TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GỊN
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MƠN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
TÊN TIỂU LUẬN:
Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của
thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay
Họ và tên sinh viên: Phan Thị Ngọc Lệ
Mã số sinh viên: 3120550043
TP. HỒ CHÍ MINH, 01 tháng 01 năm 2022
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Kết cấu của tiểu luận
Trang
1
1
1
2
2
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
3.1. Giá trị hàng hóa sức lao động
2
2
3
3
3
3.2. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
4
4. Thị trường hàng hoá sức lao động
4
4.1. Cung hàng hoá sức lao động
4
4.2. Cầu hàng hoá sức lao động
5
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
5
1.Thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam hiện nay
5
1.1. Thực trạng thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam
5
1.1.1. Thực trạng cung hàng hoá sức lao động
5
1.1.2. Thực trạng cầu hàng hoá sức lao động
7
1. Khái niệm
2. Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
3. Thuộc tính của hàng hóa sức lao động
1.2. Thị trường xuất khẩu lao động
2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng thị trường hàng hoá
sức lao động ở Việt Nam
7
2.1. Giải pháp đối với cung hàng hoá sức lao động
8
8
2.2. Giải pháp đối với cầu hàng hoá sức lao động
8
3. Trách nhiệm của bản thân đối với vấn đề hàng hoá
sức lao động của Việt Nam
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
9
10
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bất kì hoạt động sản xuất nào đều có sự tham gia của con người, hay nói cách khác
chính là sự tham gia của loại hàng hóa đặc biệt “Sức lao động”. Máy móc, kỹ thuật,
cơng nghệ phát triển đến mức nào cũng khơng thể phủ nhận đi vai trị thiết yếu của sức
lao động, vì sức lao động là căn bản tạo nên chúng và tham gia trực tiếp vào lao động
sản xuất. Hàng hóa sức lao động được coi là đặc biệt vì nó bao hàm về thể lực và tinh
thần của một cơ thể sống. Bên cạnh đó, sức lao động chỉ hình thành khi có đủ hai điều
kiện là người lao động phải được tự do về thân thể và bán đi sức lao động của mình.
Cùng ᴠới ѕự phát triển ᴠà hội nhập của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần
đâу, vấn đề lao động càng ngày càng được quan tâm bởi các doanh nghiệp trong nước
và nước ngồi. Hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa sức lao
động ở Việt Nam hiện nay một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội
dung rất rộng lớn và phong phú, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, địi hỏi phải có sự
nghiên cứu nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách khoa học, sâu sắc. Hàng hóa sức
lao động hay yếu tố con người là vơ cũng cần thiết và quan trọng trong tất cả các lĩnh
vực kinh tế, xã hội,... Việt Nam là nước đang phát triển chưa có sự phát triển cơng
nghệ trình độ cao nên nhân tố hàng hóa sức lao động càng trở nên có vai trị to lớn
hơn. Hàng hóa sức lao động có sự đặc biệt và góp phần lớn vào sự phát triển của đất
nước. Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động đã có những luận điểm khoa
học, toàn diện và biện chứng. Trên cơ sở đó tạo tiền đề vững chắc cho việc lí giải và
áp dụng vấn đề hàng hóa sức lao động vào thực tiễn sản xuất của thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng. Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh vấn đề hàng hóa lao động trở
nên cấp thiết hơn bao giờ hết để vừa có thể chống dịch vừa phát triển kinh tế. Do đó,
bài luận chủ đề “Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của
thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay” mang tính thực tiễn và có vai
trị tương đối với vấn đề hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng
hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.
Mục đích
Rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với thị trường sức lao động hiện nay và sự
ảnh hưởng của nó lên các lĩnh vực khác. Liên hệ với thị trường sức lao động hiện nay
1
của Việt Nam để có cách nhìn nhận khách quan về đặc điểm, thực trạng, hạn chế. Từ
đó đề ra các phương pháp nâng cao và phát triển thị trường sức lao động Việt Nam
trong thời kì Cơng nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước và dịch bệnh.
2.2.
Nhiệm vụ
- Bài tiểu luận sẽ giải thích, phân tích để từ đó làm rõ các khái niệm liên quan đến
hàng hóa sức lao động dựa trên Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động.
- Nghiên cức thực trạng, đặc điểm của thị trường sức lao động Việt Nam hiện nay.
- Nêu lên các hạn chế, bất cập của thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam từ đó
đưa ra giải pháp.
