Tải bản đầy đủ (.pdf) (36 trang)

Tiểu luận môn phân tích chi phí lợi ích dự án, đại học ngoại thương (12)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.12 MB, 36 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
--------***--------

TIỂU LUẬN
PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH
Đề tài:

PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH
DỰ ÁN NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT
Nhóm

: 9

Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Thị Thanh Bình
Nguyễn Thị Dung
Khổng Hương Giang
Lê Thị Khánh Linh
Trịnh Thảo Ly
Nguyễn Thị Minh Phương
Trần Thị Phương Thảo

Lớp tín chỉ

: KTE314(GD1-HK2-2122).1

Giảng viên hướng dẫn

: TS. Trần Minh Nguyệt


TS. Phùng Mạnh Hùng

Hà Nội, tháng 3 năm 2022

- 1914410028
- 1914410040
- 1914410057
- 1914410111
- 1914410126
- 1914410166
- 1914410191


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI
ÍCH (CBA).......................................................................................................................... 3
1.1. Khái niệm của phân tích chi phí lợi ích ................................................................ 3
1.2. Đặc điểm và mục tiêu của phương pháp phân tích chi phí lợi ích ..................... 4
1.3. Các phương pháp phân tích chi phí lợi ích ........................................................... 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT ....... 7
2.1. Tính cấp thiết của dự án ......................................................................................... 7
2.2. Giới thiệu về Nhà máy lọc dầu Dung Quất ........................................................... 8
2.3. Giới thiệu các hạng mục cơng trình của Nhà máy lọc dầu Dung Quất ............. 9
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH CỦA DỰ ÁN NHÀ MÁY LỌC DẦU
DUNG QUẤT ................................................................................................................... 14
3.1. Chi phí của dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất ................................................. 14
3.2. Lợi ích của dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất ................................................. 17
3.3. Đánh giá chung về lợi ích chi phí ......................................................................... 23
3.4. Phân tích rủi ro của dự án .................................................................................... 24

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP .............................................. 26
4.1. Những vấn đề và khó khăn nhà máy lọc dầu Dung Quất phải đối mặt ........... 26
4.2. Đề xuất, kiến nghị .................................................................................................. 28
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................... 31
PHỤ LỤC: ........................................................................................................................ 33


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Sản lượng và doanh thu từ hoạt động bán hàng theo từng năm tài chính giai
đoạn 2010 - 2020 .............................................................................................................. 18
Bảng 2: Doanh thu từ hoạt động cảng biển giai đoạn 2010 - 2020.............................. 19
Bảng 3. Bảng đánh giá kết quả dự án thông qua các chỉ số ........................................ 23


LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước khi các nguồn năng lượng thay thế phát triển, gần như tất cả các phương tiện
giao thơng, máy móc đều sử dụng năng lượng có nguồn gốc hóa thạch. Sản phẩm của nhà
máy lọc dầu cho chúng ta các loại nhiên liệu như khí gas, xăng, dầu hỏa, nhiên liệu phản
lực, nhiên liệu cho động cơ diesel (DO), nhiên liệu đốt lò (FO). Sản phẩm không làm nhiên
liệu là các loại dung môi cho công nghiệp cao su, sản xuất sơn, dầu nhờn, mỡ bơi trơn,
nhựa đường, sáp, paraffin…
Trong ngành Dầu khí Việt Nam cũng như trên thế giới, lĩnh vực lọc, hóa dầu là miếng
ghép cuối cùng để hồn thiện các cơ cấu của ngành từ khâu thượng nguồn, trung nguồn và
hạ nguồn. Nếu như khâu thượng nguồn là các lĩnh vực tìm kiếm thăm dị, khai thác; khâu
trung nguồn là vận chuyển, tàng trữ, phân phối thì khâu hạ nguồn là việc đưa các sản phẩm
dầu, khí trực tiếp vào cuộc sống.
Nếu khơng có nhà máy lọc dầu thì sau khi khai thác được dầu thô, chúng ta sẽ phải
bán cho các nước có ngành lọc, hóa dầu phát triển và mua lại các sản phẩm xăng, dầu

diesel… đã được lọc từ họ. Nhận thức thực tế đó, Việt Nam đã nỗ lực để xây dựng các nhà
máy lọc dầu để giải quyết các bài tốn được đặt ra. Chính phủ muốn biến Dung Quất (trong
đó hạt nhân là NMLD) trở thành động lực để kéo kinh tế cả một vùng miền Trung nghèo
khó vươn lên. Với vị trí tại trung tâm đất nước, NMLD Dung Quất như một trái tim “thình
thịch đập” để đưa dịng chảy năng lượng như những dịng máu nóng đi khắp Việt Nam.
Nhận thấy tầm quan trọng của nhà máy lọc dầu này, nhóm chúng em lựa chọn đề tài
“Phân tích chi phí - lợi ích của dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất” với mong muốn có
thể áp dụng kiến thức của mơn học Phân tích chi phí - lợi ích để tìm hiểu sâu hơn và đưa
ra những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn cho đề tài này.

1


2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của bài nghiên cứu là giới thiệu tổng quan về dự án Nhà máy lọc dầu Dung
Quất, từ đó phân tích về chi phí- lợi ích của dự án này để có thể đánh giá chung và đưa ra
những khuyến nghị nhằm tận dụng tốt dự án vì mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lợi ích và chi phí của dự án Nhà máy lọc dầu Dung
Quất.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
● Phạm vi không gian: Khu kinh tế Dung Quất, thuộc địa bàn các xã Bình Thuận và
Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
● Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 2010
đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tổng hợp thông tin về dự án, sau đó tiến hành phân tích, đánh giá chung về chi
phí và lợi ích mà dự án mang lại, đồng thời phân tích những rủi ro và khó khăn cịn tồn tại
của dự án để từ đó đưa ra những khuyến nghị đối với Nhà nước và chủ đầu tư.

