Tải bản đầy đủ (.pdf) (36 trang)

Phân tích các chỉ tiêu của CTCP Dệt may Thành Công năm 2019 - 2020

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.76 MB, 36 trang )

Đề bài: Phân tích các chỉ tiêu của Cơng ty Cổ phần Dệt may Thành Công
năm 2019 – 2020
Yêu cầu 1. Phân tích hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
Bảng Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh (Hskd)
Chỉ tiêu
1. Hiệu suất sử dụng vốn kinh
doanh (Hskd)
- LCT
- TS bình quân
2.Hệ số đầu tư TSNH (Hđ)
- TSNH bình quân
- Tài sản bình qn
3.Số vịng ln chuyển VLĐ
(SVlđ)
- LCT
- TSNH bình qn
4. MĐAH của Hđ đến Hskd
5.MĐAH cùa SVlđ đến Hskd
Tổng hợp MĐAH của các nhân
tố

Đơn vị
Lần

Năm
2020
1.197

Trđ
Trđ
Lần


Trđ
Trđ
Vòng

3.479.712
2.906.788
0.580
1.687.366
2.906.788
2.062

3.663.515 (183.803)
3.043.537 (136.749)
0.565
0.016
1.719.537 (32.171)
3.043.537 (136.749)
2.131
(0.068)

-5.02%
-4.49%
2.75%
-1.87%
-4.49%
-3.21%

3.479.712
1.687.366


3.663.515 (183.803)
1.719.537 (32.171)
0.033
(0.0397)
(0.0066)

-5.02%
-1.87%

Trđ
Trđ
Lần
Lần
Lần

Năm 2019 tăng
giảm
1.204
(0.007)

tỷ
lệ(%)
-0.55%

• Phân tích khái qt
Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của công ty năm 2020 là 1.97 lần, năm 2019 là 1.204
lần. Như vậy hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của công ty năm 2020 giảm so với năm
2019 là 0.007 lần với tỷ lệ giảm là 0.55%. Điều đó cho thấy trong năm 2019 bình quân 1
đồng vốn tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty thu được 1.204 đồng tổng
doanh thu thu nhâp. Tuy nhiên đến năm 2020, bình quân 1 đồng vốn tham gia vào hoạt

động sản xuất kinh doanh công ty chỉ thu được 1.197 đồng đoanh thu thu nhập. Hiệu suất
sử dụng vốn kinh doanh của công ty năm 2020 giảm so với năm 2019 là do ảnh hưởng
của 2 nhân tố: hệ số đầu tư ngắn hạn và số vịng quay vốn lưu động, trong đó số vòng
quay vốn lưu động ảnh hưởng giảm đến hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh nhiều hơn là
nhân tố Hệ số đầu tư TSNH.
• Phân tích chi tiết
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh


1. Hê số đầu tư TSNH
Với điều kiện nhân tố khác khơng đổi thì hệ số đầu tư ngắn hạn tăng 0,016 lần làm
cho Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh tăng 0.033 lần. Như vậy có thể thấy hệ số đầu
tư ngắn hạn có ảnh hưởng cùng chiều với hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh với hệ số
đầu tư ngắn hạn tăng gây ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh.
Hệ số đầu tư tài sản ngắn hạn năm 2020 của doanh nghiệp là 0.580 lần, năm 2019 là
0.565 lần, tăng 0.016 lần so với năm 2019 tương ứng với tỷ lệ tăng là 2.75%. Hệ số
đầu tư ngắn hạn tăng là do trong năm 2020 chính sách đầu tư của cơng ty có xu hướng
tăng tỷ trọng đầu tư TSNH (từ 55.75% tại thời điểm đầu năm 2020 lên 60.31% tại thời
điểm cuối năm 2020) và giảm tỷ trọng đầu tư vào TSDH (từ 44.25% tại thời điểm đầu
năm 2020 xuống còn 39.69% cuối năm 2020). Ngồi ra hệ số đầu tư ngắn hạn tăng
cịn do tốc độ giảm của TSNH bình quân giảm chậm hơn tốc độ giảm của Tài sản
bình quân. (TSNH bình quân giảm 1.87% năm 2020 so với năm 2019 còn TS bình
quân giảm 4.49% năm 2020 so với năm 2019. Có 2 nguyên nhân:
+ Nguyên nhân khách quan: Diễn biến covid 19 phức tạp, tình hình kinh tế khó
khăn thị trường nguyên vật liệu bị gián đoạn, khan hiếm, điều này dẫn đến sự tăng vọt
về giá của các nguyên liệu đầu vào.
+ Nguyên nhân chủ quan:
Hệ số đầu tư ngắn hạn năm 2020 so với năm 2019 tăng là 2.75%. Đối với TSNH công
ty đang ưu tiên đầu tư vào hàng tồn kho tỷ trọng HTK năm 2020 chiếm 56.80%, năm
2019 chiếm 55.35% tăng 1.45% do doanh nghiệp chủ động dữ trữ NVL để tránh sự

biến động về giá cả. Ngoài ra tăng các khoản tiền và tương đương tiền và các khoản
đầu tư tài chính ngắn hạn nhằm khai thác sử dụng nguồn vốn tạm thời để thu về lợi
nhuận. Tích trữ tiền để để phịng trường hợp khó khăn do covid 19 phức tạp. Đặc biệt
khoản phải thu khách hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn, do nhu cầu người mua giảm doanh
nghiệp càng phải thực hiện chính sách hài hòa nới lỏng để vẫn thu lại được lợi nhuận.
Tuy nhiên vẫn phải xem xét quản trị chặt chẽ các khoản phải thu để tránh tình trạng
khơng thu được nợ, nợ xấu đồng thời quản trị tốt HTK tránh ứ đọng và lãng phí vốn.
2. Số vịng quay vốn lưu động
Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, Số vòng quay vốn lưu động giảm
0.068 lần làm cho Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh giảm 0.0397 lần. Đây được
xem là nhân tố ảnh hưởng chính đến việc giảm Hiệu suất kinh doanh.
Số vòng luân chuyển vốn lưu đơng năm 2020 là 2.062 vịng, năm 2019 là 2.131 vòng
, năm 2020 so với năm 2019 giảm 0.068 vòng tương ứng giảm 3.21%. Số vòng quay
vốn lưu động giảm do luân chuyển thuần trong năm 2020 là 3.479.712 triệu đồng,


năm 2019 là 3.663.515 triệu đồng. Còn vốn lưu động bình qn của cơng ty năm
2020 so với năm 2019 giảm 32.171 triệu đồng tương ứng giảm 1.87%. Tỷ lệ giảm của
tổng doanh thu thu nhập nhanh hơn tỷ lệ giảm của vốn lưu động bình quân. Đây là
dấu hiệu không tốt trong công tác quản lý sử dụng vốn lưu động cũng như việc sản
xuất tiêu thụ sản phẩm và đầu tư vốn để tạo ra luân chuyển thuần. Như vậy tổng
doanh thu thu nhập năm 2020 so với năm 2019 giảm 183.803 triệu đồng tương ứng
giảm 5.02%. Điều này cho thấy trong năm 2020 công tác tiêu thụ sản phẩm, thực hiện
các hoạt động kinh doanh để tạo ra doanh thu thu nhập của công ty chưa tốt.
+ Nguyên nhân khách quan: do các hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ
trong tình hình dịch bệnh. Trong bối cảnh dịch bệnh, không chỉ nguồn cung nguyên
liệu bị gián đoạn mà thị trường xuất khẩu cũng bị đứt đoạn, đơn hàng khơng những
bị giảm mà cịn bị hủy nhiều. Bên cạnh đó, thị trường nội địa cạnh tranh, sức mua
của người tiêu dùng kém trong khi dịch bệnh làm giảm nhu cầu tiêu dùng bởi hoạt
động giãn cách.

