫn đến rủi ro tín dụng cũng tăng lên đáng kể. Trên thực tế, tổng tài sản
của ngân hàng tăng lên có thể là do hoạt động đầu tư tăng lên hoặc do cho vay khách
hàng tăng lên hoặc do dự phòng rủi ro chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Vì vậy, với nguồn
lợi nhuận chính là từ hoạt động cấp tín dụng thì việc tăng tài sản do tăng cho vay
khách hàng sẽ có tác động làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Thứ năm, tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản có tác động ngược chiều với
rủi ro tín dụng của ngân hàng. Nghiên cứu của Achsania Ruziqa (2012) về ngân
hàng ở Indonesia cũng cho ra nhận định tương tự khi kết quả cho thấy ROA và ROE
có tác động ngược chiều đáng kể đến rủi ro tín dụng. Dựa trên lý thuyết, ROA là một
trong những thước đo lợi nhuận được ngân hàng sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh
doanh của mình dựa trên mức lợi nhuận thu được khi bỏ ra một đồng tài sản. Chính vì
vậy, ROA tăng thể hiện trên một đồng tài sản bỏ ra ngân hàng thu được nhiều lợi
nhuận hơn. Lợi nhuận có được ở đây là kết quả thu được từ quá trình đầu tư, kinh
doanh dịch vụ và chiếm tỷ trọng lớn nhất là từ hoạt động cho vay khách hàng. Trên
thực tế, nhu cầu vay vốn luôn ở mức cao và theo chỉ đạo của NHNN thì các ngân hàng
thương mại sẽ phải phân loại nợ để theo dõi, giám sát và trích lập dự phịng hợp lý.
5. Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh quốc phòng
và
khả năng áp dụng của đề tài
Nghiên cứu trả lời các câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Thực trạng hoạt động ngoại bảng tại các NHTM Việt Nam đang diễn
ra như thế nào?
-
Câu hỏi 2: Hoạt động ngoại bảng tác động thế nào đến lợi nhuận của các
NHTM Việt Nam?
-
Câu hỏi 3: Hoạt động ngoại bảng tác động thế nào đến rủi ro của các NHTM
Việt Nam?
6. Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên
tạp
chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên
cứu
(nếu có).
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi).
Ngày 10 tháng 7 năm 2020
Người hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ tên)
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
THƠNG TIN VỀ SINH VIÊN
CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I. SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN
Họ và tên: Thân Thị Hạ
Sinh ngày: 24 tháng 3 năm 1998
Nơi sinh: Cộng Hịa, Chí Linh, Hải Dương
Lớp: K20NHA
Khóa: 20
Khoa: Ngân hàng
Địa chỉ liên hệ: số 2b, ngách 3/82 Thái Hà, Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 035517711
Email: thanthiha243 @gmail.com
II. QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
* Năm thứ 1:
Ngành học: Ngân hàng
Khoa: Ngân hàng
Ket quả xếp loại học tập: Học kỳ I: 8.3
Học kỳ II: 8.84
Sơ lược thành tích: Học bổng khuyến khích học tập
* Năm thứ 2:
Ngành học: Ngân hàng
Khoa: Ngân hàng
Kết quả xếp loại học tập: Học kỳ I: 8.27
Học kỳ II: 9.12
Sơ lược thành tích: Học bổng khuyến khích học tập; Học bổng Ngân hàng thương mại
(Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam); Tham gia viết bài và trình bày tại Hội thảo khoa
học sinh viên năm 2019 của CLB Sinh viên nghiên cứu khoa học.