5. Kết cấu bài tiểu luận
Để đạt được mục đích nghiên cứu, ngoài mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục tài
liệu tham khảo, lời mở đầu và kết luận, bài tiểu luận bao gồm có 4 chương:
● Chương 1: Cơ sở lý luận về phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA)
● Chương 2: Tổng quan về dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất
● Chương 3: Phân tích chi phí - lợi ích của dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất
● Chương 4: Đề xuất kiến nghị và giải pháp

2


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP
PHÂN TÍCH CHI PHÍ - LỢI ÍCH (CBA)
1.1. Khái niệm của phân tích chi phí lợi ích
Phân tích chi phí lợi ích (Cost Benefit Analysis - CBA) là một phương pháp xuất hiện
từ khá sớm. Trên thế giới, đã có nhiều khái niệm về phân tích chi phí lợi ích được đưa ra.
Điển hình là một số khái niệm như sau:
Theo J.A Shinden, phương pháp phân tích chi phí lợi ích là phương pháp đánh giá sự
mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh khi lựa chọn được đo lường bằng giá
trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội.
Trong khi đó, H.Campbell & R.Brown (2003) lại cho rằng phân tích chi phí lợi ích là
một khung phân tích có hệ thống cho việc thẩm định kinh tế các dự án tư và công được đề
xuất trên quan điểm xã hội nói chung.
Theo FrancesPerkins (1994), phân tích kinh tế cịn gọi là phân tích lợi ích chi phí, là
phân tích mở rộng của phân tích tài chính được sử dụng chủ yếu bởi các chính phủ và các
cơ quan quốc tế để xem xét dự án hay chính sách có làm tăng phúc lợi cộng đồng hay
khơng.
Ngồi ra, Boardman (2001) cũng đưa ra khái niệm khác đó là phân tích lợi ích chi phí
là một phương pháp đánh giá chính sách mà phương pháp này lượng hóa bằng tiền giá trị

của tất cả các kết quả của chính sách đối với mọi thành viên trong xã hội nói chung. Lợi
ích xã hội rịng (NSB=B-C) là thước đo giá trị của chính sách.
Như vậy, chúng ta có thể rút ra được một khái niệm chung về phân tích chi phí lợi
ích (CBA) đó là một phương pháp dùng để đánh giá một dự án hay một chính sách bằng
việc lượng hóa bằng tiền tất cả các lợi ích và chi phí trên quan điểm xã hội nhằm cung cấp
thông tin cho việc ra quyết định.

3


1.2. Đặc điểm và mục tiêu của phương pháp phân tích chi phí lợi ích
Trước hết, phân tích chi phí lợi ích bao gồm những đặc điểm như sau:
-

Phân tích lợi ích chi phí là một phương pháp đánh giá để cung cấp thông tin cho
người ra quyết định lựa chọn.

-

Phân tích lợi ích chi phí quan tâm đến hiệu quả kinh tế.

-

Phân tích lợi ích chi phí xem xét tất cả các lợi ích và chi phí (có giá và khơng có giá
trên thị trường).

-

Phân tích lợi ích chi phí đánh giá trên quan điểm xã hội nói chung.
Tiếp theo là mục tiêu của phương pháp CBA. Tùy vào dự án sẽ có những mục tiêu


lựa chọn khác nhau nhưng với phương pháp phân tích lợi ích chi phí, các nhà đầu tư có thể
lựa chọn ra được dự án mang lại lợi ích rịng cao nhất. CBA giúp nhà đầu tư lựa chọn được
dự án tốt nhất khi có nhiều dự án. Bằng việc so sánh tổng chi phí dự kiến của dự án so với
tổng ích lợi thu về của dự án, CBA cũng giúp nhà đầu tư quyết định xem có nên đầu tư vào
một dự án nào đó hay khơng. CBA đánh giá sự mong muốn của các phương án theo mục
tiêu kinh tế từ đó chỉ ra phương án nào đóng góp nhiều nhất cho phúc lợi kinh tế (kể cả các
phúc lợi về mơi trường).
1.3. Các phương pháp phân tích chi phí lợi ích
1.3.1. Phương pháp giá trị hiện tại thuần (Net Present Value – NPV)
Khái niệm: Giá trị hiện tại thuần là hiệu số giữa tồn bộ thu nhập và chi phí của phương án
trong suốt thời kỳ phân tích được quy đổi thành một giá trị tương đương ở thời điểm hiện
tại (đầu kỳ phân tích) với một lãi suất thích hợp.
Cơng thức tính:
NPV= ∑𝑛𝑡=0

𝐶𝐹𝑡
(1+𝑟)𝑡

Đánh giá và so sánh phương án theo chỉ số NPV: Nếu NPV ≥ 0 thì nên đầu tư vào dự án,
NPV < 0 thì khơng nên đầu tư vào dự án. Khi lựa chọn giữa các dự án, nên chọn dự án có
NPV cao nhất.
4


1.3.2. Chỉ số suất thu lợi nội tại (IRR – Internal Rate of Return)
Khái niệm: IRR là hệ số chiết khấu để NPV của dự án bằng 0, tức là nếu NPV = 0 ta có
IRR = r
Có thể nội suy IRR theo công thức sau:
IRR = r1 +


𝑁𝑃𝑉𝑟1
𝑁𝑃𝑉𝑟1+|𝑁𝑃𝑉𝑟2|

(r2 – r1)

Đánh giá và so sánh phương án theo chỉ số IRR: Nếu dự án có IRR > MARR thì dự án có
hiệu quả và nên đầu tư vào dự án. Dự án có IRR càng cao càng tốt.
1.3.3. Thời gian hoàn vốn
Khái niệm: Là một khoảng thời gian mà giá trị tích lũy dịng tiền của dự án trở nên dương
hay thời gian thu hồi vốn là thời gian cần thiết để dự án thu hồi đủ số vốn đầu tư ban đầu.
Phân loại:
-

Thời gian hoàn vốn giản đơn T(hv):
𝑇ℎ𝑣

∑ 𝐶𝐹𝑡 = 0
𝑡=0

-

Thời gian hồn vốn có chiết khấu T(hvck):
𝑇ℎ𝑣𝑐𝑘


𝑡=0

𝐶𝐹𝑡
=0

(1 + 𝑀𝐴𝑅𝑅)𝑡

Đánh giá và so sánh phương án theo chỉ số thời gian hoàn vốn: Nếu thời gian hoàn vốn nhỏ
hơn thời gian hồn vốn chiết khấu thì phương án là đáng giá.
1.3.4. Tỷ số Lợi ích/Chi phí
Khái niệm: Tỷ số Lợi ích/Chi phí (B/C) = Tổng giá trị hiện tại của lợi ích / Tổng giá trị
hiện tại của chi phí

5


Cơng thức tính:
∑𝑛

B/C = ∑𝑡=0
𝑛

𝐵𝑡(1+𝑀𝐴𝑅𝑅)−𝑡

−𝑡
𝑡=0 𝐶𝑡(1+𝑀𝐴𝑅𝑅)

Đánh giá phương án theo tỷ số B/C: phương án có B/C > 1 là phương án đáng giá, phương
án tối ưu là phương án có B/C lớn nhất.