+ Nguyên nhân chủ quan: do trình độ quản trị vốn lưu động của cơng ty cịn hạn
chế. Vốn lưu động chưa được sử dụng 1 cách có hiệu quả, cịn lãng phí và chậm
luân chuyển. Cần kết hợp các tài liệu chi tiết để xác định nguồn vốn nào đang được
sử dụng chưa hiệu quả, bị ứ đọng chậm luân chuyển ở khâu nào trong HĐSXKD để
từ đó đưa ra giải pháp quản trị vốn lưu động phù hợp.
Kết luận:
Như vậy hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp giảm chủ yếu do ảnh
hưởng của nhân tố số vòng quay vốn lưu động. Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh
năm 2020 giảm so với năm 2019 cho thấy chính sách đầu tư của cơng ty trong năm
2020 chưa hợp lý, đồng thời trình độ quản trị vốn lưu động của cơng ty cịn hạn chế
dẫn đến vốn lưu động chưa sử dụng một cách có hiệu quả.
Giải pháp
Dựa trên phân tích đánh giá từng nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng vốn kinh
doanh, có thể đưa ra các biện pháp kiến nghị đối với công ty như sau:
- Công ty cần xác định nhu cầu vốn lưu động 1 cách hợp lý, xây dựng định mức dự
trữ cụ thể cho từng loại vốn lưu động như tiền, tương đương tiền, HTK để để đảm bảo
lượng vốn dự trữ ở mức phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh và mục tiêu chiến lược
của công ty cũng như các yếu tố môi trường kinh doanh bên ngồi, tránh gây lãng phí dư
thừa hoặc thiếu hụt nguồn làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt đối với
các khoản vốn HTK cần kết hợp với tài liệu chi tiết để xác định loại hình
HTK đang được sử dụng chưa hiệu quả, bị ứ đọng chậm luân chuyển ở khâu nào từ
đó có biện pháp đẩy nhanh tốc độ ln chuyển của loại hình HTK đó.


- Công ty cần cần nâng cao năng lực quản trị các khoản nợ phải thu đặc biệt là nợ
phải thu ngắn hạn của khách hàng nhưng giảm thiểu nguồn vốn bị chiếm dụng, từ đó
gia tăng được nguồn vốn sẵn có phục vụ cho hđ sxkd và tiết kiệm được chi phí sử
dụng vốn, cơng ty cần quản trị cơng nợ phải thu theo đối tượng. Từ đó đánh giá tình
hình thực hiện cơng nợ cửa từng đối tượng theo định kỳ để có những chính sách tín
dụng, điều khoản thanh toán phù hợp với từng đối tượng khách hàng.

- Cần kết hợp với tài liệu chi tiết để xác định các loại doanh thu và thu nhập và loại
hình nào đang tăng chậm nhất trong tổng doanh thu thu nhập từ đó xác định nguyên
nhân cụ thể đẻ có những biện pháp thúc đẩy doanh thu góp phần tăng số vòng quay
vốn lưu động và hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh.
Yêu cầu 2: Phân tích tốc độ ln chuyển vốn lưu động của cơng ty
Bảng phân tích tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Nhận xét:
Số vòng quay vốn lưu động của công ty cổ phần dệt may – đầu tư – thương mại Thành
Công năm 2020 là 2.0622 vòng, năm 2019 là 2.1305 vòng. Kỳ luân chuyển vốn lưu động nă
2020 là 174.570 ngày, năm 2019 là 168.972 ngày. Như vây số vòng luân chuyển vốn lưu
động của công ty năm 2020 giảm so với năm 2019 là 0.0683 vòng và kỳ luân chuyển


vốn lưu động tang 5.597 ngày. Điều này cho thấy năm 2019, bình qn vốn lưu động
quay được 2.1305 vịng và một vòng luân chuyển vốn lưu dộng trong năm hết 168.972
ngày. Tuy nhiên đến năm 2020 bình quân vốn lưu động chỉ quay được 2.0622 vòng và
một vòng quay vốn lưu động trong năm hết 174.570 ngày. Như vậy tốc độ luân chuyển
vốn lưu động trong năm 2020 đã giảm so với năm 2019 từ đó làm lãng phí một lượng vốn
lưu động là 54.100,736 triệu đồng.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động giảm là do ảnh hưởng của hai nhân tố là: số dư bình
quân vốn lưu động và tổng luân chuyển thuần.
- Số dư bình quân vốn lưu động: Số dư bình quân vốn lưu động trong năm 2020 là
1.687.366triệu đồng, năm 2019 là 1.719.536,5triệu đồng. Như vậy số dư bình quân vốn
lưu động năm 2020 so với năm 2019 giảm 32.170,5 triệu đồng với tỷ lệ giảm 1.87%.
Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi thì số dư bình quân vốn lưu động giảm
32.170,5 triệu đồng đã làm cho số vòng quay vốn lưu động tăng 0.0406 vòng và làm cho
kỳ luân chuyển vốn lưu động giảm 3.1613 ngày.
+ Số dư bình quân vốn lưu động năm 2020 so với năm 2019 giảm 32.170,5 triệu
đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 1.87% là do trong năm 2020 cơ cấu đầu tư của cơng ty

đã có sự thay đổi. Cụ thể cuối năm so với đầu năm , tiền và các khoản tương đương tiền
tăng 64.478 triệu đồng với tỷ lệ tăng 29.54%, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn tăng
41.710 triệu đồng với tỷ lệ tăng 19.55%, hàng tồn kho tăng 113.738 triệu đồng với tỷ lệ
tăng 12.78% và các khoản tài sản ngắn hạn khác tăng 27 triệu đồng với tỷ lệ tăng
0.12%; trong khi đó các khoản phải thu ngắn hạn giảm 60.658 triệu đồng với tỷ lệ giảm
22.99%. Đặc biệt là hàng tồn kho tăng và vẫn tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu
tài sản ngắn hạn của công ty.
+ Cơ cấu vốn lưu động của công ty cuối năm so với đầu năm thay đổi có thể xuất
phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Nguyên nhân chủ quan có thể do cơng
ty có sự thay đổi về chính sách đầu tư, cụ thể là ưu tiên dự trữ hàng tồn kho để phục vụ
cho mục tiêu kinh doanh. Nguyên nhân chủ quan khác có thể xuất phát từ trình độ quản
lý và sư dụng vốn lưu động của công ty , vốn lưu động sử dụng chưa hiệu quả, cịn lãng
phí gây ứ đọng vốn, vốn chậm luân chuyển. Về nguyên nhân khách quan, cơ cấu đầu tư
tài sản của công ty thay đổi là do ảnh hưởng của các yếu tố từ môi trường bên ngồi như
quy luật cung – cầu, chính sách kinh doanh…
- Tổng luân chuyển thuần: Tổng doanh thu thu nhập của công ty năm 2020 là 3.479.712
triệu đồng, năm 2019 là 3.663.515 triệu đồng, Như vậy tổng doanh thu thu nhập Năm
2020 so với năm 2019 giảm 183.803 triệu đồng với tỷ lệ giảm 5.02%. Trong điều kiện
các nhân tố khác khơng đổi thì tổng doanh thu thu nhập giảm 183.803 đã làm giảm vòng
quay vốn lưu động xuống 0.1089 vòng và đồng thời làm tăng kỳ luân chuyển vốn lưu
động lên 8.7584 ngày.


+ Tổng doanh thu thu nhập năm 2020 giảm là do doanh thu thuần từ bán hàng và cung
cấp dịch vụ giảm 172.723 triệu đồng với tỷ lệ giảm 4.8%, doanh thu hoạt động tài chính
giảm 7.650 triệu đồng với tỷ lệ giảm 13.3% và thu nhập khác giảm 3.430 triệu đồng với tỷ
lệ giảm 53.87%. Như vậy doanh thu thu nhập của công ty giảm là do sự sụt giảm
ở cả 3 doanh thu. Điều này có thể coi là một điều hạn chế của công ty trong hoạt động
sản xuất kinh doanh. Bên canh đó xét về cơ cấu tổng doanh thu thu nhập thì doanh thu
thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng chủ yếu (cuối năm

chiếm 98.48%, đầu năm chiếm 98.26% trong tổng doanh thu thu nhập). Như vậy để gia
tăng được tổng doanh thu thu nhập thì cơng ty cần chú trọng đến gia tăng doanh thu
thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ.