- Nhiệm vụ của bản thân đối với đề tài “Thị trường hàng hóa sức Lao động ở Việt
Nam”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Hàng hóa sức lao động của Các Mác và thị trường hàng hoá sức lao động
ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Từ khi thành lập lý luận của Các Mác về hàng hoá sức lao động
đến nay.
4. Kết cấu của tiểu luận
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Nội dung
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm
Theo định nghĩa của Các Mác, hàng hóa là sản phẩm của lao động, thơng qua trao
đổi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con người. Hàng hóa có
thể đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất.
Các Mác định nghĩa sức lao động là tồn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh
thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem
ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó.
2
Các Mác nói rằng: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực
thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được
người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”
Sức lao động là hàng hóa ở trạng thái đặc biệt. Sức lao động hay nhân tố con người
được coi là phần thiết yếu, căn bản trong hoạt động sản xuất.
2. Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Một là, người lao động tự do về thân thể. Sức lao động chỉ được chấp nhận khi
người lao động làm chủ được sức lao động của mình, đó khơng phải là người bị người
khác chiếm hữu như nơ lệ vì nơ lệ thuộc sự chiếm hữu của chủ nơ nên khơng thể bán
sức lao động của mình.
Hai là, người lao động khơng có đủ các tư liệu để sản xuất cần thiết để tự kết hợp
với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động.
Người làm các mặt hàng thủ cơng tự do có thể tự do bán sức lao động của mình nhưng
khơng thể coi đó là hàng hóa sức lao động vì họ có thể kết hợp sức lao động của mình
với các nguyên liệu để tạo ra hàng hóa thủ cơng để bán ra thị trường và ni sống bản
thân. Do đó, họ chưa cần bán sức lao động của mình nên đó khơng phải là hàng hóa.
Hàng hóa sức lao động chỉ xuất hiện khi có sự tồn tại đồng thời của hai điều kiện
trên.
3. Thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Tuy đặc biệt, nhưng hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị
sử dụng như các loại hàng hóa khác
3.1.
Giá trị hàng hóa sức lao động
Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để
sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định.
Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng
lực đó con người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như ăn,
ngủ, nghỉ,… Do đó, giá trị của hàng hoá sức lao động được đo lường gián tiếp thông
qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động.
Khác với các loại hàng hố thơng thường khác, hàng hố sức lao động đặc biệt vì
nó bao gồm cả yếu tố tinh thần và lịch sử của từng quốc gia, nó bao hàm từng phong
tục tập quán theo từng thời kì, trình độ văn minh, điều kiện địa lí khí hậu hay q trình
hình thành giai cấp cơng nhân. Các yếu tố đặc biệt của hàng hoá sức lao động nêu trên
3
được biểu hiện cụ thể qua các nhu cầu của con người trong tháp Maslow bao gồm vui
chơi, học tập, tiếp thu thơng tin, giao lưu văn hố, được tơn trọng,…
Giá trị hàng hoá sức lao động do ba bộ phận hợp thành gồm có:
Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra
sức lao động.
Hai là, phí tổn đào tạo người lao động.
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) nuôi con của
người lao động.
Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả của
hàng hoá sức lao động phải phản ánh lượng giá trị nêu trên.
3.2.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Người mua hàng hoá sức lao động mong muốn thoả mãn nhu cầu có được giá trị
lớn hơn, giá trị tăng thêm. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động được thể hiện
trong quá trình sử dụng sức lao động. Bên cạnh đó, có một số đặc tính riêng của giá trị
sử dụng sức lao động như: Đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng hàng hoá sức lao
động so với những loại hàng hoá khác là khi tiêu thị nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn
giá trị của bản thân sức lao động, phần lớn đó là giá trị thặng dư. Mặt khác, con người
là chủ thể của hàng hoá sức lao động, vì vậy các đặc điểm về tâm lý, kinh tế, chính trị
xã hội của người lao động quyết định việc cung ứng sức lao động ra ngoài thị trường.
4. Thị trường hàng hoá sức lao động
Thị trường hàng hoá sức lao động về cơ bản có các đặc điểm giống như các thị
trường trao đổi mua bán hàng hoá khác. Thị trường này cũng chịu sự chi phối của quy
luật cung cầu và thực hiện các nguyên tắc giá cả. Khi có sự thoả thuận hợp lý giữa
cung và cầu hàng hoá sức lao động, hai bên đồng ý trao đổi mua bán từ đó tạo ra thị
trường hàng hố sức lao động. Bên cung có thể nhận được thù lao tương xứng, cịn bên
cầu có người giúp sức cho sản xuất phát triển.