6


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT

2.1. Tính cấp thiết của dự án
Ngày 27/11/1961, Đồn thăm dò Dầu lửa số 36 ra đời; kể từ thời điểm đó, ngành Dầu
khí Việt Nam ra đời, đồng hành và phát triển cùng đất nước. Các lĩnh vực tìm kiếm, thăm
dị, khai thác, vận chuyển, phân phối… từng bước phát triển mạnh mẽ. Thế nhưng, nếu
thiếu khâu hạ nguồn thì cơ cấu của ngành Dầu khí Việt Nam vẫn chưa hồn chỉnh. Nhận
thấy điều đó, ngay từ sau khi thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng
xúc tiến thực hiện các dự án lọc, hóa dầu. Nhiều địa điểm được chọn, nhiều cái tên được
xướng lên; thế nhưng Dung Quất được chọn để thực hiện sứ mệnh là nơi đóng chân của
nhà máy lọc dầu đầu tiên của đất nước.
Ngày 10/7/1997, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê duyệt xây dựng NMLD số
1 tại Dung Quất theo hình thức Việt Nam tự đầu tư. Tổng cơng ty Dầu khí Việt Nam (nay
là Tập đồn Dầu khí Việt Nam - Petrovietnam) được Chính phủ giao làm chủ đầu tư của
dự án. Ngày 8/1/1998, lễ khởi cơng NMLD số 1 được chính thức tiến hành tại xã Bình Trị,
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Thời điểm đó, Bình Trị và vịnh Dung Quất là những
cồn cát trắng trải dài, hoang vắng. Trải qua nhiều thăng trầm, NMLD Dung Quất hình
thành, phát triển, đóng góp cho ngân sách quốc gia cũng như những việc quan trọng khác
khó định lượng được bằng các con số.
Trước khi NMLD Dung Quất được xây dựng và đi vào hoạt động, Việt Nam phải
xuất khẩu dầu thơ và dùng chính những đồng ngoại tệ đó để mua lại xăng, dầu đã được tinh
chế. Nói một cách dễ hiểu là “xuất thơ, nhập tinh”. Trên phương diện về xuất nhập khẩu sẽ
có những con số rất đẹp, nhưng sâu xa hơn thì chúng ta không dự trữ được ngoại tệ từ
nguồn tiền bán dầu thơ. Quan trọng hơn, nếu có những biến động ở thị trường thế giới thì
Việt Nam sẽ khơng tự chủ được nguồn xăng, dầu phục vụ trong nước; không tự chủ được
an ninh năng lượng quốc gia.

7


Với sự ra đời của NMLD Dung Quất, Việt Nam tự chủ được gần 40% nhu cầu xăng
dầu trong nước và Chính phủ sẽ khơng cần dùng ngoại tệ để mua xăng, dầu; qua đó giúp

ích rất nhiều cho việc dự trữ ngoại tệ, cân đối thị trường tiền tệ quốc gia. Với vị trí chiến
lược được đặt tại trung điểm của đất nước, NMLD Dung Quất đã trở thành động lực cho
sự phát triển kinh tế, công nghiệp Quảng Ngãi và miền Trung. Đây là những bước ngoặt
quan trọng của ngành Dầu khí, đánh dấu thời điểm Việt Nam chính thức tự chủ được một
phần năng lượng quốc gia, khơng cịn phụ thuộc hồn tồn vào nguồn cung từ nước ngoài.
Với NMLD đầu tiên, việc từng bước tự vận hành một nhà máy phức tạp với 15 phân
xưởng công nghệ, 10 phân xưởng năng lượng phụ trợ, khu bể chứa dầu thô, bể chứa sản
phẩm, hệ thống ống dẫn dầu thô và sản phẩm… đã khẳng định được năng lực của các
chuyên gia, kỹ sư, công nhân Việt Nam.
Sau hơn 10 năm từ ngày cho ra dòng sản phẩm đầu tiên, cơ cấu sản phẩm của NMLD
Dung Quất ngày càng đa dạng. Ngoài các sản phẩm truyền thống như xăng RON 92, RON
95, Diesel Auto, khí Propylene và hạt nhựa PP, khí hóa lỏng (LPG), dầu hỏa, nhiên liệu
bay Jet A1, dầu nhiên liệu (FO), hiện nay Nhà máy đã sản xuất thêm được các loại sản
phẩm mới như nhiên liệu phản lực Jet A-1K, nhiên liệu Diesel L-62 sử dụng cho phương
tiện quân sự.
Việc đầu tư cho dự án NMLD Dung Quất là chiến lược và cũng rất cấp thiết để phát
triển bền vững kinh tế đất nước, bảo đảm những cam kết về phát thải khí nhà kính đối với
quốc tế và chính là sự bảo đảm sử dụng hiệu quả vốn Nhà nước. Xây dựng NMLD Dung
Quất còn là tiền đề thúc đẩy các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tiếp tục đầu tư vào
khu kinh tế Dung Quất trên các lĩnh vực công nghiệp hóa chất, cơng nghiệp cơ khí, đóng
sửa tàu biển, luyện cán thép, vận tải, điện tử.
2.2. Giới thiệu về Nhà máy lọc dầu Dung Quất
-

Nhà máy lọc dầu Dung Quất thuộc cơng ty cổ phần lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR)

-

Địa điểm: Nhà máy được xây dựng tại Khu kinh tế Dung Quất, thuộc địa bàn các
xã Bình Thuận và Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.


-

Năm 2009 chính thức được đưa vào hoạt động
8


-

Diện tích sử dụng: Khoảng 956 ha bao gồm 485 ha mặt đất và 471 ha mặt biển

-

Công suất chế biến: 6,5 triệu tấn dầu thô/năm, tương đương 148.000 thùng/ngày.
Sau khi hoàn thành nâng cấp mở rộng: 8,5 triệu tấn dầu thô/năm, tương đương
192.000 thùng/ngày.

-

Nguyên liệu:

o Giai đoạn 1: Chế biến 100% dầu thô Bạch Hổ - Việt Nam (hoặc dầu thô tương
đương).
o Giai đoạn 2: Chế biến dầu chua.
2.3. Giới thiệu các hạng mục cơng trình của Nhà máy lọc dầu Dung Quất
2.3.1. Phao rót dầu SPM và tuyến ống dẫn dầu thơ
-

Đường kính phao: 12m.


-

Chiều cao phao: 5m (phần chìm là 3,75m, phần nổi là 1,25m).

-

Cơng suất của phao: Được thiết kế nhập dầu thô với công suất 6.000 m3/h.

-

Công suất hệ thống thông rửa bằng thoi (pig): 1300 m3/h.
Dầu thô được bơm từ tàu chở dầu qua phao SPM, hệ thống ống phân phối (PLEM),

đường ống dẫn dầu thô đến khu bể chứa dầu thô. Phao SPM có thể cập tàu có tải trọng
150.000 tấn. Đường ống dẫn dầu thô từ phao SPM vào khu bể chứa dầu thơ dài khoảng 4,2
km, trong đó có đoạn đi ngầm dưới đáy biển là 3,2 km và đoạn đi ngầm trên bờ khoảng 1
km.
2.3.2. Khu bể chứa dầu thô
Tổng số bể chứa dầu thơ : 08 bể
-

Tổng dung tích xây lắp : 760.133 m3

-

Tổng dung tích làm việc : 520.000 m3
Các bể chứa dầu thơ có dung tích bằng nhau, đường kính 69,0 m, chiều cao 22,4 m.

