ĐỀ BÀI SỐ 12
Bà C đến văn phòng Luật sư Minh Quang xin tư vấn một vụ việc như sau:
Ông A là chủ sử dụng hợp pháp của 02 thửa đất. Thửa thứ nhất rộng
1.015m2 có nhà và các tài sản trên đất. Thử thứ 2 rộng 1000 m2 là đất trồng cây
lâu năm tại xã Đông Trúc huyện thạch thất , Hà NỘi. Năm 1980, ông A đi xây
dựng kinh tế mới tại Lâm Đồng. Anh B là cháu ruột tiếp tục sử dụng hai thử đất
này. Cho đến nay, hai thửa đất này vẫn chưa được nhà nước cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Trong bản đồ địa chính xã lập năm 1998 đứng tên anh B là
người kê khai, sử dụng những thửa đất này. Năm 2004 ơng A mất có để lại di chúc
cho anh B thừa kế 02 thửa đất của mình. Sinh thời vợ chồng ông A sinh được hai
người con là bà C và ông D ( bố ông B) . Nay bà C từ Lâm Đồng về muốn kiện đòi
thừa kế quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất này,
Với tư cách là chuyên gia tư vấn pháp lý tại văn phòng Minh Quang. Anh
(chị) hãy:
1.
2.
Xác định những vấn đề pháp lý mấu chốt trong vụ việc trên
Vụ việc này theo quan điểm của chuyên gia tư vấn pháp lý được giải
quyết như thế nào theo đúng quy định của pháp Luật hiện hành?
BÀI LÀM
1.
Xác định những vấn đề pháp lý mấu chốt trong vụ việc trên.
Các vấn đề pháp lý mấu chốt trong tình huống trên bao gồm.
-
Ơng A là chủ sử dụng hợp pháp của hai thửa đất. Một mảnh có nhà và các
tài sản trên đất, mảnh thứ hai là đất trồng cây lâu năm. Nghĩa là ông A là
chủ sử dụng độc lập của hai mảnh đất này, không phải sở hữu chung với
-
người khác hay hộ gia đình.
1980 ông A đi xây dựng kinh tế mới. B sử dụng và quản lý mảnh đất đó,
tuy nhiên chưa được ông B chuyển nhượng. Như vậy anh B chỉ là người
-
quản lý sử dụng mảnh đất.
1998 anh B đứng tên là người kê khai sử dụng hai mảnh đất này.
2004 ông A mất có để lại di chúc cho anh B là người thừa kế hai mảnh
-
đất này.
Cho đến nay hai mảnh đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
-
dụng đất.
Bà C là con của ông A và là cơ của B muốn kiện địi quyền thừa kế.
Vậy:
- ông A có đủ điều kiện để lại thừa kế hợp pháp hai mảnh đất này hay
không?
-Anh B sử dụng và thừa kế hai miếng đất trên có hợp pháp hay khơng?
- Bà B có quyền thừa kế hai mảnh đất trong trường hợp trên hay khơng,
việc kiện địi thừa kế của bà B có đúng quy định của pháp luật?
Các vấn đề cần làm rõ.
bà C có đủ các căn cứ, chứng minh anh B không đủ điều kiện nhận miếng
đất trồng cây lâu năm do đã sở hữu vượt mức mà pháp luật quy định lúc đó.
Nếu có đủ căn cứ chứng minh anh B khơng đủ điều kiện nhận, thì bà C có
đủ điều kiện hay khơng, có căn cứ gì chứng minh khơng.
2. Vụ việc này theo quan điểm của chuyên gia tư vấn pháp lý được giải
quyết như thế nào theo đúng quy định của pháp Luật hiện hành?
2.1
-
Ơng A có quyền để lại di sản thừa kế là hai miếng đất hay khơng.
Ơng A là chủ sử dụng hợp pháp của hai miếng đất này.
-Năm 1980 ông A đi xây dựng kinh tế tại Lâm đồng, B là cháu ruột tiếp tục
sử dụng, quản lý hai miếng đất. Thời điểm này ông A và B không phát sinh quan
hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất như tặng cho, mua bán, thừa kế,.. mà chỉ đơn
thuần là B sử dụng, quản lý đất thay cho A trong thời gian A đi vắng.
-Trong bản đồ địa chính xã lập năm 1998 đứng tên anh B là người kê khai,
sử dụng những thửa đất này. Theo quy định tại khoản 14 Điều 4 Luật đất đai 2003
có quy định: “14. Sổ địa chính là sổ được lập cho từng đơn vị xã, phường, thị trấn
để ghi người sử dụng đất và các thông tin về sử dụng đất của người đó” như vậy
có tên trong sổ địa chính chỉ là căn cứ để khẳng định anh B hiện đang là người sử
dụng hai mảnh đất này, chứ không thể khẳng định anh B là chủ sử dụng hợp pháp
của hai mảnh đất.
-Năm 2004 ông A mất có để lại di chúc cho anh B thừa kế 02 thửa đất của
mình. Tuy nhiên mảnh đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vậy
việc ông A để lại thừa kế đất khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có
đúng pháp luật hay khơng ?
