Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Tiểu luận nhóm QTKD môn kinh tế vĩ mô Ảnh hưởng dịch bệnh Covid 19 đến nền kinh tế Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (426.73 KB, 18 trang )

1


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

----------

KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI

TÁC ĐỘNG CỦA DỊCH COVID - 19 ĐẾN NỀN KINH TẾ
CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC
Nhóm thành viên : Lớp K22A1 QTKD
1. Thái Thị Vân Anh
2.
3.
4.
5.
6.

GVHD:
PGS.TS Mai Văn Xn

Hồng Thị Thùy Dung
Võ Thị Hồng Hạnh
Ngơ Xn Hồng
Nguyễn Anh Khoa
Phạm Trọng Tín ( Trưởng nhóm )

Huế, năm 2022


2


MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của vấn đề
2. Mục đích của việc nghiên cứu
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
II. NỘI DUNG
1. Khái quát chung tác động của đại dịch COVID-19 đến các nền kinh tế trên thế
giới
2. Tác động của dịch Covid 19 và nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam trong quý 3 năm 2021
2.1. Tác động đến tăng trưởng và một số lĩnh vực của nền kinh tế
2.2. Tác động đến khu vực doanh nghiệp
2.3. Vị thế trung tâm sản xuất bị lung lay
2.4. Ảnh hưởng đến nguồn cung thế giới
3. Giải pháp
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị

3


I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của vấn đề
Đại dịch COVID-19 tác động gần như đồng thời tới toàn bộ các nền kinh tế trên thế
giới nhưng theo các cơ chế khác nhau cả về phía cung và phía cầu. Mức độ ảnh hưởng phụ

thuộc rất nhiều vào cấu trúc của mỗi nền kinh tế cũng như sự liên kết của nền kinh tế đó
với phần cịn lại của thế giới. Sự bùng phát dịch COVID-19 đã mang lại những thách thức
chưa từng có, được dự báo sẽ có những tác động đáng kể đến sự phát triển nền kinh tế Việt
Nam trong năm nay.
Chín tháng năm 2021, dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Việt Nam. Đặc
biệt, đợt dịch kéo dài từ tháng 7 đến nay tại các tỉnh Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu
Long và Hà Nội phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 trong thời gian dài đã ảnh
hưởng đến kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) cả nước, theo đó, GDP quý III/2021 có mức
giảm sâu nhất kể từ khi tính và cơng bố GDP theo q tại Việt Nam.
Tơi hy vọng nghiên cứu này có thể giúp các doanh nghiệp chuẩn bị, đối phó và vượt
qua mơi trường đầy rủi ro và biến động.

2. Mục đích của việc nghiên cứu:
Nghiên cứu các tác động của dịch Covid đến các hoạt động kinh doanh của nền kinh tế
Việt Nam và các phản ứng chính sách của doanh nghiệp, Nhà nước

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: Khu vực hoạt động kinh tế của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Quý 3 năm 2021

4


II.
NỘI DUNG
1. Khái quát chung tác động của đại dịch COVID-19 đến các nền kinh tế trên thế
giới:
1.1. Về phía cung
Biện pháp chống dịch được các quốc gia sử dụng phổ biến là cách ly và tạo khoảng
cách xã hội khiến nguồn cung lao động giảm mạnh, đặc biệt trong những khu vực đòi hỏi

sự tham gia trực tiếp của lao động vào q trình sản xuất. Ngồi ra, với những vùng tâm
dịch, việc đóng cửa những hoạt động khơng thiết yếu, thực thi những quy tắc hạn chế đi
lại, khiến cho nhiều hoạt động sản xuất bị ngưng trệ.
Với việc hoạt động sản xuất được thiết kế dựa trên chuỗi cung ứng toàn cầu, sự đứt gãy
trong sản xuất đầu vào tại một quốc gia sẽ dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình sản
xuất tiếp theo tại quốc gia khác.
Trong bối cảnh hiện nay, dù Trung Quốc đã kiểm sốt được dịch bệnh, dần khơi phục
hoạt động sản xuất trong nước, nhưng EU và Mỹ đang là tâm dịch, sự gián đoạn trong
chuỗi cung ứng toàn cầu là điều khơng thể tránh khỏi, do vai trị của Mỹ và Châu Âu trong
chuỗi là vô cùng quan trọng.
Một điểm tích cực là ảnh hưởng bất lợi tới phía cung sẽ dịu bớt khi tình hình dịch bệnh
tại các quốc gia được kiểm soát. Nếu xét theo thực tiễn của Trung Quốc, nhiều chuyên gia
cho rằng hoạt động sản xuất có thể dần được hồi phục từ quý 2 năm 2020. Tuy nhiên,
cũng tồn tại một số quan điểm bi quan, cho rằng dịch bệnh khó có thể được kiểm sốt một
cách triệt để trên bình diện rộng, và hoạt động sản xuất có thể rơi vào trạng thái “tắt/bật”
(on/off) trước những diễn tiến cụ thể của tình hình dịch bệnh.