+ Mặt khác, số dư vốn lưu động bình quân năm 2020 so với năm 2019 giảm
32.170,5, tỷ lệ giảm 1.87%. Tổng luân chuyển thuần năm 2020 so với năm 2019 giảm
183.803 triệu đồng, tỷ lệ giảm 5.02% trong đó doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng
và cung cấp dịch vụ giảm 172.723 triệu đồng, tỷ lệ giảm 4.8%. Như vậy tỷ lệ giảm của
tổng doanh thu thu nhập nói chung và tỷ lệ giảm của doanh thu thuần từ hoạt động bán
hàng và cung cấp dịch vụ nói riêng giảm nhanh hơn so với tỷ lệ giảm của số dư bình
quân vốn lưu động. Điều này cho thấy sự sụt giảm của vốn lưu động bình quân và sự sụt
giảm của tổng doanh thu thu nhập là khơng hiệu quả.



Nhìn chung tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty năm 2020 so với năm 2019
giảm. Nguyên nhân là do trong năm 2020 thì số dư bình quân vốn lưu đồng và tổng
doanh thu thu nhập đều giảm, tốc độ giảm của tổng doanh thu thu nhập nhanh hơn tỷ
lệ giảm của số dư vốn lưu động bình quân. Hay nói cách khác là việc thu nhỏ quy mơ
vốn lưu động của công ty chưa hiệu quả và tốc độ của doanh thu chưa tương xứng
với tốc độ giảm của quy mô vốn dẫn đến chưa đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển
vốn lưu động. Để đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong các kỳ tiếp theo,
có thể để xuất các giải pháp sau:

Giải pháp
- Thực hiện rà sốt lại tồn bộ các loại vốn lưu động để xác định loại vốn lưu động
nào đang bị tồn đọng, chậm luân chuyển để có những biện pháp xử lý kịp thời.
- Thưc hiện rà soát các khoản liên quan đến doanh thu cụ thể là doanh thu thuần từ
bán hàng và cung cấp dịch vụ. Cần xem xét chi tiết số lượng, giá bán, các khoản giảm
trừ doanh thu của từng loại thành phẩm tiêu thụ trong kỳ của công ty để xác định

được các yếu tố ảnh hưởng đến sự sụt giảm doanh thu, từ đó xác định được nguyên
nhân và đưa ra biện pháp thúc đẩy tăng trưởng doanh thu thuần từ bán hàng và cung
cấp hàng hóa dịch vụ .


Yêu cầu 3: Phân tích tốc độ lưu chuyển Hàng tồn kho

• Phân tích khái qt:
Vịng quay của hàng tồn kho năm 2020 đạt được 2,9795 vòng, giảm 0,0202 vòng so
với năm 2019 với tỷ lệ giảm là 0,67%, cho thấy xu hướng biến động không tốt và kỳ
luân chuyển hàng tồn kho năm 2020 là 120,8271 ngày (có nghĩa là thời gian kể từ
ngày nhập kho đến lúc hàng tồn kho được xuất kho đưa đi tiêu thụ là hơn 3 tháng) và
so với năm 2019 đã tăng lên gần 1 ngày, tỷ lệ tăng là 0,68%. So với năm 2019 thì tốc
độ luân chuyển hàng tồn kho đang có chiều hướng khơng tốt. SVtk giảm, Ktk tăng
phản ánh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho năm 2020 của doanh nghiệp giảm, điều
này khiến doanh nghiệp sử dụng lãng phí 6379,3010 triệu đồng.
• Phân tích chi tiết


Hệ số vòng quay hàng tồn kho giảm cho thấy công ty bán hàng chậm đi và hàng tồn
kho bị ứ đọng nhiều hơn. Tốc độ luân chuyển HTK của công ty giảm là do ảnh hưởng
của 2 nhân tố đó là: HTK bình qn và GVHB, cụ thể:
HTK bình quân của công ty năm 2020 là 946.817 triệu đồng, đã giảm 65.523 triệu
đồng so với năm 2019, tương ứng tốc với tốc độ giảm 6,47%. Trong điều kiện các
nhân tố khác khơng đổi, HTK bình qn giảm như vậy đã làm cho số vịng quay HTK
của cơng ty giảm đi 0,2076 vòng, đồng thời cũng làm cho kỳ luân chuyển HTK giảm
đi 7,7677 ngày so với năm 2019. Nguyên nhân HTK bình qn của cơng ty giảm như
vậy là do:
+ Trong năm 2020, tình hình dịch bệnh Covid-19 gây ra những ảnh hưởng nghiêm
trọng đến nền kinh tế nói chung và Cơng ty cổ phần may Thành Cơng nói riêng, vì vậy

cơng ty đã cắt giảm sản xuất các sản phẩm.

-

+ Dịch bệnh căng thẳng nên việc hàng hóa cả bán các sản phẩm ở thị trường nội địa
lẫn việc xuất khẩu ra các thị trường bên ngoài gặp những khó khăn hơn so với năm
2019 do thu nhập của người dân trong mùa dịch bệnh kém hơn so với lúc bình thường,
vậy nên mặt hàng may mặc sẽ bị sụt giảm theo, tuy nhiên thì cơng ty có chuyển hướng
sang may một mặt hàng khá là thiết yếu trong thời kỳ dịch bệnh đó là khẩu trang nên
số lượng hàng tồn kho của công ty đã không bị tồn nhiều như các công ty cùng ngành.
+ Công ty đã chủ động đẩy mạnh chính sách bán hàng hoặc nới lỏng chính sách bán
chịu để thu hút khách hàng. Doanh nghiệp muốn tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho
để quay vòng vốn, giảm bớt hàng tồn kho để giảm thiểu chi phí bảo quản, giảm thiểu
chi phí tài chính nếu hàng tồn kho được tài trợ bằng vốn vay, hoặc có thể doanh nghiệp
muốn đẩy bớt hàng tồn kho để xem xét thị trường thay đổi sản xuất sản phẩm mới đáp
ứng nhu cầu thị trường.
Mặc dù hàng tồn kho giảm, làm giảm chi phí tồn trữ, cân đối việc xuất nhập khẩu
hiệu quả, giảm ứ động vốn. Tuy nhiên, hàng tồn kho giảm có thể gây thiếu hụt hàng,
gây giãn đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh và hơn nữa có thể làm tăng chi phí tái
đặt hàng. Quản lý chính xác lượng hàng tồn kho giúp công ty tránh khỏi nguy cơ
“cháy hàng”, khách hàng bỏ đi vì khơng thể tìm thấy sản phẩm họ cần, qua đó mất một
lượng khách hàng trung thành lớn. Từ đó, ảnh hưởng đến quy mơ tiêu thụ, khả năng
cạnh tranh và doanh thu ở kỳ sau. Vì vậy, doanh nghiệp chủ động giải quyết các vấn
đề về hàng tồn kho, tránh ứ đọng nhưng cũng cần có lượng hàng tồn kho dự trữ vừa đủ
đáp ứng sản xuất, thị trường, tránh gián đoạn sản xuất và phân phối.
-

Giá vốn hàng bán trong năm 2020 là 2.821.007 triệu đồng, năm 2019 là 3.036.689
triệu đồng. Ta thấy, GVHB trong năm 2020 giảm so với năm 2019 là 215.682 triệu
đồng tương ứng với tốc độ giảm 7,10%. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi,



GVHB giảm đã làm so số vòng luân chuyển HTK giảm đi 0,2278 lần và kỳ luân
chuyển HTK tăng 8,5818 ngày. GVHB giảm chứng tỏ lượng hàng tiêu thụ giảm.
-