4.1.
Cung hàng hoá sức lao động
Cung hàng hoá sức lao động là nơi tập hợp những người có khả năng và nhu cầu
làm việc. Trong đó sức lao động của họ đáp ứng đầy đủ hai điều kiện của hàng hố sức
lao động. Những người đang có việc làm hoặc tạm thời khơng có việc làm đnag đi tìm
việc cũng được xem là nguồn cung của hàng hoá sức lao động.
4
Nguồn cung lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo các tay nghề lao động
như các trường đại học, cao đẳng, trường nghề, các doanh nghiệp,… Những người sở
hữu hàng hoá sức lao động phải là người có năng lực theo đúng pháp luật và trong độ
tuổi lao động hợp pháp. Ở Việt Nam độ tuổi trong lao động quy định nam giới từ 15
đến 60 tuổi, nữ giới từ 15 đến 55 tuổi và người trên tuổi lao động đang làm việc. Quy
mô cũng lao động phù thuộc vào từng đặc điểm cơ cấu dân số, chất lượng tay nghề,
văn hoá, kĩ thuật, phong tục, tập qn, chính sách,… của từng nước khác nhau.
4.2.
Cầu hàng hố sức lao động
Cầu lao động là lượng lao động mà người sử dụng lao động có thể thuê ở mỗi mức
giá có thể chấp nhận được.
Trong nền kinh tế thị trường cầu lao động là cầu dẫn xuất. Cầu lao động lúc này
cần thêm người cung cấp hàng hoá sức lao động để sản xuất ra một khối lượng hàng
hoá, sản phẩm nhất định. Tuỳ thuộc vào quy mô, nhu cầu sản xuất ra số lượng hàng
hoá khác nhau sẽ cầu số lượng hàng hoá sức lao động khác nhau. Cầu lao động đến từ
cá doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức,… hay do nhu cầu lao động nhập khẩu của nước
ngồi.
Cũng như cung hàng hố sức lao động, cầu lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như tài nguyên, quy mơ, trình độ cơng nghệ, cơ cấu ngành nghề, mức tiền lương,
phong tục, tập quán, chính sách của mỗi quốc gia.
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
1. Thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam hiện nay
1.1.
Thực trạng thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam
1.1.1. Thực trạng cung hàng hoá sức lao động
Cung lao động được xét trên hai phương diện là số lượng cung hàng hoá sức lao
động và chất lượng của hàng hoá sức lao động. Thị trường hàng hoá sức lao động Việt
Nam hay thị trường lao động Việt Nam trong tình hình dịch bệnh Covid hiện tại có
nhiều sự thay đổi phức tạp.
Thứ nhất, xét về phương diện số lượng cung hàng hoá sức lao động.
5
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Trong quý I năm 2021, thị trường lao
động Việt Nam đã hứng chịu những tác động xấu do sự bùng phát lần thứ 3 của Đại
dịch Covid 19. Kết quả điều tra lao động việc làm quý I năm 2021 ghi nhận số người
tham gia thị trường lao động giảm so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước. Lực
lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2021 là 51,0 triệu người, giảm 1,1
triệu người so với quý trước và giảm 180,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ
lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 62,6%, thấp hơn 12,7 điểm phần trăm so với
nam (75,3%). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của khu vực thành thị là 66,7%, trong
khi đó tỷ lệ này ở nơng thơn là 69,9%. Xem xét theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực
lượng lao động ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nơng thơn ở hầu hết các nhóm
tuổi, trong đó chênh lệch nhiều nhất được ghi nhận ở nhóm 15-24 tuổi (thành thị:
41,2%; nơng thơn: 48,0%) và nhóm từ 55 tuổi trở lên (thành thị: 35,0%; nông thôn:
47,9%).
Từ các con số thống kê trên cho thấy lực lượng nước ta trong đại dịch có xu
hưởng giảm nhưng vẫn chiếm số lượng khá đông đảo. Tuy nhiên, lực lượng lao động ở
nước ta có sự phân bố khơng đồng đều giữa các vùng kinh tế, giữa thành thị và nông
thôn, giữa cơ cấu các ngành kinh tế. Các con số trên phản ánh đến sự chênh lệch giữa
số lượng lao động nam và nữ với nhau. Hiện nay, Việt Nam đang là quốc gia có lượng
cung hàng hố sức lao động “dư thừa” so với cầu hàng hố sức lao động. Đó là hệ quả
của việc bùng nổ dân số trong những năm vừa qua. Đây là bất cập về thị trường hàng
hố sức lao động ở Việt Nam và cần có các phương pháp giải quyết hợp lý.