1.2. Về phía cầu:
Nếu như ảnh hưởng của dịch COVID-19 tới phía cung có thể được kiểm sốt theo tình
hình của dịch bệnh, thì những tác động tới phía cầu được xem là khó dự đốn.
+ Tác động trực tiếp: khi người dân được khuyến cáo hạn chế ra ngoài, lượng người
mua hàng tại các cửa hàng và trung tâm thương mại giảm đột ngột, khiến cầu có thể biến

5


mất khỏi thị trường. Dẫu cho hoạt động thương mại điện tử có thể phần nào khắc phục
hiện tượng trên, những ảnh hưởng của hạn chế đi lại tới nhu cầu là rất lớn
Ngoài ra, với việc hoạt động sản xuất ngưng trệ, các doanh nghiệp có thể tạm thời
ngừng hoạt động, người lao động có thể bị ngưng việc hay thậm chí rơi vào trạng thái thất

nghiệp. Sự mất mát trong thu nhập sẽ khiến cho cầu của đối tượng này giảm mạnh. Ảnh
hưởng kể trên sẽ đặc biệt nghiêm trọng đối với những người nằm ngoài vùng phủ của bảo
hiểm thất nghiệp.
Hơn nữa, với sự lao dốc của thị trường chứng khoán, giá trị tài sản của các hộ gia đình
giảm mạnh, qua đó ảnh hưởng tiêu cực tới cầu tiêu dùng. Trong khoảng thời gian 1 tháng
qua, các chỉ số chứng khoán của những thị trường trọng yếu như Mỹ, EU, Nhật đã giảm
khoảng 30%.
+ Tác động gián tiếp: ảnh hưởng của dịch COVID-19 tới tâm lý của tác nhân kinh tế là
rất tiêu cực, khiến cho họ có trạng thái tâm lý trì hỗn tiêu dùng và đầu tư (hiện tượng này
được bộc lộ rõ trong cuộc suy thối kinh tế 2007-2009). trương chính sách và giải pháp cụ
thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng
trong từng thời kỳ nhất định.
Điều đáng lo ngại là những khó khăn của khu vực kinh tế thực có thể sẽ lây nhiễm
sang khu vực tài chính. Sự phá sản của các doanh nghiệp có thể tạo ra khủng hoảng nợ, là
tiền đề cho những đổ vỡ trong hệ thống tài chính của các quốc gia. Tuy nhiên, sau bài học
từ khủng hoảng tài chính 2007-2009, các quy định về an tồn tài chính ở các quốc gia đã
được siết chặt, cộng với những cam kết mạnh về đảm bảo thanh khoản của các ngân hàng
trung ương, trong ngắn hạn rủi ro khủng hoảng tài chính được đánh giá là không quá đáng
ngại.

2. Tác động của dịch Covid 19 và nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam trong quý 3 năm 2021
2.1. Tác động đến tăng trưởng và một số lĩnh vực của nền kinh tế:
GDP quý III/2021 giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngoại trừ khu vực
nơng, lâm nghiệp và thủy sản đạt tăng trưởng dương 1,04% nhưng vẫn rất thấp trong 10
6


năm qua (chỉ cao hơn mức tăng trưởng 0,97% của 9 tháng năm 2016); Khu vực công
nghiệp và xây dựng, Khu vực dịch vụ đều giảm lần lượt là 5,02% và 9,28%. Mặc dù GDP

quý III/2021 giảm sâu nhưng tính chung 9 tháng, tăng trưởng GDP vẫn đạt 1,42% so với
cùng kỳ năm trước; trong đó ngồi khu vực dịch vụ giảm 0,69% thì khu vực nơng, lâm
nghiệp và thủy sản, khu vực dịch vụ vẫn đạt tăng trưởng dương lần lượt là 2,74% và
3,57% nhưng đều thấp hơn so với kỳ vọng.