Nguyên nhân:
+ Do DN nhận thấy quy mô tiêu thụ sản phẩm bị giảm, sức mua của người tiêu dùng
kém, thu nhập người tiêu dùng ít đi, việc tiêu thụ hàng hóa trở nên khó khăn, điều này làm
cho 1 lượng thành phẩm và hàng hóa vẫn tồn trong kho, vì vậy doanh nghiệp đã giảm
GVHB để kích thích người tiêu dùng mua hàng, giảm lượng HTK bị ứ đọng.
+ Do cơng tác quản trị chi phí chưa hiệu quả, sự biến động trong chi phí sản xuất
kinh doanh, hoặc có thể doanh nghiệp đang muốn thay đổi quy mô để thay đổi thay đổi
sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu tình hình dịch bệnh của năm 2020.
+ Cơng ty cũng sử dụng nhiều biện pháp để tăng lượng hàng tiêu thụ như tìm kiếm
thêm thị trường, đẩy mạnh marketing… Ngồi ra công ty cũng chú trọng tập trung vào
mặt hàng đang được mọi người quan tâm đó là khẩu trang với giá thành khơng q cao
như mặt hàng quần áo.
• Kết luận: Tốc độ lưu chuyển HTK của năm 2020 giảm so với năm 2019 chủ yếu là
do giá vốn hàng bán giảm, dưới tác động của dịch bệnh covid 19, điều này là không thể
tránh khỏi nhất là đối với các cơng ty về may mặc có tính chất thời vụ, việc giảm giá
hàng bán để kích cầu tiêu thụ, giảm lượng tồn kho ứ đọng là một việc làm khá hợp lý.
• Giải pháp:
- Để tốc độ luân chuyển vốn hàng tồn kho có thể tăng nhanh, cơng ty cần thúc đẩy
hoạt động sản xuất kinh doanh, duy trì hiệu quả cơng tác quản trị hàng tồn kho, nâng
cao năng suất lao động của cơng nhân. Từ đó nâng cao doanh thu, lợi nhuận, tăng khả
năng cạnh tranh trên thị trường.
- Doanh nghiệp cần cân nhắc 1 mức giá hợp lý, an toàn nhất. Ngoài ra doanh
nghiệp nên điều chỉnh các chính sách bán hàng, chính sách marketing, quảng cáo, tiếp
thị sản phẩm phù hợp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ, đưa ra chính sách quản trị HTK hợp lý,

giảm lượng HTK bị ứ đọng, bên cạnh đó cần chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm
đáp ứng yêu cầu của khách hàng là một việc làm hết sức cần thiết để tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp về lâu dài, đầu tư nâng cấp hệ thống cửa hàng, kênh phân
phối, nhận diện thương hiệu và kinh doanh thương mại điện tử..
- Quản lý và sử dụng lao động có hiệu quả để giảm chi phí tiền lương, tiền công để
hạ giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp cần tổ chức sản xuất, bố trí các khâu sản xuất
hợp lý sẽ tiết kiệm được chi phí gián tiếp, hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, giảm
thấp khối lượng phế liệu, chi phí ngừng sản xuất.


Yêu cầu 4: Phân tích tốc độ luân chuyển các khoản phải thu của cơng ty

Bảng phân tích tốc độ luân chuyển các khoản phải thu ( Vốn thanh toán )


• Phân tích khái quát
Qua bảng phân tích trên ta thấy, Số vịng quay các khoản phải thu của cơng ty năm
2020 là 14,675 vòng, năm 2019 là 13,177 vòng . Kỳ luân chuyển bình quân các khoản
phải thu năm 2020 là 24,53 ngày, năm 2019 là 27,32 ngày. Điều này cho thấy, năm
2019 bình quân các khoản phải thu quay được 13,177 vòng và 1 vòng luân chuyển
CKPT trong năm hết 27,32 ngày. Tuy nhiên đến năm 2020 bình quân CKPT quay được
14,675 vòng và 1 vòng luân chuyển CKPT trong năm hết 24,53 ngày. Như vậy tốc độ
luân chuyển CKPT trong năm 2020 đã tăng so với năm 2019 từ đó tiết kiệm được 1
lượng vốn thanh tốn là 26.533,41 trđ. => Điều này là tốt cho doanh nghiệp
Để tìm hiểu nguyên nhân cụ thể đã tác động tích cực làm tăng số vịng quay các
khoản phải thu và có giải pháp để tiếp tục gia tăng số vịng quay vốn thanh tốn hơn cho
năm 2021 thì chúng ta đi phân tích 2 nhân tố tác động làm tăng – Tốc độ luân chuyển các
khoản phải thu là “ Các khoản phải thu ngắn hạn bình quân ” & “ DTBH và CCDV ”
• Phân tích chi tiết
- Thứ nhất các khoản phải thu ngắn hạn bình quân tác động ngược chiều với

tốc độ luân chuyển các khoản phải thu. Các khoản phải thu ngắn hạn bình quân năm
2020 là 233.528 trđ, năm 2019 là 273.169 trđ, như vậy so với năm N-1 thì năm N giảm
39.641 trđ với ty lệ giảm 14,51%. Trong điều kiện các nhân tố khác khơng đổi, thì số
dư bình qn các khoản phải thu giảm 39,641 trđ đã làm cho số vòng quay các khoản
phải thu ( SVpt ) tăng 2,2368 vòng và làm cho kỳ luân chuyển các khoản phải thu giảm
3,9645 ngày.



Đây là chiều hướng tác động tích cực và các khoản phải thu giảm xuống cho thấy vốn bị
chiếm dụng đã ít đi. Nhìn vào BCTC ta thấy vốn phải thu của doanh nghiệp chiếm phần
lớn là phải thu ngắn hạn của khách hàng và trong năm 2020 khoản phải thu này đã giảm
57.650 trđ.

Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi này là do => Số dư bình quân các khoản phaỉ
thu thay đổi. Nó có thể xuất phát từ NN chủ quan và Nguyên nhân khách quan
• Nguyên nhân chủ quan:
+ Trong năm doanh nghiệp đã tập trung hơn, để ý hơn việc quản trị các khoản phải
thu, tăng cường công tác quản trị nợ phải thu, siết chặt chính sách thanh tốn…=> từ
đó giảm được các khoản phải thu
+ Trong năm 2019, 2020 do ảnh hưởng của dịch covid 19, khiến cho tình hình kinh tế
khó khăn , Nên doanh nghiệp có thể thu hẹp việc nợ trong thanh tốn về thời gian và
quy mơ => Có thể nói là cơng tác quản trị các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp
khá tốt và doanh nghiệp thắt chặt chính sách tín dụng thương mại


• Ngun nhân khách quan
+ Có thể do mơi trường bên ngồi, tình hình tài chính của các nhóm khách hàng tiềm
năng của DN tốt => Họ thanh toán các khoản nợ thanh toán nhanh và giảm bớt các
khoản nợ ngắn hạn đi. Từ đó vốn trong thanh tốn của cơng ty có xu hướng giảm

+ Cũng có thể do tình hình dịch bệnh, thiên tai, tình hình nền kinh tế khó khăn dẫn
đến cầu giảm, giá cũng giảm dẫn đến các khoản phải thu khách hàng giảm
- Thứ 2 là do DTTBH tác động cùng chiều với tốc độ luân chuyển các khoản phải
thu. DTTBH năm 2020 là 3.426.914 trđ, năm 2019 là 3.599.627 triệu đồng, giảm
172.723 trđ, với tỷ lệ giảm 4,8% đã làm giảm tốc độ luân chuyển các khoản phải thu.
Trong điều kiện các nhân tố khác khơng đổ, thì DTTBH giảm 172.723 trđ làm cho số
vòng quay các khoản phải thu ( SVpt ) giảm 0,7396 vòng và làm cho kỳ luân chuyển
các khoản phải thu tăng lên là 1,1771 ngày.



Đây là chiều hướng tác động tiêu cực làm giảm tốc độ luân chuyển vốn thanh tốn,
doanh thu giảm có thể do 2 ngun nhân
• Nguyên nhân khách quan:
+ Căn cứ vào tài liệu ta thấy đây là công ty sản xuất và thương mại dệt may ( hoạt
động chính ) trong những năm qua đặc biệt là năm 2019 – 2020 bị tác động bởi dịch
covid, nên cung-cầu thị trường bị ảnh hưởng gây khó khăn cho việc tiêu thụ sản
phẩm
+ Do thị trường bất ổn => Khiến cho nhu cầu về sản phẩm giảm => Giá giảm nên
doanh thu giảm

• Nguyên nhân chủ quan:
+ Có thể do doanh nghiệp thắt chặt chính sách tín dụng thương mại ( Giảm hàng mua
nợ ) => Dẫn đến doanh thu giảm
+ Đồng thời có thể do chính sách dự trữ hàng của doanh nghiệp chờ tăng giá. Nhưng
do thị trường bất ổn => Khiến giá thị trường xuống thấp, từ đó dẫn tới doanh thu
giảm.
+ Cũng có thể chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cạnh tranh chưa cao so với các
đối thủ cạnh tranh cùng ngành, hay do chiến lược quảng cáo, Marketing chưa thực
sự hiểu quả ….