Bể được thiết kế mái nổi, vật liệu chế tạo bằng thép carbon. Trong khu bể chứa dầu thơ cịn
có các hệ thống giá, bệ đỡ đường ống, trạm biến áp, trạm bơm dầu, hệ thống thu gom nước


9


thải, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống cấp điện cho trạm bơm và điện bảo vệ, các cơng
trình phụ trợ khác.
2.3.3. Các phân xưởng công nghệ
 Các phân xưởng công nghệ (gồm 14 phân xưởng):
-

Phân xưởng chưng cất dầu thơ ở áp suất khí quyển (CDU)

-

Phân xưởng xử lý Naphta bằng Hyđrô (NHT)

-

Phân xưởng reforming xúc tác liên tục (CCR)

-

Phân xưởng cracking xúc tác cặn dầu (RFCC)

-

Phân xưởng thu hồi Propylen (PRU)

-


Phân xưởng tái sinh Amine (ARU)

-

Phân xưởng xử lý LPG (LTU)

-

Phân xưởng xử lý nước chua (SWS)

-

Phân xưởng trung hòa kiềm (CNU)

-

Phân xưởng xử lý Kerosene (KTU)

-

Phân xưởng thu hồi Lưu huỳnh (SRU)

-

Phân xưởng xử lý Naphta của RFCC (NTU)

-

Phân xưởng đồng phân hóa Naphta nhẹ (IZOMER hóa)


-

Phân xưởng xử lý LCO bằng Hydro (LCO-HTD)

Toàn bộ các phân xưởng công nghệ và phụ trợ của Nhà máy được điều hành tại Nhà
điều khiển trung tâm thông qua hệ thống điều khiển phân tán DCS hiện đại có chức năng
điều khiển, giám sát, ghi nhận, lưu trữ và hiển thị dữ liệu về quá trình vận hành của Nhà
máy.
Để phục vụ cho các phân xưởng công nghệ hoạt động, Nhà máy có 10 phân xưởng
phụ trợ như Nhà máy điện, các phân xưởng cung cấp khí nén và khí điều khiển, hóa chất,
nước làm mát, nước cứu hỏa và nước sinh hoạt, khí nhiên liệu, dầu nhiên liệu, phân xưởng
xử lý nước thải v.v. để đảm bảo quá trình hoạt động của các phân xưởng công nghệ và các
hạng mục liên quan khác.

10


2.3.4. Nhà máy điện và các trạm điện
Nhà máy điện có 4 tổ máy với tổng cơng suất là 108 MW và 4 nồi hơi có tổng cơng
suất 784 tấn hơi/h ở nhiệt độ 505oC và 107 at- mốt-phe. Nhà máy điện là nguồn cung cấp
hơi nước và điện sử dụng trong Nhà máy lọc dầu.
2.3.5. Hệ thống nhập nước biển làm mát
Hệ thống bao gồm một đầu lấy nước biển nằm ngoài khơi, một bể chứa nước biển,
ống dẫn nước biển, bơm nước biển, cụm nạp hypochlorite và đầu xả nước biển. Hệ thống
được thiết kế nhằm: Cung cấp nước biển làm mát cho các Turbine Condenser của phân
xưởng RFCC và của Nhà máy điện, và cung cấp nước biển làm mát cho phân xưởng nước
làm mát.
2.3.6. Khu bể chứa trung gian
-


Tổng số bể chứa trung gian : 23 bể

-

Tổng dung tích xây lắp : 336.727 m3

Khu bể chứa trung gian dùng để chứa các sản phẩm trung gian và các sản phẩm sau
khi pha trộn (bể kiểm tra) trước khi bơm ra khu bể chứa sản phẩm.
2.3.7. Hệ thống ống dẫn sản phẩm
Hệ thống ống dẫn từ nhà máy tới khu bể chứa: Chiều dài khoảng 7 km, gồm 12 tuyến
ống (8 tuyến ống sản phẩm, 4 tuyến ống phụ trợ/dầu cặn), có kích cỡ từ 5,08 cm - 40,64
cm, để vận chuyển các sản phẩm như Xăng RON 92/95, Jet A1, dầu Diesel, FO, Propylene,
LPG, nước công nghiệp, nước nồi hơi, nitơ và dầu thải.
Hệ thống ống dẫn từ khu bể chứa sản phẩm tới khu vực xuất sản phẩm bằng đường
biển: Chiều dài khoảng 3 km, có 15 tuyến ống (10 tuyến ống sản phẩm, 5 tuyến ống phụ
trợ/dầu thải/nước dằn tàu), kích cỡ từ 5,08 cm - 76,2 cm để vận chuyển các sản phẩm như
xăng Mogas 90, xăng Mogas 92/95, Jet A1, Auto diesel, FO, Propylene, LPG, nước cứu
hỏa, nước dằn tàu, nước sinh hoạt, khí điều khiển và nitơ.
2.3.8. Khu bể chứa sản phẩm
-

Tổng số bể chứa sản phẩm : 22 bể

-

Tổng dung tích làm việc : 393.073 m3
11


Khu bể chứa sản phẩm được chia thành 8 lô đất, mỗi lơ bố trí từ 2-5 bể, các lơ được

ngăn cách bởi các đê chắn bằng đất đắp, mái đê được gia cường bằng bêtông cốt thép.
Trong khu bể chứa sản phẩm cịn có các hạng mục như trạm biến áp, trạm cứu hỏa, hệ
thống cấp thoát nước, hệ thống cấp điện, điều hịa thơng gió, trạm xử lý nước thải và các
cơng trình phụ trợ khác.
2.3.9. Trạm xuất sản phẩm bằng đường bộ
Trạm xuất cho xe bồn nằm ở phía Tây của khu bể chứa sản phẩm dùng để xuất các
sản phẩm thông dụng như xăng Mogas 92/95, Mogas 90, Jet A1, Auto Diesel và FO.
Trạm xuất được thiết kế với 2 giàn xuất, trên mỗi giàn lắp các cần xuất có thể phục
vụ cho cả 2 phía của giàn xuất, trạm sẽ xuất được cùng lúc 4 xe. Trạm bơm cũng được thiết
kế với diện tích dự phòng cho khu mở rộng trong tương lai.
2.3.10. Cảng xuất sản phẩm bằng đường biển
Cảng xuất sản phẩm nằm trong khu vực vịnh Dung Quất sát phía trong của thân đê
chắn sóng, có diện tích sử dụng khoảng 135 ha gồm mặt đất và mặt biển với quy mô như
sau:
-

Hai bến xuất (số 1 và số 2) cho phép tiếp nhận tàu có trọng tải từ 15.000 tấn đến
30.000 tấn, có thể mở rộng để tiếp nhận tàu có trọng tải lớn nhất là 50.000 tấn.