Hình 1: Tăng trưởng kinh tế quý III/2021
- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng thấp (+1,04%) trong quý III/2021
do ảnh hưởng giãn cách xã hội kéo dài đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất, thu hoạch, tiêu thụ
nông sản. Đặc biệt là nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long khi đến hơn 90%
sản lượng cá tra và tôm nước lợ tập trung tại vùng này. Sản lượng thủy sản nuôi trồng cả
nước quý III/2021 giảm 8,8%, trong đó cá tra giảm gần 20% và tôm giảm 5,2%.
- Khu vực công nghiệp và xây dựng suy giảm ở hầu hết các ngành trong quý III, trong
đó giảm mạnh nhất là ngành xây dựng và khai khoáng với mức giảm lần lượt là 11,41% và
8,25%. Đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ln giữ vai trị là động lực tăng
trưởng của nền kinh tế thì sang quý III giảm 3,24%.
- Khu vực dịch vụ quý III/2021 giảm kỷ lục do thời gian giãn xã hội cách kéo dài (giảm
9,28%). Trong đó, ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm 54,8% (20 tỉnh, thành phố trực
7


thuộc Trung ương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 chiếm 63% ngành dịch vụ cả
nước); vận tải kho bãi giảm 21,1%; bán buôn, bán lẻ giảm gần 20%. Tuy nhiên trong quý
III/2021 một số ngành đạt mức tăng trưởng dương, đặc biệt ngành Y tế và hoạt động trợ
giúp xã hội tăng rất cao 38,7% do dồn sức chống dịch; hoạt động tài chính, ngân hàng và
bảo hiểm tăng 7,1% do tăng trưởng tín dụng đạt tốt; hoạt động thông tin và truyền thông
tăng 5,3% với sản lượng chủ yếu phục vụ cơng tác phịng chống dịch và hoạt động quản lý
của các cơ quan nhà nước, học tập của học sinh, sinh viên v.v…
- Hoạt động kinh tế quý III/2021 suy giảm mạnh chủ yếu do các biện pháp ngăn chặn
nghiêm ngặt được áp dụng trên phạm vi rộng, thời gian kéo dài theo Chỉ thị 16 để kiểm
soát dịch bệnh, đặc biệt tại các tỉnh Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Hà Nội;

tổng GRDP của 20 tỉnh, thành phố này chiếm gần 57% GDP (Thành phố Hồ Chí Minh
chiếm 17%; Hà Nội chiếm 12,6%; Bình Dương 4,8%; Đồng Nai chiếm 4,5%; Bà RịaVũng Tàu chiếm 3,8%). Trong đó khu vực cơng nghiệp, xây dựng chiếm gần 53% khu
vực công nghiệp và xây dựng của cả nước; khu vực dịch vụ chiếm hơn 63%. Do chiếm tỷ
trọng lớn nên mỗi biến động trong tăng trưởng GRDP của các tỉnh, thành phố trọng điểm
này đều có ảnh hưởng khơng nhỏ tới GDP của toàn nền kinh tế. Khi đại dịch bùng phát,
giãn cách xã hội kéo dài dẫn đến đứt gãy lưu thông, sản xuất kinh doanh bị đình trệ. Nhiều
doanh nghiệp đã buộc phải lựa chọn phương án sản xuất “3 tại chỗ” hoặc “1 cung đường,
2 điểm đến” nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, nếu không sẽ phải tạm ngừng hoạt
động làm ảnh hưởng đến các đơn hàng đã ký kết trước đó. Tuy nhiên, để hoạt động như
vậy các doanh nghiệp cũng phải chịu chi phí vận hành rất lớn, lực lượng lao động thiếu
hụt do nghỉ việc, cung ứng nguyên vật liệu bị gián đoạn nên nhiều doanh nghiệp xuất khẩu
đã khơng thể hồn thành đơn hàng đúng hạn, phải giãn hoặc hủy bỏ hợp đồng. Nhiều
doanh nghiệp bị phá sản, giải thể do kiệt quệ, không đủ lực để chống chịu dịch bệnh kéo
dài. Một số doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh hoặc kinh doanh cầm chừng, trì
hỗn việc sản xuất do khơng hiệu quả, thua lỗ trong điều kiện rất khó khăn.
- Trong khâu lưu thơng, vận chuyển hàng hóa giữa các tỉnh, thành phố bị hạn chế tối đa,
thậm trí mọi loại hình vận tải phải ngưng hoạt động tại các tỉnh giãn cách xã hội. Hoạt
động nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng gặp nhiều khó khăn do khơng thể lưu thông được
8