• Kết luận
Nhìn chung tốc độ ln chuyển các khoản phải thu của doanh nghiệp năm N so với
năm N-1 đã gia tăng và tăng do tác động của 2 nhân tố
+ Số dư bình quân các khoản phải thu
+ Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ.




Như vậy được đánh giá là 1 thành tích của doanh nghiệp. Tuy nhiên DN vẫn cần phải
đề ra những giải pháp để có hiệu quả hơn nữa trong những năm tiếp theo.
Trên cơ sở phân tích tốc độ luân chuyển các khoản phải thu tăng lên là do tốc độ
giảm của vốn phải thu là 14,51% nhanh hơn so với tốc độ giảm của doanh thu thuần
là 4,8%. Tuy nhiên ở đây cả vốn phải thu và doanh thu thuần đều giảm cũng có
những hạn chế nhất định đối với doanh nghiệp, vì vậy để quản lý vốn phải thu và
tăng doanh thu thuần. Doanh nghiệp cần có các biện pháp sau:

• Biện pháp
+ Thực hiện nới lỏng chính sách tín dụng kết hợp thực hiện chiết khấu thanh tốn để
thu hồi nợ sớm
+ Thực hiện cơng tác quản trị nợ phải thu tốt hơn nhưng đồng thời cần duy trì mối
quan hệ tốt đẹp với khách hàng
+ Tăng tốc độ tăng trưởng của doanh thu bằng cách trập trung nghiên cứu nâng cao
chất lượng sản phẩm => Đa dạng mẫu mã, hình thức sản phẩm
+ Có chiến lược marketing, chiến lược bán hàng mở rộng thị trường, mở rộng quy
mô tiêu thụ sản phẩm. Và tiếp tục thúc đẩy các kênh tiêu thụ sản phẩm, => Từ đó nâng
cao doanh thu cho doanh nghiệp
Yêu cầu 5 – Phân tích khả năng sinh lời rịng tài sản (ROA) của công ty theo các nhân tố:
Hệ số đầu tư ngắn hạn; số vòng luân chuyển vốn lưu động, hệ số sinh lời hoạt động



• Phân tích khái quát:
Qua bảng phân tích trên ta thấy, hệ số sinh lời ròng tài sản của CTCP Dệt May-Đầu
Tư - Thương Mại Thành Công năm 2020 là 0,0921 lần, năm 2019 là 0,0777 lần. Như
vậy so với năm 2019, thì hệ số sinh lời rịng tài sản của công ty năm 2020 đã tăng lên so
với năm 2019 là 0,0145 lần (tương ứng với tỉ lệ 18,60%), có nghĩa là trong năm 2019,
bình qn một đồng vốn tham gia sản xuất kinh doanh thì cơng ty thu được 0,0777 đồng
lợi nhuận sau thuế, nhưng đến năm 2020 thì bình quân một đồng vốn tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh thì cơng ty thu thêm được 0,0145 đồng lợi nhuận sau thuế. So
vói năm 2019, ROA của công ty đã tăng lên, tuy nhiên so với các đơn vị cùng ngành dệt
may như Công ty cổ phần Damsan, Cơng ty cổ phần Dệt May Huế,… thì khả năng sinh
lời ròng của CTCP Dệt May - Đầu Tư - Thương Mại Thành Công thấp hơn.
ROA tăng lên nói trên là do ảnh hưởng của các nhân tố: hệ số đầu tư ngắn hạn;
số vòng luân chuyển vốn lưu động và hệ số chi phí
• Phân tích từng nhân tố ảnh hưởng ta thấy
- Do hệ số đầu tư ngắn hạn của công ty (Hđ) trong năm 2020 có sự thay đổi so với năm
2019 (hệ số đầu tư ngắn hạn 2019 là 0,5650 lần, năm 2020 là 0,5805 lần). Với điều kiện
các nhân tố khác không đổi thì sự thay đổi của hệ số đầu tư ngắn hạn nói trên đã làm cho
ROA của CTCP Dệt May - Đầu Tư - Thương Mại Thành Công trong năm 2020 tăng
0,0021 lần. Đây là nhân tố duy nhất tác động tích cực đến ROA. Hệ số đầu tư ngắn hạn
của công ty trong năm 2020 tăng so với năm 2019 là do tốc độ giảm của tổng tài sản bình
quân (giảm 4,49%) lớn hơn tốc độ giảm của tổng tài sản bình qn (giảm 1,87%). Trong
năm 2020, cơng ty thay đổi chính sách đầu tư theo xu hướng tăng tỉ trọng đầu tư vào tài
sản ngắn hạn (từ 56,50% lên 58,05%) và giảm tỉ trọng đầu tư vào tài sản dài hạn (từ
43,50% xuống 41,95%). Bên cạnh đó, cịn phụ thuộc vào mục tiêu kinh danh, môi trường
kinh doanh các sản phẩm dệt may và chính sách nhà nước. Chính sách đầu tư của CTCP
Dệt May - Đầu Tư - Thương Mại Thành Công là chưa hợp li, bởi vì sự thay đổi của chính
sách đầu tư chưa nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn, nhất là chưa đẩy nhanh được tốc
độ luân chuyển vốn lưu động trong năm 2020. Có 2 ngun nhân: Về khách quan, vì tình
hình kinh tế khó khăn thị trường ngun vật liệu bị gián đoạn, khan hiếm, điều này dẫn

đến sự tăng vọt về giá của các nguyên liệu đầu vào. Về chủ quan, DN vẫn phải duy trì
chính sách nới lỏng tín dụng đối với khách hàng lâu năm nhằm giữ chân khách hàng, vì
vậy các khoản phải thu ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn; doanh nghiệp đã tăng khoản đầu
tư tài chính ngắn hạn nhằm khai thác, sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để đầu tư, thu
về lợi nhuận. Bên cạnh đó, HTK cũng chiếm tỷ trọng lớn là do doanh nghiệp chủ động dự
trữ NVL để tránh sự biến động về giá cả. Như vậy, việcđiều chỉnh đó có thể được coi là
hợp lý trong tình hình kinh tế khó khăn, tuy nhiên vẫn cần phải xem xét quản trị chặt chẽ


các khoản phải thu để tránh tình trạng khơng thu hồi được nợ, nợ xấu, đồng thời quản trị
tốt HTK để tránh ứ đọng, lãng phí vốn.
- Do số vịng luân chuyển vốn lưu động của công ty trong năm 2020 có sự thay đổi so
với năm 2019 (số vịng luân chuyển vốn lưu động năm 2020 là 2,0622 vòng, số vòng luân
chuyển vốn lưu động năm 2019 là 2,1305 vịng).Đây là dấu
hiệu khơng tốt trong cơng tác quản lý, sử dụng vốn lưu động cũng như việc sản xuất tiêu
thụ sản phẩm và đầu tư vốn để tạo ra luân chuyển thuần. Với điều kiện các nhân tố khác
không đổi thì sự thay đổi của số vịng ln chuyển vốn lưu động nói trên đã làm cho
ROA của cơng ty trong năm 2020 giảm 0,0026 lần. Số vòng luân chuyển vốn lưu động
của công ty năm 2020 giảm so với năm 2019 là do trong năm 2020, công ty giảm tài sản
ngắn hạn bình quân là32.171 triệu với tỉ lệ giảm 1,87%, từ đó giảm tổng luân chuyển
thuần trong năm 2020 là 183.803 triệu với tỉ lệ giảm 5,02%, nhưng tỉ lệ giảm của luân
chuyển thuần nhanh hơn tỉ lệ giảm của tài sản ngắn hạn bình quân. Cho nên, trong năm
2020, về cơ bản công ty chưa sử dụng hợp lí vốn lưu động trong q trình hoạt động của
công ty. Nguyên nhân là do các hoạt động sản xuất kinh doanh đang bị đình trệ trong
tình hình dịch bệnh, dẫn đến lượng hàng tồn kho nhiều. Trong bối cảnh này, không chỉ
nguồn cung nguyên liệu bị gián đoạn mà thị trường xuất khẩu cũng bị đứt đoạn, đơn
hàng giảm mạnh, thậm chí nhiều đơn hàng bị hủy. Bên cạnh đó, thị trường nội địa canh
tranh, sức mua của người tiêu dùng kém, trong khi dịch bệnh đang làm giảm nhu cầu tiêu
dùng bởi các hoạt động giãn cách, cùng với giảm chi tiêu của hộ gia đình làm cho doanh
thu của DN sụt giảm nghiêm trọng. Có thể thấy trong năm 2020 trong bối cảnh môi