Theo tình huống đề bài cho, ơng A là chủ sử dụng hợp pháp của hai thửa đất.
căn cứ khoản 5 Điều 113 Luật đất đai 2003 có quy định: “Cá nhân có quyền để
thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.”
Căn cứ Điều 739 Bộ Luật dân sự năm 1995 có quy định:
Điều 739. Người được để thừa kế quyền sử dụng đất.
Những người sau đây được để thừa kế quyền sử dụng đất:
1- Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm,
nuôi trồng thuỷ sản;
2- Cá nhân, thành viên của hộ gia đình được giao đất nông nghiệp để
trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở;
3- Cá nhân có quyền sử dụng đất do được người khác chuyển quyền sử
dụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.
Như vậy ông A là chủ sử dụng hợp pháp của hai thửa đất trên thì ơng A hồn
tồn đủ điều kiện để để lại thừa kế theo quy định của pháp luật.
Hai mảnh đất này hiện nay vẫn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
hay nói cách khác, thời điểm ơng A để lại thừa kế hai mảnh đất này cho B , hai
mảnh đất này khơng hề có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, thoe
quy định tại Điều 184 Nghị định 181/2004 NĐ-CP hướng dẫ thi hành luật đất đai
có quy định : “Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 người sử dụng đất phải có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mới được thực hiện các quyền về chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo
lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất” . Vậy, theo quy định của pháp luật năm
2004 thời điểm ông A chuyển nhượng quyền sử dụng hai miếng đất hợp pháp của
mình sang cho B khi khơng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được coi là hợp
pháp, và giao dịch này được pháp luật công nhận và bảo vệ.
2.2 Anh B sử dụng và thừa kế hai miếng đất trên có hợp pháp hay
khơng.
1980 Anh B sử dụng và quản lý hai mảnh đât này, thời điểm này không hề
pháp sinh giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, 1998 anh B đứng tên kê
khai là người sử dụng hai mảnh đất và có tên trong sổ địac hính, điều này chứng
minh anh B là người đang sử dụng mảnh đất.
Năm 2004 anh B được ông A để lại di sản là 2 mảnh đất anh đnag quẩn lý và
sử dụng.
Theo pháp luật tại năm hưởng thừa kế thì khơng có quy định về điều kiện
hưởng thừa kế đối với đất ở, tuy nhiên có điều kiện đối với người nhận thừa kế đất
nông nghiệp. cụ thể:
Điều 740 Bộ luật dân sự 1995 có quy định: Điều kiện được thừa kế quyền sử
dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, ni trồng thuỷ sản.
Người có đủ các điều kiện sau đây thì được thừa kế quyền sử dụng đất theo di
chúc hoặc theo pháp luật đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi
trồng thuỷ sản:
1- Có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục
đích;
2- Chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của
pháp luật về đất đai.
Vậy anh B được quyền hưởng thừa kế mảnh đất trồng cây lâu năm rộng
1000m2 nếu chưa có đất nơng nghiệp, hoặc có đất nơng nghiệp nhưng chưa vượt
quá hạn mức mà pháp luật năm 2004 cho phép.
Do anh đã đứng tên trong sổ địa chính từ năm 1998 , điều này chứng minh
anh B có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích.
Cùng với đó, nếu anh chưa có đất nơng nghiệp hoặc có nhưng chưa vượt quy định
mức thì anh được thừa kế hai thửa đất này một cách hợp pháp.
Vì vậy việc mảnh đất này chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , thì
việc anh B được thừa kế là hợp pháp nếu anh B đáp ứng đủ điều kiện quy định tại
Điều 740 Bộ luật dân sự.
2.3
bà C có được thừa kế hai mảnh đất trên hay không.
Bà C là con ruột của ông A. theo quy định tại Điều 679 Bộ luật dân sự năm
1995 thì bà C là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A. Nếu anh B không
đủ điều kiện quy định tại Điều 740 Bộ luật dân sự, thì anh B khơng thể thừa kế
mảnh đất thứ hai rộng 1000m2. Khi bà C đủ điều kiện anh B không đủ điều kiện
quy định tại Điều 740 Bộ luật dân sự 1995 thì bà B có thể hưởng suất thừa kế của
mình theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 có quy
định: “2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình
hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa
kế.” như vậy bà C hết thời hiệu yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình. Bà có
thể u cầu kiện địi chia di sản là bất động sản có thời hiệu là 30 năm theo căn cứ
quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự 2015.
Tuy nhiên để xem xét trường hợp này cần có bằng chứng chứng minh cụ thể
rằng anh B không đủ điều kiện nhận miếng đất trồng cây lâu năm rộng 1000m2 và
bà C có đủ điều kiện. Để thực hiện được điều này yêu cầu bà C cung cấp thêm các
bằng chứng làm rõ.
Nếu bà C khơng thể cung cấp được, thì bà C khơng có quyền thừa kế trong
trường hợp trên, việc anh B thừa kế cả hai miếng đất là đúng quy định pháp luật.
Anh B tiến hành yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Luật đất đai năm 1995
Luật đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung
Luật đất đai năm 2014
Bộ luật dân sự 1995
Bộ luật dân sự năm 2005
Bộ luật dân sự năm 2015
Nghị định 181/2004/NĐ-CP