hàng hóa nơng sản. Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm
ngừng thu mua nông sản, doanh nghiệp đóng hàng xuất khẩu khơng hoạt động hoặc hoạt
động cầm chừng khiến nhiều nông sản (lúa, hoa quả các loại) không thể xuất khẩu. Không
thể tiêu thụ sản phẩm do ách tắc khâu lưu thơng, chi phí vận tải, bảo quản tăng cao nên giá
thu mua hàng nông sản giảm mạnh nhưng giá bán tới tay người tiêu dùng ở mức cao do
chi phí lưu thơng tăng cao. Tùy vào tình hình dịch bệnh, các địa phương đã thực hiện giãn
cách xã hội nghiêm ngặt theo Chỉ thị 16+, Chỉ thị 16 hoặc Chỉ thị 15 dẫn đến các hoạt
động thương mại, lưu trú ăn uống rơi vào tình trạng bế tắc. Hầu hết các cơ sở kinh tế trong
lĩnh vực này phải đóng cửa; chỉ một số cơ sở lưu trú được phép cung cấp dịch vụ cho

người bị cách ly có thể hoạt động cầm chừng để duy trì khơng rơi vào tình trạng phá sản.

2.2 . Tác động đến khu vực doanh nghiệp:
Bên cạnh các số liệu thống kê chính thức, để có thể thấy rõ hơn tác động của đại dịch
COVID-19 đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chúng tôi tiến hành
khảo sát ý kiến của 510 doanh nghiệp (tính đến ngày 01/04/2020). Mẫu doanh nghiệp này
bao gồm 92,6% doanh nghiệp ngoài NN, 6,08% doanh nghiệp FDI và 1,76% DNNN.
Trong đó các doanh nghiệp thuộc ngành dịch vụ chiếm 65,1%, công nghiệp và xây dựng
29,8% và nông nghiệp 5,1%. 69,3% các doanh nghiệp tại Hà Nội, 12,2% tại TP. Hồ Chí
Minh và 18,5% tại các địa phương khác. Trong số này có 61,56% doanh nghiệp có quy mơ
lao động dưới 50 người và 82,74% doanh nghiệp dưới 200 người.

Hình 2: Biểu đồ kết quả khảo sát tác động của dịch bệnh
9


Kết quả khảo sát của ĐH KTQD Kết quả nghiên cứu số liệu báo cáo của các cơ quan
quản lý Nhà nước và kết quả khảo sát doanh nghiệp của ĐH KTQD cho thấy, cho đến thời
điểm hiện tại, tác động của COVID-19 đến khu vực doanh nghiệp đã bắt đầu bộc lộ một
cách rõ ràng trong tất cả các ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp. Kết quả khảo sát
cho thấy có đến 93,9% các doanh nghiệp điều tra đánh giá dịch Covid-19 có tác động tiêu
cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các tác động này thể hiện rõ nhất ở các khía
cạnh. Kết quả sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng:

Hình 3: Biểu đồ thể hiện sự tác động của dịch bệnh

2.3 . Vị thế trung tâm sản xuất bị lung lay:
Trong bài báo đăng trên mạng ngày 31/08, nhật báo tài chính của Anh Financial Times
nhận định là đợt dịch Covid mới đang ảnh hưởng nặng nề đến vị thế của Việt Nam, vốn
được xem là một trong những trung tâm sản xuất hàng đầu của châu Á.