trường kinh doanh cực kì khó khăn do đại dịch Covid 19, về cơ bản, công ty chưa sử
dụng hợp lý vốn lưu động ở từng khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh .
- Do hệ số chi phí của cơng ty trong năm 2020 có sự thay đổi so với năm 2019 (hệ số chi
phí năm 2020 là 0,9230 lần, năm 2019 là 0,9355 lần). Với điều kiện các nhân tố khác
khơng đổi, thì sự thay đổi của hệ số chi phí đã làm cho ROA của cơng ty giảm 0,0149
lần. Hệ số chi phí của cơng ty năm 2020 giảm so với năm 2019 là do trong năm 2020
công ty giảm tổng chi phí là 215.187 triệu đồng, với tỉ lệ giảm 6,28%, từ đó girm được
tổng luân chuyển thuần của công ty năm 2020 là 183.803 triệu đồng với tỉ lệ giảm 5,02%,
nhưng tỉ lệ giảm của tổng luân chuyển thuần chậm hơn tỉ lệ giảm của tổng chi phí. Trong
cả 2 năm Hcp đều <1 chứng tỏ chi phí < doanh thu hay doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tuy
nhiên Hcp có xu hướng giảm phản ánh doanh nghiệp phải bỏ ra ít chi phí hơn cho mỗi
đồng doanh thu hay hiệu quả quản lý chi phí của DN tăng. Công ty cần xem xét lại công
tác quản trị chi phí. Cho nên trong năm 2020, về cơ bản cơng ty đã sử dụng hợp lí chi
phí trong quá trình hoạt động.


KẾT LUẬN
Hệ số sinh lời rịng tài sản của cơng ty năm 2020 tăng so với năm 2019 là 0,0145
lần. Nguyên nhân là do trong năm N, về cơ bản cơng ty đã sử dụng tiết kiệm chi phí cho
q trình hoạt động, nhưng trong năm N cơng ty có những khuyết điểm nhất định đó là:
đưa ra chính sách đầu tư về cơ bản là chưa hợp lí, và chưa đẩy nhanh tốc độ luân chuyển
vốn lưu động (chưa sử dụng hợp lí vốn lưu động trong q trình hoạt động)

GIẢI PHÁP
Trong kì kinh doanh tới, để tăng được hơn nữa ROA thì cơng ty cần phải
- Có chính sách đầu tư hợp lí hơn, cụ thể cần phải xác định trọng điểm đầu tư: đầu tư cho
sản xuất kinh doanh (đầu tư sản xuất sản phẩm nào) hay đầu tư cho tài chính, đồng thời
xác định rõ quy mô và mức độ đầu tư cho từng lĩnh vực
- Đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn lưu động của công ty như: đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển hàng tồn kho bằng cách nâng cao chất lượng sản xuất dược phẩm, nâng cao uy tín

của cơng ty trên thị trường dược phẩm (đa dạng hình thức bán hàng, cải tiến mẫu mã sản
phẩm cho phù hợp với nhu cầu thị hiếu tiêu dùng), đẩy nhanh tốc độ luân chuyển phải thu
(có chính sách bán hàng đối với từng đối tượng bán hàng cụ thể: bán chịu, đồng thời khi
lựa chọn chính sách bán hàng cần phân tích năng lực tài chính của khách hàng ....)
- Ln sử dụng tiết kiệm chi phí trong q trình hoạt động của cơng ty như chi phí cho
sản xuất, chi phí cho cơng tác bán hàng và chi phí quản lí
- Tổ chức rà soát, phát triển hệ thống các kênh phân phối để mở rộng thị phần, tiếp
cận nhiều khách hàng nhằm gia tăng sản lượng tiêu thụ, tăng doanh thu bán hàng

Yêu cầu 6: Phân tích khả năng sinh lời của VCSH


• Phân tích Khái quát:
Qua bản phân tích trên ta thấy ROE năm 2020 và năm 2019 đều dương chứng tỏ vốn
chủ của công ty luôn sinh lời. Năm 2020 ROE bằng 0,1792 lần nghĩa là bình quân sử
dụng 1 đồng VCSH tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra 0,1792 đồng
LNST. Năm 2019 ROE bằng 0,1810 lần nghĩa là bình quân sử dụng 1 đồng VCSH tham
gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra 0,1810 đồng LNST. Hệ số sinh lời
VCSH năm 2020 so với 2019 giảm 0,0018 lần với tỷ lệ giảm là 1,01% cho thấy khả
năng sinh lời VCSH bị giảm sút, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp bị giảm làm
giảm uy tín của cơng ty trong mắt các nhà đầu tư. Khả năng sinh lời của VCSH giảm là
do ảnh hưởng của 4 nhân tố sau:


• Phân tích chi tiết:
- Hệ số tự tài trợ: : có tác động ngược chiều với khả năng sinh lời VCSH. Cụ thể, năm 2020
Ht là 0,5142 lần, năm 2019 Ht là 0,4292 lần. Trong trường hợp các nhân tố khác không đổi,
hệ số tài trợ năm 2020 tăng 0,0850 lần so với năm 2019 tương đương 19,81% làm cho ROE
giảm 0,0299 lần. Hệ số tự tài trợ năm 2020 tăng là do VCSH bình quân tăng 188.466 triệu
đồng tương ứng với 14,43% cịn tổng TS bình qn giảm 249.595 triệu

đồng tương ứng với 5,67%. Hệ số tự tài trợ năm 2019 nhỏ hơn 0,5 cho thấy mức độ tự
chủ tài chính của cơng ty năm đó khá thấp. Nhưng đến năm 2020, hệ số tự tài trợ đã
vượt quá 0,5 cho thấy mức độ tự chủ tài chính của công ty đã ổn định. Như vậy trong
năm 2020 mặc dù tổng TS giảm nhưng công ty vẫn tăng huy động VCSH. VCSH bình
qn của cơng ty năm 2020 tăng lên chủ yếu là do công ty huy động thêm vốn góp chủ
sở hữu và tăng quỹ đầu tư phát triển. Việc tăng hệ số tự tài trợ bình quân trong năm
2020 được đánh giá là hợp lý. Công ty đã tăng mức độ tự chủ tài chính và giảm sự tác
động tiêu cực trong việc sử dụng đòn bẩy tài chính.
- Hệ số đầu tư ngắn hạn: có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời VCSH. Cụ thể,
Hệ số đầu tư ngắn hạn năm 2020 là 0,5805 lần, năm 2019 là 0,5650 lần. Trong điều
kiện các nhân tố khác không đổi, hệ số đầu tư ngắn hạn năm 2020 đã tăng 0.0155 lần
so với năm 2019 tương ứng với 2,75% và đã làm cho ROE tăng 0,0041 lần. Hệ số đầu
tư ngắn hạn tăng là do tài sản ngắn hạn bình quân đã giảm 32.171 triệu đồng tương ứng
với tỷ lệ giảm 1,87% và tổng TS bình quân giảm 136.749 triệu đồng tương ứng với tỷ
lệ giảm 4,49%. Việc giảm của VKD bình qn có thể là do doanh nghiệp đang thu hẹp
quy mô hoạt động của cơng ty.
- Số vịng quay VLĐ: Số vịng quay VLĐ năm 2020 là 2,0622 vòng, giảm 0,0683 vòng
so với năm 2019, tương ứng với tỷ 3,21%. Trong điều kiện các nhân tố khác khơng đổi,
số vịng quay VLĐ giảm đi làm cho ROE giảm 0,0050 lần. Đây là dấu hiệu không tốt
trong công tác quản lý, sử dụng vốn lưu động cũng như việc sản xuất tiêu thụ sản phẩm
và đầu tư vốn để tạo ra luân chuyển thuần. SVlđ giảm là do luân chuyển thuần trong
năm 2020 giảm 5,02%. Nguyên nhân là do các hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình
trệ trong tình hình dịch bệnh, dẫn đến lượng hàng tồn kho nhiều. Trong bối cảnh này,
không chỉ nguồn cung NVL bị gián đoạn mà thị trường xuất khẩu cũng bị đứt đoạn, đơn
hàng giảm mạnh, thậm chí nhiều đơn hàng bị hủy. Bên cạnh đó, thị trường nội địa canh
tranh, sức mua của người tiêu dùng kém, trong khi dịch bệnh đang làm giảm nhu cầu
tiêu dùng bởi các hoạt động giãn cách, cùng với giảm chi tiêu của hộ gia đình làm cho
doanh thu của doanh nghiệp sụt giảm nghiêm trọng.