-

Bốn bến xuất thành phẩm (số 3, 4, 5 và 6) cho phép tiếp nhận tàu có trọng tải từ
1.000 tấn đến 5.000 tấn, có thể mở rộng để tiếp nhận tàu 30.000 tấn.

-

Hệ thống cầu dẫn ra các bến gồm các trụ cầu dẫn đỡ tuyến ống và một đường công
vụ.

-


Tuyến luồng dẫn vào bến và vũng quay tàu.

2.3.11. Đê chắn sóng
Đê chắn sóng được xây dựng tại vịnh Dung Quất nhằm ngăn sóng, bảo vệ khu Cảng
xuất sản phẩm của NMLD.
-

Chiều dài toàn đê: gần 1.600 m.

-

Chiều rộng trung bình của đê: 11 m.

-

Chiều cao đê so với mặt nước biển: khoảng 10 - 11 m.
12


-

Lõi đê : Đá các loại theo tiêu chuẩn quy định.

-

Vỏ ngoài đê : Phủ bằng cấu kiện Accropode.
Việc xây dựng đê chắn sóng khơng những bảo vệ an tồn khu Cảng xuất sản phẩm,

mà cịn có tác dụng chắn sóng cho tồn bộ vịnh Dung Quất, đảm bảo hoạt động của các

hạng mục như Bến số 1 của Cảng công vụ, các bến của Cảng tổng hợp, Cảng chuyên dụng
và một số cơng trình biển khác của Khu kinh tế Dung Quất.
2.3.12. Khu nhà hành chính và điều hành
Hạng mục nhà hành chính và điều hành nằm phía bắc của khu nhà máy chính, có tổng
diện tích khoảng 10ha, trên cao trình san nền +11m, được quy hoạch trong khu vực khơng
có nguy cơ cháy nổ. Bao gồm các hạng mục nhà hành chính, nhà bảo vệ, trạm y tế, trạm
cứu hỏa, gara sửa chữa ôtô, nhà ăn, cửa hàng, nhà giặt là, xưởng bảo trì cơ khí, xưởng bảo
trì điện, hệ thống thơng tin liên lạc, kho bảo trì, đường giao thơng, sân bãi, cây xanh, vườn
hoa và hệ thống kỹ thuật kết nối với khu nhà máy chính.
2.3.13. Nhà máy sản xuất Polypropylene
Nhà máy PP có cơng suất 150.000 tấn/năm sản phẩm nhựa homopolymer trên cơ sở
8.000 giờ vận hành mỗi năm, được xây dựng dựa trên cơng nghệ bản quyền Hypol-II của
Tập đồn hóa chất Mitsui, Nhật Bản.
Nguyên liệu đầu vào là propylene, đây là một trong các sản phẩm của Nhà máy lọc
dầu. Từ propylene, cùng với hydrogen và xúc tác, nhà máy sản xuất trên 30 loại sản phẩm
nhựa homopolymer PP cho các ứng dụng khác nhau như đúc (injection molding), thổi
(blow molding), phim (film), và sợi (fibre), đáp ứng một phần nhu cầu nhựa PP thị trường
nội địa.

13


CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH CHI PHÍ – LỢI ÍCH CỦA
DỰ ÁN NHÀ MÁY LỌC DẦU DUNG QUẤT
3.1. Chi phí của dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất
3.1.1. Chi phí tài chính
Chi phí tài chính của dự án này là những khoản chi có thể tính được bằng tiền để xây
dựng, vận hành các khoản mục có liên quan đến dự án bao gồm: Chi phí đầu tư dự án, chi
phí bảo trì và chi phí vận hành. Các khoản mục chi phí này áp dụng theo giá danh nghĩa tại

thời điểm phát sinh cụ thể là các khoản chi phí như chi phí giải phóng mặt bằng, chi phí
xây dựng (mua ngun vật liệu, máy móc, th nhân cơng,...), chi phí quản lý, chi phí duy
trì, chi phí dự phịng và chi phí khác.
 Tổng mức đầu tư ban đầu:
Với 13 năm đầu tư, bị chậm đưa vào sử dụng 9 năm so với tính tốn ban đầu, tổng
vốn đầu tư của dự án đã bị đội lên mức 2,5 tỷ đô la (2005) lên đến 3,05 tỷ đô la (2009).
Tổng chi phí đầu tư thực tế là 42.818 tỷ đồng, thấp hơn mức phê duyệt là 51.718 tỷ đồng
(3.053 triệu USD) do chênh lệch doanh thu và chi phí giai đoạn chạy thử và tại thời điểm
quyết tốn cịn một số hạng mục chưa hồn thành. Chi phí đầu tư giảm so với dự toán điều
chỉnh nhưng tăng nhiều so với mức phê duyệt năm 1997 (1,5 tỷ USD, chưa gồm chi phí tài
chính); khơng vượt dự tốn so với cam kết trong hợp đồng EPC. Trong đó mức chi phí cho
các hợp đồng EPC là 2.480.874.714 USD và chi phí cho các hạng mục, cơng trình ngồi
các hợp đồng EPC ở mức 215.582.403 USD.
Trong giai đoạn xây dựng nhà máy, Cơng ty cổ phần lọc hóa dầu Bình Sơn đã hỗ trợ
nhằm ổn định đời sống 1.400 hộ dân trong diện di dời để làm Nhà máy lọc dầu Dung Quất;
đồng thời đầu tư nâng cấp đường sá, trạm y tế và hạ tầng phục vụ dân sinh tại các khu tái
định cư. Ðầu tư xây dựng các khu dịch vụ, thương mại, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất nông lâm
ngư nghiệp, đào tạo và giải quyết việc làm... cho các hộ dân trong diện thu hồi đất. Mức
chi phí này nằm trong chi phí dự phịng của dự án ở mức 67.417.222 USD.
14


Ngoài ra Dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã được phê
duyệt vào năm 2014 và được thực hiện vào năm 2017. Tổng vốn đầu tư của dự án là 1,806
tỷ USD
 Chi phí vận hành dự án:
 Chi phí trả lương cơng nhân:
Tại nhà máy lọc dầu Dung Quất, thường xuyên có tới 170 chuyên gia nước ngoài và
nhà máy phải trả cho mỗi chuyên gia 8.000-30.000 USD/tháng. Đồng thời, nhà máy có
khoảng 1400 cơng nhân với mức lương trung bình mỗi người dao động khoảng 11 triệu