Tờ báo cho biết là trang Nikkei Asia của Nhật nay xếp Việt Nam ở thứ hạng 120 về chỉ
số Hồi phục Covid-19, tức là chỉ số về quản lý dịch bệnh và tỷ lệ tiêm chủng, hai mặt mà
Việt Nam đều tỏ ra yếu kém.
Theo nhận định của Financial Times ngày 31/08, do chiến lược trước đây để phịng
chống Covid-19 khơng cịn hiệu nghiệm nữa, chính quyền Hà Nội nay phải tập trung vào
10


việc kiềm chế đà lây nhiễm và cố giữ cho sản xuất không bị ngưng trệ. Một số doanh
nghiệp đã áp dụng mơ hình “3 tại chỗ” ( cơng nhân làm việc, ăn, ngủ ngay tại nơi sản xuất
), nhưng mơ hình này rất khó được duy trì lâu dài đối với người lao động và rất tốn kém
cho các doanh nghiệp.
Một số công ty đa quốc gia phải mướn phòng cho các lãnh đạo của họ tại các khách
sạn gần trụ sở công ty. Nhưng vào tháng trước, tập đồn đầu tư VinaCapital, trong một
thơng tin gởi đến các khách hàng, đã nhấn mạnh là các công ty lớn thì có thể chịu được
các chi phí về khách sạn, nhưng cịn các cơng ty sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng
thấp như giày da, quần áo, … thì rất khó mà duy trì sản xuất. VinaCapital ghi nhận xuất
khẩu các mặt hàng này của Việt Nam đã sụt giảm trong tháng 8 và sự sụt giảm này sẽ ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Financial Times trích lời bà Nguyễn Phương Linh, Phó GĐ công ty tư vấn Control
Risks: “ Các biện pháp hạn chế đang kìm hãm nặng nề khả năng sản xuất của Việt Nam.
Một số doanh nghiệp nay không dám nhận đơn đặt hàng mới nữa, vì sợ khơng thể đáp ứng
được, do tình trạng thiếu nhân cơng".
Tuy vậy, đối với bà Nguyễn Phương Linh, sự ngưng trệ sản xuất có thể chỉ là một vấn
đề ngắn hạn, “vì Việt Nam vẫn là một địa điểm hấp dẫn so với nhiều nước khác ở châu
Á.”
Chính phủ Hà Nội đã đề ra mục tiêu là đến ngày 15/09 sẽ kiềm chế được dịch Covid19, cụ thể là phải làm sao đến ngày đó sẽ giảm được 20% số ca tử vong mỗi ngày và số ca
xuất viện nhiều hơn số ca nhập viện. Nhưng vấn đề là Việt Nam có thể nhanh chóng
khống chế khủng hoảng y tế để giữ chân các nhà đầu tư ngoại quốc hay không.


2.4 . Ảnh hưởng đến nguồn cung thế giới:
Theo Financial Times, các nhà máy của những thương hiệu quốc tế lớn như Nike và
Adidas đã ngưng hoạt động, gây xáo trộn chuỗi cung ứng tồn cầu, đến mức có người tiên
đốn mùa Noel năm nay thế giới sẽ khan hiếm giày! Hãng Toyota cũng đã đình chỉ sản
xuất tại 27 dây chuyền tại 14 nhà máy của họ ở Nhật Bản, do khan hiếm các phụ tùng sản
xuất tại Đông Nam Á, phần lớn là ở Việt Nam.
11


Các biện pháp hạn chế của Việt Nam để phòng chống dịch Covid-19 cũng đang gây lo
ngại ngày càng nhiều cho chuỗi cung ứng cà phê tồn cầu, bởi vì Việt Nam là hiện là quốc
gia xuất khẩu cà phê đứng hàng thứ hai thế giới.
Nhật báo Anh Independent hôm 1/9 cho biết là do Sài Gòn, trung tâm xuất khẩu chính
của Việt Nam, đang hạn chế đi lại, cho nên việc vận chuyển cà phê robusta từ Việt Nam bị
ảnh hưởng rất nhiều, trong khi đây là loại cà phê được dùng nhiều nhất để sản xuất cà phê
hòa tan uống liền và một số nhãn hiệu cà phê espresso. Số tàu container ít đi, thì chi phí
vận chuyển tăng lên. Một số vùng trồng cà phê ở Việt Nam hiện cũng bị các biện pháp hạn
chế phòng chống dịch.
Tình hình dịch Covid-19 ở Việt Nam gây thêm lo ngại cho các thị trường cà phê là bởi
vì Brazil, quốc gia sản xuất nhiều nhất thế giới cà phê robusta dùng để chế biến cà phê cao
cấp, năm nay đã bị hai thiên tai hạn hán và đông giá, sản lượng sụt giảm mạnh, cho nên rất
có thể là giá bán cho người tiêu dùng sẽ tăng trong những tháng tới. Theo Independent, giá
bán sỉ cà phê robusta đã tăng 50% trong năm nay. Tuy nhiên, do nhiều nhà buôn cà phê đã
ấn định giá từ nhiều tháng trước, nên giá bán lẻ chưa tăng ngay.
Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam và các hiệp hội doanh nghiệp khác đã kêu gọi nới
lỏng các biện pháp hạn chế để xuất khẩu trở lại bình thường hơn, tránh những sự chậm trễ
và những chi phí khơng cần thiết. Chính phủ Việt Nam cho tới nay vẫn không đáp ứng yêu
cầu nới lỏng các biện pháp hạn chế, nhưng bộ trưởng Giao Thơng Việt Nam đã chỉ thị cho
các chính quyền địa phương khu vực Sài Gòn giúp tháo gỡ các rào cản gây trở ngại việc
vận chuyển hàng xuất khẩu, nhất là cà phê, ra khỏi Việt Nam.