- Hệ số chi phí: có tác động ngược chiều với khả năng sinh lời VCSH. Cụ thể, năm 2020 là
0,9230 lần và năm 2019 là 0,9355 lần. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, ta thấy
hệ số chi phí năm 2020 tăng giảm 0,0124 lần tương đương với 1,33%. Việc giảm hệ số chi
phí đã làm cho ROE tăng 0,0444 lần. Ta thấy hệ số chi phí năm 2020 và năm 2019 đều nhỏ
hơn 1 cho thấy cơng ty quản lý chi phí có hiệu quả và có lãi tuy nhiên hiệu quả tuy nhiên
hiệu quả chi phí thấp do gần bằng 1 và có xu hướng tăng nhẹ trong năm 2020.
Hệ số chi phí tăng là do chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng của công ty
trong năm 2020 tăng lên, điều đó cũng là vì trong năm 2020 thị trường có cung > cầu và
do dịch bệnh vì vậy cơng ty cần chi ra nhiều chi phí để tiêu thụ sản phẩm và quản lý
doanh nghiệp, từ đó, cơng ty cần xem xét chính sách quản lý chi phí để làm tăng ROE.

Kết luận:
Như vậy, Khả năng sinh lời VCSH giảm là do việc quản lý sử dụng VLĐ lãng phí và
hiệu quả quản trị chi phí giảm từ đó để tăng ROE. Trong năm 2020, tỷ suất sinh lời vốn
chủ sở hữu giảm chủ yếu là do công tác quản lý chi phí cịn yếu kém, chính sách phân
bổ vốn chưa thực sự hợp lý, công tác quản trị các khoản phải thu, hàng tồn kho chưa
mang lại hiệu quả và sự ảnh hưởng lớn của dịch bệnh Covid-19. Doanh nghiệp cần đề ra
các biện pháp để làm tăng ROE trong năm tới, cụ thể: Chủ động xây dựng cơ cấu nguồn
vốn hợp lý, đảm bảo được gia tăng VCSH, gia tăng khả năng phát triển bền vững lâu dài
trong tương lai. Bên cạnh đó, phải sử dụng địn bẩy tài chính hiệu quả nhằm khuếch đại
ROE. Xem xét lại các danh mục đầu tư để đảm bảo phù hợp với tình hình kinh doanh và
ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động trên
cơ sở phân phối và quản trị từng loại vốn: vốn bằng tiền, các khoản phải thu, hàng tồn
kho hợp lý, đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa tránh ứ đọng, lãng phí vốn.

Yêu cầu 7: Phân tích khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu theo các nhân tố: Hệ số tự tài trợ;
Hệ số đầu tư ngắn hạn; Số vòng luân chuyển vốn lưu động và Hệ số sinh lời hoạt động.


Bảng phân tích khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)


Bảng phụ: Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu của một số công ty cùng ngành may mặc

Công ty may Bình Minh

Cơng ty may Sơng Hồng

Năm 2019

17,79%

36,4%

Năm 2020

14,03%

16,07%

• Phân tích khái quát:
Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu ( ROE) của công ty năm 2020 là 0,1792 lần; năm 2019 là
0,1810 lần. Như vậy, so với năm 2019 thì hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần
dệt may Thành Công này trong năm 2020 đã giảm đi là 0,0018 lần, tương ứng với tỷ lệ giảm
1,007%. Như vậy, trong năm 2019, bình quân 1 đồng vốn chủ tham gia vào quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh thì cơng ty thu được 0,1810 đồng lợi nhuận sau thuế


nhưng đến năm 2020, bình quân 1 đồng vốn chủ tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh thì cơng ty chỉ thu được 0,1792 đồng lợi nhuận sau thuế. Tuy cả lợi nhuận sau
thuế và vốn chủ sở hữu bình qn của cơng ty năm 2020 đều tăng so với năm 2019 ( lợi

nhuận sau thuế tăng 31.384 triệu đồng cịn vốn chủ sở hữu bình qn tăng 188.465,5 triệu
đồng) , nhưng, tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế (13,2758%) lại nhỏ hơn tốc độ tăng của
vốn chủ sở hữu bình quân (14,4281% ) làm cho ROE của công ty năm 2020 giảm so với năm
2019. Mặc dù, khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty năm 2020 giảm so với năm
2019 nhưng so với các công ty khác cùng ngành may mặc như cơng ty may Bình Minh hay
cơng ty may Sơng Hồng, hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty năm 2020 vẫn cao hơn.
Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty năm 2020 giảm so với năm 2019 là do ảnh hưởng
của các nhân tố: Hệ số tự tài trợ ( Ht) ; hệ số đầu tư ngắn hạn (Hđt) ; số vòng luân chuyển
vốn lưu động (SVlđ) và hệ số sinh lời hoạt động ( ROS ).

• Phân tích từng nhân tố ảnh hưởng ta thấy:
- Do hệ số tự tài trợ của cơng ty năm 2020 có sự thay đổi, tăng so với năm 2019 ( hệ số tự
tài trợ năm 2020 là 0,5142 lần , năm 2019 là 0,4292 lần ). Với điều kiện các nhân tố khác
không thay đổi, sự thay đổi của hệ số tự tài trợ nói trên đã làm cho hệ số sinh lời vốn chủ
sở hữu của công ty may Thành Công năm 2020 giảm 0,0299 lần. Hệ số tự tài trợ của công
ty năm 2020 tăng so với năm 2019 là do trong năm 2020, cơng ty tăng vốn chủ sở hữu
bình qn là 188.465,5 triệu đồng ( tỷ lệ tăng 14,4281% ); tài sản bình quân năm 2020 đã
giảm đi 136.749 triệu đồng ( tỷ lệ giảm 4,4931% ) và tỷ lệ tăng vốn chủ sở hữu bình quân
lớn hơn khá nhiều so với tỷ lệ giảm của tài sản bình quân. Điều này cho thấy chính sách
huy động vốn của cơng ty theo xu hướng: tăng tỷ trọng nguồn vốn huy
động từ vốn chủ sở hữu và giảm nguồn vốn huy động từ nợ phải trả. Trước tình hình
dịch bênh ( năm 2020 ) thì việc cơng ty gia tăng mức độ tự chủ là hồn tồn hợp lý,
giúp cơng ty có thể trụ vững, ổn định tạm thời trong thời gian này để sau tái cơ cấu
nguồn vốn. Tuy nhiên, trong cả năm 2019 và 2020 công ty đều bị phụ thuộc về mặt tài
chính với bên ngồi ( hay cơng ty đã sử dụng đòn bẩy tài chỉnh). Tuy nhiên tỷ suất
sinh lời cơ bản trên vốn kinh doanh (BEP ) của công ty ( 10,55%) lớn hơn lãi suất vay
vốn bình qn trên thị trường cho nên chính sách huy động vốn của công ty trong năm
2020 về cơ bản là hợp lý.
- Do hệ số đầu tư ngắn hạn của cơng ty trong năm 2020 có sự thay đổi tăng 0,0155 lần (
tương ứng với tỷ lệ tăng 2,7456%) so với năm 2019 (năm 2020 là 0,5805 lần; năm 2019 là