đồng/tháng.
 Chi phí nguyên vật liệu đầu vào:
Nhà máy Lọc dầu Dung Quất có cơng suất 6,5 triệu tấn dầu thô/năm (tương đương
148.000 thùng/ngày). Tuy nhiên đến năm 2017, cơng ty cổ phần lọc hóa dầu Bình Sơn đã
triển khai cơng tác đầu tư nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nâng công suất
nhà máy tăng thêm 30%, đạt mức 8,5 triệu tấn/năm tương đương 192.000 thùng dầu/ngày.
Nguyên liệu chế biến 100% dầu thô Bạch Hổ (giai đoạn 1) và dầu thô hỗn hợp (giai đoạn
2). Giá dầu thô đầu vào được tham chiếu ở mức giá dầu thế giới. Tính theo giá dầu thô trên
thế giới qua từng năm, tổng chi phí nguyên liệu đầu vào tính từ năm 2010-2020 là 38441.42
triệu đơ.
 Chi phí bảo trì
Hằng năm, dự án sẽ trích 3% doanh thu để làm phí bảo trì máy móc thiết bị cho việc
vận hành nhà máy diễn ra trơn tru nhằm cải thiện công suất làm việc tốt hơn.
3.1.2. Chi phí kinh tế
3.1.2.1. Về phía nhà nước
Dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất đã chậm tiến độ tới 9 năm so với kế hoạch ban
đầu. Mặc dù dưới sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội, việc thực hiện dự án đã được đẩy
nhanh hơn nhưng tiến độ nghiệm thu, bàn giao nhà máy vẫn bị chậm tiến độ 7 tháng. Theo
Bộ Công Thương, nguyên nhân chủ yếu khiến dự án chậm tiến độ nghiệm thu là do sự cố
hỏng van Bit PV-1501 của phân xưởng craking xúc tác. Sau khi nghiệm thu, dự án vẫn
phải tiếp tục xử lý 7 vấn đề về kỹ thuật tồn tại... Do sự chậm trễ này, tổng mức đầu tư à
15


máy lọc dầu Dung Quất cũng phải điều chỉnh do các nguyên nhân phát sinh, lên tới 3,053
tỉ USD, tăng 552,5 triệu USD so với dự toán ban đầu. 
Ngay từ khi được phê duyệt và đi vào vận hành thương mại, dự án lọc dầu Dung Quất
đã không vận hành theo cơ chế thị trường. Dù nhận được những ưu đãi rất lớn như thời
gian khấu hao dự án là 20 năm (dài hơn thời gian 15 năm nêu trong Báo cáo nghiên cứu
khả thi), được hưởng mức giá trị ưu đãi tính trong giá bán đối với xăng, dầu là 7%, LPG là

5% và sản phẩm hóa dầu là 3%. Ngồi ra, dự án cịn được hưởng thuế thu nhập doanh
nghiệp là 10% trong thời gian 30 năm, thấp hơn nhiều so với mức thuế mà các doanh
nghiệp trong khu kinh tế Dung Quất được hưởng, miễn thuế 4 năm và giảm 50% số thuế
phải nộp cho 9 năm tiếp theo. Như vậy có nghĩa là nếu thị trường có lên, có xuống thì Dung
Quất vẫn có khả năng cân đối tài chính. Tuy nhiên, tính chung từ năm 2010-2014, nhà máy
vẫn lỗ trên 1.000 tỉ đồng. Còn nếu tính sịng phẳng, loại trừ trợ giá bằng thuế ra khỏi giá
sản phẩm thì cũng từ năm 2010-2014, Dung Quất lỗ lên tới 27.600 tỉ đồng. Điều đó có
nghĩa là Tập đồn Dầu khí Việt Nam cấp bù lỗ chừng đó tiền cho Dung Quất.
3.1.2.2. Về phía người dân
Cuộc sống của 443 hộ dân, với trên 1.560 nhân khẩu từ xã Bình Trị di dời đến định
cư tại xã Bình Thanh Tây để nhường đất xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất đã gặp rất
nhiều khó khăn, khi ruộng đất đã được Nhà nước cấp sổ đỏ, nhưng không thể sản xuất
được. Cịn về phía những hộ dân ở xã Bình Thanh Tây thì cho rằng, họ đã nhường đất cho
dân nơi khác đến nhưng không được Nhà nước hỗ trợ, nên nhất định ngăn cản không cho
dân tái định cư sản xuất.
Nhiều người dân sống quanh khu nhà máy gặp các vấn đề về sức khỏe như cảm thấy
nhức đầu, tức ngực, khó thở khi nhà máy thải khí thải có mùi khét nồng nặc vào khơng khí.
Nước thải từ nhà máy lọc dầu Dung Quất thải ra ruộng gây ngứa ngáy cho người nơng
dân.
3.1.2.3. Về chi phí môi trường
Nguồn nước giếng sinh hoạt quanh khu nhà máy bị ơ nhiễm, khi đun nấu có hiện
tượng kết tủa.

16


Khơng khí thường xun có mùi khét, mùi hơi, các hoạt động của nhà máy thường
xuyên gây ra tiếng ồn, làm ảnh hưởng đến cuộc sống người dân xung quanh.
3.2. Lợi ích của dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất
3.2.1. Lợi ích tính được bằng tiền