Nhưng không chỉ có cà phê, trang tin Yahoo News ngày 01/09/2021 cho biết là đợt
Covid-19 lần này ở Việt Nam cũng đang góp phần làm chậm lại chuỗi cung ứng hàng may
mặc toàn cầu.
Trong những năm gần đây, nhiều nhà bán lẻ và nhà cung cấp đã chuyển hoạt động từ
Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á để đa dạng hóa nguồn cung. Các thương hiệu lớn
như Nike, Lululemon, Gap cho biết một số lượng đáng kể, nếu không muốn nói là đa số,
các sản phẩm của họ nay được sản xuất từ Việt Nam. Nhưng do Việt Nam ban hành các
12


biện pháp hạn chế nghiêm ngặt, các công ty buôn bán hàng may mặc nay cịn gặp khó
khăn hơn về nguồn cung.
Nói chung là do đợt dịch mới này, ngành dệt may hiện đang đối mặt với những khó
khăn chưa từng có và dự báo khó có thể đạt con số xuất khẩu năm 2021 như dự kiến là 39
tỷ đơla.
Báo cáo của Tập đồn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho biết chỉ trong vòng 1 tháng,
"số lượng lao động tạm thời khơng thể đi làm của tập đồn đã lên tới trên 40.000 người,
chủ yếu tại khu vực phía Nam".
Còn theo một lãnh đạo của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), được Thơng tấn xã
Việt Nam trích dẫn ngày 20/08, "việc thực hiện giãn cách xã hội kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn
đến kết quả kinh doanh của các công ty dệt may với khoảng 50% nhà máy đặt tại miền
Nam". Hiện tỷ lệ nhà máy phải đóng cửa đã lên tới 35% do khơng đủ kinh phí để thực
hiện "3 tại chỗ."
Trang mạng SeafoodSource ngày 01/09 cho biết là các lãnh đạo ngành hải sản của Việt
Nam cũng đang ngày càng lo ngại về tác động kinh tế của đợt dịch Covid-19 lần này.
Lý do là trong số hơn 390.000 người bị nhiễm virus corona từ ngày 27/04, đa số là
sống ở miền Nam, nơi tập trung nhiều cơ sở nuôi trồng thủy sản. Các biện pháp an toàn
dịch tễ, giãn cách xã hội ở hàng chục tỉnh thành, cũng như việc các cơ sở chế biến thủy
sản hạn chế hoạt động, khiến sản lượng thủy sản của Việt Nam giảm mạnh. Nay các doanh
nghiệp trong ngành này lo ngại là những khó khăn trong hoạt động nuôi trồng thủy sản,

cũng như sự bất định về mức cầu và về khả năng xuất khẩu sẽ ảnh hưởng nặng nề đến
mùa thu hoạch tôm thứ hai trong năm.
Các hộ nuôi trồng tôm quy mô nhỏ vẫn ký hợp đồng bán sản phẩm của họ cho các
công ty kinh doanh thủy sản lớn hơn thì ngại trữ nhiều tơm trong ao hồ của họ, và như vậy
có nguy cơ là đến cuối năm sẽ khan hiếm tôm, theo lời bà Võ Thị Tường Oanh, công ty
Siam Canadian Việt Nam, được trang SeafoodSource trích dẫn. Cịn đối với những hộ
ni tôm đã ký cam kết bán sản phẩm của họ, nhiều người gặp khó khăn khi tìm mua thức
ăn cho tơm, do tình trạng khan hiếm xuất phát từ việc hai trong số nhà máy lớn nhất về
13


thức ăn cho tôm, chiếm đến 70% nguồn cung cấp, đang đóng cửa do đại dịch. Tình hình
lại cịn khó khăn hơn, do phần lớn các trại nuôi tôm giống cũng đang đóng cửa.