Thứ hai, xét về phương diện chất lượng hàng hoá sức lao động.
Thống kê của Tổng cục Thống kê vào quý I năm 2021 cũng phản ánh rằng: Lực
lượng lao động giảm so với quý trước và cùng kỳ năm trước, tỷ lệ lao động qua đào
tạo tăng, đạt 26,0%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên
quý I năm 2021 là 26,0%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,8
điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ qua đào tạo của lao động giữa khu
vực thành thị và nơng thơn vẫn có sự chênh lệch đáng kể. Tỷ lệ này ở khu vực thành
thị đạt 40,7%, cao hơn gấp 2,3 lần khu vực nông thôn (17,8%).
Trong tổng số 23,2 triệu người từ 15 tuổi trở lên khơng tham gia thị trường lao
động (ngồi lực lượng lao động) của quý I năm 2021 có đến 60,8% ở khu vực nông
thôn; họ chủ yếu ở độ tuổi đang đi học và nghỉ hưu. Phần lớn trong số họ chưa tham
6
gia khóa đào tạo nào từ sơ cấp trở lên (chỉ có 10,8% lao động khơng tham gia thị
trường lao động có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên).
Cơ cấu ngành của nước ta vẫn đang trên quá trình chuyển đổi tỉ trọng từ các
ngành nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn hơn. Do đó, vẫn
cịn tồn tại nhiều người lao động chân tay nhiều và trình độ thấp. Lao động của nước ta
được đánh giá là cần cù, chịu khó nhưng chưa đủ ở thời đại mới cần nhiều sự sáng tạo
vượt bậc về kĩ thuật và khoa học. Người lao động nước ta hầu hết chưa được trang bị
các kiến thức và kĩ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác và ngại phát huy chia sẻ
sáng kiến mới.
1.1.2. Thực trạng cầu hàng hoá sức lao động
Trong thời gian đại dịch Covid đã và đang xảy ra gây nên nhiều biến cố về kinh
tế xã hội, điều đó dẫn đến cầu lao động giảm sút. Bên cạnh đó, việc giảm cầu lao động
đến từ các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp,… là do sự phát triển của khoa học công
nghệ. Việc tự động hoá các dây chuyền sản xuất đã đe doạ đến nhiều người lao động
có trình độ thấp hoặc tay nghề kém, thiếu tư duy sáng tạo. Từ đó, kéo theo tỷ lệ thất
nghiệp trong nước tăng theo. Sự chênh lệch giữa cung và cầu hàng hoá sức lao động
giữa thời kì đại dịch trở nên càng khó giải quyết hơn bao giờ hết. Dân số càng ngày
càng tăng và số dân tham gia vào thị trường lao động tăng, tuy nhiên lượng cầu hàng
hoá sức lao động gảim sút hoặc đứng yên sẽ gây ra nhiều hệ luỵ phía sau. Do đó, cần
có các phương hướng đề xuất giải quyết tăng lượng cầu sao cho gần với lượng cung
hàng hố sức lao động nhất có thể nhằm tạo thế cân bằng và giúp đất nước phát triển.
1.2.