3.2.1.1. Doanh thu của từ hoạt động bán hàng
Dự án lọc dầu Dung Quất được khởi công vào ngày 28 tháng 11 năm 2005, và chính
thức được đưa vào khai thác thương mại từ năm 2010. Công suất tối đa của nhà máy là 6.5
triệu tấn dầu thô/năm, tương đương 148.000 thùng/ngày. Cho đến nay thì dự án lọc dầu
Dung Quất đã giải quyết được 40% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu tại thị trường Việt Nam.
Dầu khí là một hành hóa đặc biệt với đặc thù là giá luôn biến động bởi nhiều yếu tố.
Giá dầu trung bình trong năm 2020 dao động trong khoảng 40$/thùng. Tuy nhiên, có những
thời điểm giá dầu chạm đáy ở mức 13.24$/thùng. Đến thời điểm hiện nay, do ảnh hưởng
của cuộc chiến tranh Nga - Ukraina khiến nguồn cung xăng dầu thế giới bị gián đoạn, giá
dầu đang leo thang với tốc độ kinh ngạc, ghi nhận giá dầu thô hiện tại ở trên mức
100$/thùng. Trên thế giới, giá dầu thơ cịn bị tác động bởi chiến lược kinh doanh của
OPEC( tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa).Bên cạnh đó, giá dầu trong nước cịn được
điều chỉnh theo những chính sách về thuế liên quan đến các hiệp định thương mại mà Việt
Nam đã kí. Đó là lí do mà chúng ta thấy sản lượng mỗi năm ln được duy trì ở mức ổn
định, tuy nhiên thì doanh thu khá biến động.
Trước khi có dự án lọc dầu Dung Quất chúng ta phải đi nhập những sản phầm dầu đã
qua tinh chế do không đủ khả năng để thực hiện lọc hóa dầu, điều này gây tốn kém chi phí
cũng như hao phí ngoại tệ. Dự án lọc hóa dầu Dung Quất đã tạo điều kiện để nước ta có
thể tự cung cấp được những sản phẩm phức tạp, đặc trưng với từng hoạt động kinh tế: Xăng
Mogas 92/95 là nhiên liệu cho xe máy, ô tô, Karosen Jet A1 là nhiên liệu cho động cơ máy
bay, Polypropylen dùng để sản xuất những thành phẩm nhựa, …
Nhận thấy được tầm quan trọng của các thành phẩm từ dầu trong các hoạt động kinh
doanh sản xuất của tồn bộ nền kinh tế, chúng ta có thể đánh giá được tầm quan trọng của

17


nhà máy lọc dầu Dung Quất không chỉ đối với nền kinh tế khu vực miền Trung, mà còn
đối với kinh tế quốc gia.
Bảng 1: Sản lượng và doanh thu từ hoạt động bán hàng theo từng năm tài chính

giai đoạn 2010 - 2020
Năm

Sản lượng

Doanh thu

Đóng góp NSNN

(triệu tấn)

(nghìn tỷ đồng)

( nghìn tỷ đồng)

2010

4.1

59.88

10.6

2011

5.45

109.88

14.3


2012

5.6

127.35

17.6

2013

6.61

152.62

28.4

2014

5.8

127.07

23.2

2015

6.8

95.03


20.3

2016

6.91

73.48

12.8

2017

5.56

82.16

10.2

2018

7.0

112.44

11.6

2019

6.46


103.24

9.8

2020

5.96

58.41

6.2

Tổng

66.25

1101.564

165
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

3.2.1.2. Doanh thu từ hoạt động cảng biển
Dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất tọa lạc tại vịnh Dung Quất, nơi đây có vị trí gần
mỏ Bạch Hổ, tiện lợi cho hoạt động khai thác dầu mỏ. Bên cạnh đó, nơi đây còn là cảng
nước sâu, thuận lợi cho việc ra vào của tàu cỡ lớn 200.000 - 300.000 tấn. Nhà nước cũng
đã tiến hành khảo sát những điều kiện hải dương học và khí tượng học và nhận thấy vịnh
Dung Quất có khí hậu ơn hịa, điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cảng biển và phát
triển kinh tế.
Cảng Dung Quất chính thức được đưa vào khai thác từ năm 2002 với chức năng là

nơi xuất nhập khẩu vật tư thiết bị cho các doanh nghiệp trong đặc khu kinh tế Dung Quất
18


cũng như các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Hàng năm, số lượng hàng hóa
được thơng quan tại cảng đạt 600.000 tấn, số lượng tàu cập cảng lên tới 150 tàu/năm.
Bảng 2: Doanh thu từ hoạt động cảng biển giai đoạn 2010 - 2020
Năm

Doanh thu từ hoạt động cảng biển ( tỷ đồng)

2010

95

2011

73

2012

89

2013

103

2014

96


2015

121

2016

127

2017

114

2018

132

2019

132

2020

113
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp

Có thể thấy doanh thu từ hoạt động cảng biển chỉ chiếm một phần khiêm tốn trong
tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của nhà máy BSR, tuy nhiên
cảng Dung Quất có một tầm quan trọng chiến lược trong quá trình vận hành của nhà máy
cũng như các khu công nghiệp khác trên địa bàn tỉnh.


19


3.2.2. Lợi ích khơng tính được bằng tiền
3.2.2.1. Tạo động lực phát triển kinh tế khu vực miền Trung và tỉnh Quảng Ngãi
Việc nhà máy đi vào vận hành đã đóng góp quan trọng vào việc chuyển đổi cơ cấu
kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi. Nếu như giai đoạn 2005-2008 tăng trưởng GDP của Quảng
Ngãi đạt trung bình từ 11-14%/năm thì năm 2009 khi có Nhà máy lọc dầu Dung Quất, GDP
tăng 21%. Năm 2005 thu ngân sách của tỉnh Quảng Ngãi đạt 529 tỷ VNĐ, năm 2009 đạt
6.432 tỷ VNĐ. Theo thông tin từ UBND tỉnh Quảng Ngãi, so với năm tái lập tỉnh (1989),
đến năm 2019, GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh) tăng gấp 19,5 lần. Giá trị sản xuất
công nghiệp năm 1989 chỉ đạt 601 tỷ đồng, đến năm 2019 đạt 124.870 tỷ đồng, gấp gần
207 lần; tăng trưởng cơng nghiệp bình qn đạt 19,5%/năm. Những đóng góp to lớn đó
phần lớn đến từ Khu kinh tế Dung Quất, trong đó, NMLD Dung Quất là “thỏi nam châm
khổng lồ” thu hút đầu tư.
Lớn dần theo từng năm, nguồn thu từ NMLD Dung Quất luôn chiếm khoảng 80-85%
tổng thu ngân sách của tỉnh, đưa Quảng Ngãi vào nhóm các tỉnh, thành phố có nguồn thu
lớn của cả nước, có điều tiết cho ngân sách trung ương. Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã
góp phần làm tăng trưởng đột biến GDP Quảng Ngãi, GRDP bình quân đầu người tăng lên
52,6 triệu đồng/năm (tương đương 2.447 USD). Để có được điều này thì Nhà máy lọc dầu
Dung Quất đóng vai trị chủ lực trong phát triển kinh tế của Quảng Ngãi. Có thể nói, NMLD
Dung Quất đã trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế, công nghiệp Quảng Ngãi và
miền Trung.
3.2.2.2. Hỗ trợ công tác an sinh xã hội của tỉnh Quảng Ngãi
Trong giai đoạn xây dựng nhà máy, BSR đã hỗ trợ nhằm ổn định đời sống 1.400 hộ
dân trong diện di dời để làm NMLD Dung Quất; đầu tư nâng cấp đường sá, trạm y tế và hạ
tầng phục vụ dân sinh tại các khu tái định cư. Ðầu tư xây dựng các khu dịch vụ, thương
mại, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất nông lâm ngư nghiệp, đào tạo và giải quyết việc làm... cho
các hộ dân trong diện thu hồi đất.