3. Giải pháp:
Kết quả từ cuộc khảo sát của Đại học Kinh tế quốc dân cho thấy, để đối phó với những
khó khăn do tác động của đại dịch, các doanh nghiệp đã có các giải pháp cụ thể. 65,5%
doanh nghiệp thực hiện cắt giảm chi phí hoạt động thường xuyên; 35,3% doanh nghiệp
phải cắt giảm lao động; 34,0% phải cắt giảm lương nhân công lao động và 34,5% doanh
nghiệp đã phải cho lao động nghỉ việc không lương; 44,7% doanh nghiệp cắt giảm qui mô
sản xuất kinh doanh; 34,7% các doanh nghiệp lựa chọn tạm dừng hoạt động sản xuất kinh
doanh để chờ qua thời kỳ khó khăn và 15,1% doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi hình
thức sản xuất kinh doanh cho phù hợp với bối cảnh mới

Hình 4: Biểu đồ thể hiện các giải pháp được các doanh nghiệp áp dụng
Mặt khác chính chủ đã có những chính sách nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. Theo kết quả
khảo sát phản hồi của các DN về các giải pháp hỗ trợ quan trọng nhất của chính phủ. Các
chính sách được các doanh nghiệp đánh giá cao là cần thiết tiếp theo lần lượt là miễn,
giảm lãi phí ngân hàng (2.51 điểm); hỗ trợ cho vay vốn với mức lãi suất ưu đãi (2,6)
điểm); và cơ cấu lại thời hạn trả nợ và các khoản nợ (2,66 điểm). Trong bối cảnh nguồn

14


thu sụt giảm, nguồn vốn sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, các chính sách hỗ trợ
cho vay vốn với mức lãi suất ưu đãi là rất cần thiết nhằm giúp cho các doanh nghiệp duy
trì và khơi phục sản xuất kinh doanh. Dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, hiện tại,
nhiều ngân hàng thương mại đã thông báo giảm lãi suất cho vay tối đa 2,5%/năm so với
biểu lãi suất thông thường, nhất là với những lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế.

Hình 5: Biểu đồ thể hiện các giải pháp được các doanh nghiệp áp dụng
Các chính sách cịn lại, bao gồm: tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội, kinh phí cơng đồn
(2,78 điểm), khơng tăng chi phí điện, nước (2,9 điểm) và rà sốt, cắt giảm thủ tục hành
chính cho doanh nghiệp (3,08 điểm). Đây cũng là những chính sách rất cần thiết giúp
giảm chi phí hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong
khắc phục những hậu quả do dịch Covid-19 gây ra. Nhìn chung, các chính sách ở trên đều
được các doanh nghiệp đánh giá cao vì điểm trung bình về mức độ cần thiết của từng
chính sách đều thấp hơn mức trung bình chung là 3,5. Tuy nhiên, dường như chưa có
chính sách nào vượt trội hơn cả nhằm đáp ứng nhu cầu của số đơng doanh nghiệp do
khơng có chính sách nào đạt số điểm trung bình dưới 2.

15


III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Qua rà soát tác động của đại dịch đến nền kinh tế cũng như phản ứng chính sách của
các quốc gia, một số các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam được đúc kết lại như sau:

 Ưu tiên cao nhất cho hoạt động chống dịch:
Trong bối cảnh dịch COVID-19, mỗi đồng chi tiêu cho cơng tác chống dịch đều có thể

mang lại ngoại ứng tích cực vơ cùng lớn. Sự thành cơng trong kiểm soát dịch là điều kiện
căn bản để hồi phục các hoạt động kinh tế.

 Sử dụng nguồn lực tài khóa để trực tiếp ổn định đời sống của người dân
Tác động của dịch bệnh và các biện pháp chống dịch là sự đình trệ trong sản xuất và
sinh hoạt của người dân. Do vậy, một số quốc gia sử dụng hình thức hỗ trợ trực tiếp bằng
tiền trong giai đoạn cao điểm chống dịch để giúp người dân đảm bảo những nhu cầu thiết
yếu trong sinh hoạt. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ duy trì khả năng
thanh tốn, hỗ trợ trả lương cho người lao động trong khoảng thời gian ngưng việc cũng
được nhiều nước áp dụng.