Thị trường xuất khẩu lao động
Theo báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội), tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngồi trong năm 2020 là
78,6 nghìn lao động, đạt 60,5% kế hoạch được giao (130 nghìn lao động), bằng
112,3% kế hoạch đã điều chỉnh của năm (70 nghìn lao động) do ảnh hưởng của dịch
bệnh Covid-19. Trong đó, số lao động xuất cảnh tại một số thị trường chính, bao gồm:
Nhật Bản: 38,8 nghìn lao động (15,9 nghìn nữ); Đài Loan: 34,5 nghìn lao động (12,4
nghìn lao động nữ); Hàn Quốc: 1,3 nghìn lao động; Rumani: 924 lao động; Trung
Quốc: 596 lao động nam; Singapore: 537 lao động;…
Đầu năm 2021, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang ảnh hưởng tiêu cực đến việc xuất
khẩu lao động. Theo đó, tính chung 4 tháng đầu năm 2021, tổng số lao động Việt Nam
7
đi làm việc ở nước ngồi là 34,9 nghìn lao động (trong đó có 13,5 nghìn lao động nữ),
đạt 38,79% kế hoạch năm 2021. Trong đó chủ yếu vẫn ở hai thị trường trọng điểm là
Nhật Bản với 18,3 nghìn lao động (8,1 nghìn lao động nữ) và Đài Loan với 15,0 nghìn
lao động (5,2 nghìn lao động nữ). Một số thị trường khác: Trung Quốc có 415; Hàn
Quốc có 289 lao động nam; Hungary có 204; Rumania có 202; Singapore có 129 lao
động nam; UAE có 43 lao động…
Ảnh hưởng của dịch bệnh trong vòng 2 năm qua gây ra nhiều thiệt hại không chỉ
đối với Việt Nam mà đến tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Việc xuất khẩu lao
động cũng vì thế sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại hơn. Các nước sẽ có các chính sách
chặt chẽ hơn về của khẩu và về các lao động đến từ nước ngồi. Lượng cung hàng hố
sức lao động đang dư thừa nhiều kết hợp với việc xuất khẩu lao động đình trệ sẽ giảm
sút thu nhập cho người lao động và đất nước. Có nhiều trường hợp trúng tuyển nhưng
vì tình hình dịch bệnh nên phải hoãn hoặc huỷ. Những điều trên gây e ngại cho các
người trong độ tuổi lao động đang có ý định đi xuất khẩu lao động. Hệ luỵ cuối cùng
sẽ gâu ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả phía cung và cầu của hàng hoá sức lao động
của đất nước.
2. Một số biện pháp nâng cao chất lượng thị trường hàng hoá sức lao động ở
Việt Nam
2.1.
Giải pháp đối với cung hàng hố sức lao động
Hàng hố sức lao động sẽ có cơ hội và phát triển hơn khi các lao động được
nâng cao chất lượng đi kèm với số lượng. Tức là cần có các chính sách, chương trình
đào tạp nâng cao trình độ và chun nghiệp hố cho các lao động. Cần có các định
hướng nghề nghiệp tương lai cần đến lượng lớn lao động và tập trung chuyên môn
phát triển. Bên cạnh đó, có các chính sách thu hút nhân tài, tăng lương, đãi ngộ và
khuyến khích các lao động theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế của đất nước. Tổ
chức các chương trình đào tạo thường xuyên nâng cao tay nghề cho các lao động ở các
cơ quan và doanh nghiệp, khuyến khích nhân viên tham gia nâng cao nghiệp vụ. Đưa
ra cá giải pháp ngăn chặn hiện tượng “Chảy máu chất xám” nhằm tránh mất đi nguồn
cung lao động có trình độ, kĩ năng cao trong các ngành phát triển tương lai và phát
triển đất nước theo hướng “Cơng nghiệp hố- Hiện đại hố” đất nước.
2.2.
Giải pháp đối với cầu hàng hoá sức lao động
Để giải quyết vấn đề cầu hàng hoá sức lao động trước hết cần giải quyết vấn đề thất
nghiệp cho người lao động. Đảng và Nhà nước ta cần có các chính sách tạo điều kiện
công ăn việc làm cho người dân thất nghiệp. Ngoài ra, vấn đề này cũng cần đến sự
8
giúp đỡ của các doanh nghiệp, cơ quan và tổ chức. Tiếp theo, cần tạo môi trường cho
người lao động làm việc và phát triển chuyên môn kĩ năng. Bên cạnh đó, cần đưa ra
các chính sách chuyển dịch nhanh cơ cấu các ngành kinh tế theo hướng chuyên sâu,
tận dụng khai thác nguồn lao động tại chỗ. Có thể mở rộng thị trường sản xuất bằng
các mối quan hệ trong và ngồi nước nhằm tạo thêm cơng việc và đáp ứng đủ cho cầu
hàng hoá sức lao động. Giữa các chính sách và phương pháp đề ra cần có sự linh hoạt
chuyển đổi đề phù hợp với cầu hàng hố của từng vùng, từng địa phương để áp dụng
có hiệu quả nhất.
3. Trách nhiệm của bản thân đối với vấn đề hàng hoá sức lao động của Việt
Nam
Trách nhiệm bản thân là một công dân Việt Nam đứng trước vấn đề hàng hoá sức
lao động, em cảm thấy bản thân cần có nhiều nỗ lực và cố gắng hơn nữa để có thể là
một thành phần hữu dụng tham gia vào thị trường hàng hoá sức lao động của đất nước.