BSR cũng là doanh nghiệp đóng góp nhiều nhất cho cơng tác an sinh xã hội (ASXH)
của tỉnh Quảng Ngãi với tổng chi phí trên 250 tỷ đồng. Riêng đối với Quảng Ngãi, Công

20


ty đã dành hơn 15 tỷ đồng để hỗ trợ mua trang thiết bị y tế, xây dựng trường mẫu giáo,
nâng cấp Trường tiểu học…
Ngồi ra, Cơng ty cịn tài trợ 250 triệu đồng để mổ 5 ca bệnh tim bẩm sinh cho trẻ em
nghèo tỉnh Quảng Ngãi. Ủng hộ 200 triệu cho Quỹ khuyến học Quảng Ngãi và 100 triệu
“Quảng Ngãi quê hương – Rèn trí luyện tài”. Hỗ trợ Chương trình “Đồng hành cùng em
đến trường” với tổng giá trị gần 300 triệu đồng gồm 12.000 hộp sữa Vinamilk, 5 thư viện
sách, 500 phần quà và 2.000 cuốn vở đã cho các em học sinh có hồn cảnh khó khăn trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Đã có trên 250 đoàn viên thanh niên đăng ký tham gia và bổ sung
vào Kho máu của Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi 200 đơn vị máu.
341 hộ dân với khoảng 900 nhân khẩu xung quanh Nhà máy Lọc dầu Dung Quất di
dời sang khu ở mới để nhường đất phục vụ dự án nâng cấp, mở rộng nhà máy, công ty BSR
sẽ tập trung chương trình an sinh xã hội tại đây để người dân thuộc diện di dời ổn định nơi
ở, có cơng ăn việc làm.
3.2.2.3. Tạo cơ hội việc làm cho người lao động
Nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện đã tạo việc làm cho gần 2000 lao động, hầu hết là
lực lượng lao động trình độ cao và lành nghề. Để vận hành, Nhà máy lọc dầu Dung Quất
cần khoảng 1.100 kỹ sư, công nhân. Đến quý I/2008, Ban quản lý dự án đã tuyển dụng
được 677 nhân sự vận hành trực tiếp. Trong đó, con em Quảng Ngãi chiếm gần ½. Hiện,
đội ngũ kỹ sư và cơng nhân được tuyển chọn đã được đào tạo tại công trường Nhà máy lọc
dầu và trường đào tạo nhân lực dầu khí ở Vũng Tàu. Riêng 60 kỹ sư vận hành chủ chốt đã
kết thúc thành cơng khố học 6 tháng ở Rumani. Về lại Quảng Ngãi, họ tiếp tục được các
chuyên gia đầu ngành về lọc hóa dầu trên thế giới huấn luyện thêm. Hiện hơn 300 kỹ sư,
công nhân vận hành đang được các chuyên gia về lọc hóa dầu của Aramis đào tạo tiếng
Anh, chương trình dầu khí cơ bản, đào tạo vận hành và bảo dưỡng... đồng thời sẵn sàng

tham gia hỗ trợ thi công nếu các nhà thầu yêu cầu Ngoài việc đào tạo nguồn nhân lực cho
vận hành nhà máy, thì trong quá trình xây dựng dự án lọc dầu Dung Quất cũng đào tạo
được nhiều cán bộ quản lý dự án có kinh nghiệm. Đã có trên 500 cán bộ quản lý dự án
trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm sau q trình làm việc tại dự án. Đây là nguồn nhân
lực rất giá trị để chủ đầu tư tiếp tục sử dụng trong cơng tác quản lý, giám sát các cơng trình
21


tiếp theo và làm tư vấn cho các dự án khác. Như vậy ,dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất
khi đi vào hoạt động đã cung cấp cho gần 2000 cán bộ kỹ sư Việt Nam có việc làm ổn định,
thu nhập tốt. Chắc chắn đích đến của dự án khổng lồ này khơng gì khác là làm thay đổi
triệt để bộ mặt đói nghèo khơng chỉ cho vùng đất Bình Sơn hay Quảng Ngãi mà cho cả
miền Trung nữa và từng bước thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước .
Đến năm 2015, Khu Kinh tế Dung Quất có 80/122 dự án được cấp giấy chứng nhận
đầu tư đi vào hoạt động với tổng vốn thực hiện 5 tỷ USD, giải quyết việc làm trên 20.000
lao động.
3.2.2.4. Tạo tác động tới cán cân thanh toán
Trước khi NMLD Dung Quất được xây dựng và đi vào hoạt động, Việt Nam phải
xuất khẩu dầu thô và dùng chính những đồng ngoại tệ đó để mua lại xăng, dầu đã được tinh
chế. Nói một cách dễ hiểu là “xuất thô, nhập tinh”. Trên phương diện về xuất nhập khẩu sẽ
có những con số rất đẹp, nhưng sâu xa hơn thì chúng ta khơng dự trữ được ngoại tệ từ
nguồn tiền bán dầu thô. Quan trọng hơn, nếu có những biến động ở thị trường thế giới thì
Việt Nam sẽ khơng tự chủ được nguồn xăng, dầu phục vụ trong nước; không tự chủ được
an ninh năng lượng quốc gia. Với sự ra đời của NMLD Dung Quất, Việt Nam tự chủ được
gần 40% nhu cầu trong nước và Chính phủ sẽ khơng cần dùng ngoại tệ để mua xăng, dầu;
qua đó giúp ích rất nhiều cho việc dự trữ ngoại tệ, cân đối thị trường tiền tệ quốc gia.
3.2.2.5. Giúp đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia từ đó tăng cường hệ thống quân sự quốc phịng
Trong ngành Dầu khí Việt Nam cũng như trên thế giới, lĩnh vực lọc, hóa dầu là miếng
ghép cuối cùng để hoàn thiện các cơ cấu của ngành từ khâu thượng nguồn, trung nguồn và
hạ nguồn. Nếu như khâu thượng nguồn là các lĩnh vực tìm kiếm thăm dị, khai thác; khâu

trung nguồn là vận chuyển, tàng trữ, phân phối thì khâu hạ nguồn là việc đưa các sản phẩm
dầu, khí trực tiếp vào cuộc sống. Nếu khơng có nhà máy lọc dầu thì sau khi khai thác được
dầu thơ, chúng ta sẽ phải bán cho các nước có ngành lọc, hóa dầu phát triển và mua lại các
sản phẩm xăng, dầu diesel… đã được lọc từ họ. Còn đối với lĩnh vực hóa dầu là hàng loạt
những sản phẩm khác như đạm, tơ nhân tạo, cao su nhân tạo và hơn 2.000 sản phẩm khác.

22


×