 Các nước đang phát triển gặp phải nhiều giới hạn trong lựa chọn chính sách
Với quy mơ kinh tế nhỏ và nguồn lực tài khóa hạn hẹp, các quốc gia đang phát triển
khó có thể triển khai sâu rộng chính sách hỗ trợ người lao động, các doanh nghiệp nhỏ
chịu ảnh hưởng từ đại dịch. Ngoài ra, những người lao động nằm ngoài vùng phủ của bảo
hiểm thất nghiệp, vốn chiểm tỷ lệ lớn tại các quốc gia này, sẽ khó có thể nhận được sự hỗ
trợ hiệu quả. Trong tình huống khẩn cấp, sự vận hành của các ngân hàng thực phẩm có thể
xem là một giải pháp giảm nhẹ thích hợp.

 Chính sách tiền tệ là công cụ hỗ trợ, ngăn ngừa đổ vỡ tài chính trong ngắn hạn
Chính sách tiền tệ với đặc điểm là có độ trễ lớn, do đó sẽ chỉ phát huy tác dụng kích
thích kinh tế khi quốc gia bắt đầu kiểm sốt được dịch, bắt đầu q trình hồi phục. Vì thế,
trong giai đoạn hiện nay vai trị chủ yếu của chính sách tiền tệ là đảm bảo hệ thống tài
chính vận hành thơng suốt, duy trì khả năng thanh khoản của các tổ chức tài chính, hỗ trợ
16


khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

2. Kiến nghị:

 Đối với doanh nghiệp:
Tái cơ cấu doanh nghiệp theo hướng giảm đầu mối, tăng hiệu quả, cập nhật công nghệ,
cơ cấu và đào tạo lại nhân lực.
Phát triển các nguồn nguyên vật liệu trong nước, tìm và thay thế các nguồn nhập khẩu,
phát triển các nguồn nguyên liệu và liên kết sâu với các nhà cung ứng nội địa.

 Đối với Ngân hàng Nhà nước và các Tổ chức tín dụng:
NHNN Trợ giúp trực tiếp về thanh khoản cho những ngân hàng có hỗ trợ thiết thực và
cụ thể đối với doanh nghiệp gặp khó khăn, thơng qua đó trợ giúp thanh khoản cho hệ
thống doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV bị ảnh hưởng bởi đại dịch. Xem xét tiếp tục hạ
lãi suất điều hành thêm từ 0,1 - 0,2% trong 1-2 tháng tới, hoặc xem xét tăng chỉ tiêu tăng
trưởng tín dụng, nhưng chỉ áp dụng cho những ngân hàng có những hỗ trợ thiết thực đối
với các doanh nghiệp.
Bổ sung thêm danh mục thứ 6 về các đối tượng được hưởng ưu tiên về lãi suất trần
trong điều 13, khoản 2, Thông tư 39/2016/TT-NHNN về Quy định hoạt động cho vay của
TCTD: “Phục vụ lĩnh vực bị ảnh hưởng trực tiếp của đại dịch hoặc biến đổi khí hậu”
NHNN tăng cường các biện pháp ổn định tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn
Các TCTD tận dụng cơ hội để phát triển thị trường, sản phẩm, kênh phân phối mới
Các TCTD cần thống nhất và thông báo tới các doanh nghiệp “chuẩn chung” cho công
cuộc “giải cứu” nếu không muốn bị lạm dụng và dòng vốn đi sai mục tiêu ban đầu

 Đối với các bộ ban ngành liên quan:
Giảm, miễn một số loại thuế (thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, thu nhập cá
nhân) với quy mô hợp lý, đẩy mạnh xúc tiến triển khai dịch vụ thuế điện tử eTax
Phối hợp với Bộ KHĐT có kế hoạch giải ngân chi tiết cụ thể các dự án, chương trình
lớn; Ban hành tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách nhà nước,
nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư công; có thể hỗn một số chương trình
17



đầu tư chưa quan trọng; nâng hạn mức gói thầu được cho phép chỉ định thầu. Đẩy mạnh
triển khai việc đấu thầu qua mạng.
Hỗ trợ về bảo hiểm xã hội cho nhóm các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi đại dịch
COVID-19.
Hỗ trợ trực tiếp của chính phủ đối với lao động bị ảnh hưởng bởi COVID-19

18



×