Bản thân em đã có những định hướng về nghề nghiệp và chọn ngành cho bản thân
trước trước khi vào đại học. Đồng thời, khi bước vào đại học bản thân em tự nhận thức
được mình là một lao động và có thể cung cấp hàng hố sức lao động trong tương lai
nên cần phải cố gắng nỗ lực học tập, rèn luyện, thường xuyên trau dồi, phát triển bản
thân theo hướng chun mơn và tích cực. Tham gia vào các cuộc thi sáng tạo, giải
pháp về việc làm cũng góp phần khơng nhỏ vào việc giải quyết một phần khó khăn của
thị trường hàng hố sức lao động. Từ đó, tích luỹ kiến thức và kinh nghiệp để cung cấp
chất lượng hàng hoá sức lao động trong tương lai và tạo ra thặng dư nhiều nhất có thể
cho đất nước, góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước.
9
KẾT LUẬN
Mỗi vấn đề đều tồn tại hai mặt trái nhau, tuy nhiên cũng có lúc chúng bổ sung và là
tiền đề cho nhau phát triển. Qua bài nghiên cứu, chúng ta đã hiểu rõ hơn về các khái
niệm của loại hàng hoá đặc biệt “Hàng hoá sức lao động” dựa trên các quan điểm, lí
luận thực tiễn của Các Mác. Đồng thời, bài tiểu luận đã thể hiện rõ được các khía cạnh
thực tế của hàng hố sức lao động Việt Nam. Nó phản ánh rõ nét các mặt phát triển và
tồn tại của hàng hoá sức lao động. Bên cạnh đó, đã đưa ra một số biện pháp giải quyết
các khó khăn ấy nhằm giúp thị trường hàng hoá sức lao động Việt Nam phát triển theo
chiều hướng tích cực hơn, nhất là trong thời điểm bùng phát dịch Covid. Qua bài tiểu
luận cho thấy rằng thị trường hàng hố sức lao động ở Việt Nam rất có tiềm năng, cần
có các định hướng và giải pháp tốt hơn nữa để phát triển. Con người lao động luôn là
yếu tố đóng vai trị căn bản nhất trong mỗi lĩnh vực và sản xuất. Vì vậy, cần tạo điều
kiện để phát triển và cân bằng cung và cầu hàng hoá sức lao động để phát triển bền
vững nhất cho hàng hố sức lao động tương lai. Áp dụng lí luận về hàng hoá sức lao
động của Các Mác và thực tiễn thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt nam vừa là
nhiệm vụ hàng đầu của nền kinh tế, vừa là mục tiêu quan trọng phát triển đội ngũ tri
thức, phát triển toàn diện đất nước.
Bài tiểu luận được vận dụng từ các lí thuyết đã học ở mơn Kinh tế chính trị MácLênin và các kiến thức tham khảo tài liệu, thực tiễn của bản thân em. Vấn đề về “Lý
luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa
sức lao động ở Việt Nam hiện nay” là vấn đề khá rộng và cịn nhiều khía cạnh cần khai
thác đi sâu hơn nữa để phát triển thành chuyên đề nghiên cứu, bản thân em cịn thiếu
sót nhiều kinh nghiệm về chuyên môn, em rất mong nhận được nhận xét và đóng góp
ý kiến của thầy (cơ) để bài tiểu luận trở nên hồn thiện và có nhiều phát hiện, giải pháp
hữu ích hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Tiếng Việt
1. Ngô Tuấn Nghĩa (2019), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác Lê-nin, NXB Giáo
dục và Đào tạo.
2. Võ Kiệt (2021), Kinh tế chính trị Mác Lê-nin. Hàng hoá sức lao động, Trường
Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
3. I'am Immortals (2020), Phân tích hàng hóa sức lao động của C.Mác? Liên hệ
vấn đề này với thị trường lao động ở nước ta hiện nay? Trường Đại học Công
nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội.
4. Nguyễn Hùng (2020), Quan điểm của C. Mác về hàng hoá sức lao động và chất
lượng nguồn lao động Việt Nam hiện nay, Trường Đại học Ngoại thương.
2/ Website
1. - Truy cập ngày: 03/01/2022.
2. - Truy cập ngày: 03/01/2022.