0,5650 lần ). Với điều kiện các nhân tố khác khơng thay đổi thì sự thay đổi của hệ số
đầu tư ngắn hạn này đã làm cho hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty này tăng lên
0,0041 lần. Hệ số đầu tư ngắn hạn của công ty năm 2020 tăng so với năm 2019 là do
tài sản ngắn hạn bình quân năm 2020 so với năm 2019 giảm 32.170,5 triệu đồng ( tỷ lệ
giảm 1,8709% ) và tổng tài sản bình quân năm 2020 giảm 136.749 triệu đồng ( tỷ lệ


giảm 4,4931% ) nhưng tốc độ giảm của tổng tài sản bình quân nhanh hơn so với tốc độ
giảm của tài sản ngắn hạn bình qn. Bên cạnh đó, trong năm 2020, chính sách đầu tư
của cơng ty thay đổi theo xu hướng giảm tỷ trọng đầu tư vào tài sản dài hạn, tăng tỷ
trọng đầu tư vào tài sản ngắn hạn ( từ 56,498% lên 58,0492% ). Ngoài ra cịn phụ
thuộc vào mục tiêu kinh doanh, mơi trường kinh doanh ngành nghề may mặc trong
giai đoạn này và chính sách nhà nước để kết luận chính sách đầu tư này của công ty
hợp lý hay chưa. Tuy nhiên, sự thay đổi của chính sách đầu tư này đã góp phần hạn
chế được sự sụt giảm tốc độ lưu chuyển vốn lưu động, góp phần hạn chế sự sụt giảm
hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu trong năm 2020. Bên cạnh đó, cũng có thể lí giải xu
hướng đầu tư này là do tình hình kinh tế khó khăn nói chung và thị trường may mặc bị
đình trệ nói riêng thì cơng ty phải thu hẹp các dự án đầu tư dài hạn, tập trung vào các
chính sách đầu tư ngắn hạn.
- Do số vòng quay vốn lưu động của cơng ty trong năm 2020 có sự thay đổi so với năm
2019. Số vòng quay vốn lưu động năm 2020 là 2,0622 vòng , còn năm 2019 là 2,1305
vòng. Với điều kiện các nhân tố khác khơng đổi thì sự thay đổi của số vòng luân chuyển
vốn lưu động nói trên đã làm cho hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu của cơng ty giảm 0,0050
lần. Số vịng luân chuyển vốn lưu động của công ty năm 2020 đã giảm so với năm 2019 là
do trong năm 2020, tài sản ngắn hạn bình qn của cơng ty giảm 32170,5 triệu đồng tương
ứng với tỷ lệ giảm 1,8709% làm cho tổng luân chuyển thuần trong năm 2020 giảm đi
183.803 triệu đồng với tỷ lệ giảm 5,0171%. Cả tổng luân chuyển thuần và tài sản ngắn
hạn bình qn của cơng ty năm 2020 đều giảm so với năm 2019, tuy nhiên tốc độ giảm
của luân chuyển thuần lại nhanh hơn khá nhiều so với tốc độ giảm của tài sản ngắn hạn
bình quân, chứng tỏ, trong năm 2020, về cơ bản, cơng ty này chưa sử dụng hợp lí vốn lưu

động trong quá trình hoạt động của mình. Bên cạnh đó cũng cần kể đến những nguyên
nhân khách quan, đặt trong tình hình dịch bệnh khiến cho lượng hàng tồn kho nhiều.
Trong bối cảnh này, không chỉ nguồn cung nguyên vật liệu bị gián đoạn mà thị trường
xuất khẩu cũng bị đứt đoạn, đơn hàng giảm mạnh, thậm chí nhiều đơn hàng bị huỷ; thị
trường nội địa cạnh tranh gay gắt, sức mua của người tiêu dùng kém trong khi dịch bệnh
đang làm giảm nhu cầu tiêu dùng bởi các hoạt động giãn cách, cùng với giảm chi tiêu của
hộ gia đình làm cho doanh thu của cơng ty sụt giảm nghiêm trọng.
- Do hệ số sinh lời hoạt động ( ROS) của cơng ty trong năm 2020 có sự thay đổi so với
năm 2019 ( hệ số sinh lời hoạt động năm 2020 là 0,0770 lần còn ở năm 2019 là 0,0645
lần) . Với điều kiện các nhân tố khác khơng đổi, thì sự thay đổi của hệ số sinh lời hoạt
động nói trên làm cho hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty trong năm 2020 tăng
0,0289 lần. Hệ số sinh lời hoạt động ROS năm 2020 tăng so với năm 2019, nguyên nhân
là do trong năm 2020, tổng luân chuyển thuần của công ty giảm 183.803 triệu đồng ( với
tỷ lệ giảm 5,0171%) và lợi nhuận sau thuế của công ty đã tăng 31.384 triệu đồng ( với tỷ
lệ giảm 13,2758%).Tổng luân chuyển thuần giảm nhưng lợi nhuận sau thuế công ty nhận
được lại tăng với tỷ lệ tăng của lợi nhuận sau thuế lớn hơn tỷ lệ giảm của luân


chuyển thuần. Điều này chứng tỏ, trong năm 2020, công ty đã sử dụng tiết kiệm chi
phí, hoạt động quản trị chi phí của cơng ty đem lại hiệu quả.
Kết luận:
Hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu của công ty năm 2020 giảm so với năm 2019 là 0,0018
lần. Nguyên nhân là do trong năm 2020, công ty thay đổi chính sách huy động vốn theo
xu hướng tăng tỷ trọng nguồn vốn huy động từ vốn chủ sở hữu, giảm tỷ trọng nguồn vốn
huy động từ nợ phải trả ( vẫn cịn phụ thuộc tài chính với bên ngồi nhưng sự phụ thuộc
này đã giảm), chính sách này về cơ bản thì tương đối hợp lý trong hồn cảnh dịch bệnh.
Bên cạnh đó, cịn do chính sách đầu tư của công ty thay đổi theo xu hướng: tăng tỷ trọng
đầu tư vào tài sản ngắn hạn và giảm tỷ trọng đầu tư vào tài sản dài hạn. Chính sách đầu tư
này đã góp phần hạn chế sự sụt giảm hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu trong năm 2020.
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong năm 2020 chậm hơn so với năm 2019 chứng tỏ,

công ty sử dụng vốn lưu động về cơ bản là chưa hợp lý. Nhưng trong năm 2020, cơng ty
cũng có những thành tích nhất định, đó là, về cơ bản cơng ty đã sử dụng tiết kiệm chi phí
trong q trình hoạt động.
Giải pháp:
Trong kỳ kinh doanh tới, để tăng được khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu, công ty cần:
+ Có những chính sách đầu tư hợp lý hơn: cụ thể cần phải xác định trọng điểm đầu tư:
đầu tư cho sản xuất kinh doanh ( đầu tư sản xuất sản phẩm nào ) hay đầu tư cho tài
chính, đồng thời xác định rõ quy mô và mức độ đầu tư cho từng lĩnh vực
+ Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công ty như: đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển hàng tồn kho bằng cách nâng cao chất lượng sản xuất hàng may mặc, nâng cao
uy tín của công ty trên thị trường may mặc ( đa dạng hình thức bán hàng, cải tiến mẫu
mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu thị hiếu tiêu dung ), đẩy nhanh tốc độ luân
chuyển phải thu ( có chính sách bán hàng đối với từng đối tượng khách hàng cụ thể;
đồng thời, cần phân tích năng lực tài chính của khách hàng
+ Có chính sách huy động vốn hợp lý hơn. Có thể huy động them từ nguồn vốn bên
trong để giảm chi phí sử dụng vốn, như: huy động vốn từ công nhân viên, …
+ Luôn sử dụng tiết kiệm chi phí trong q trình hoạt động của cơng ty như: chi phí
cho sản xuất, chi phí cho cơng tác bán hàng và chi phí quản lý.
+ Tổ chức rà soát, phát triển hệ thống các kênh phân phối để mở rộng thị phần, tiếp
cận nhiều khách hàng nhằm gia tăng sản lượng tiêu thu, tăng doanh thu bán hàng


Yêu cầu 8: Phân tích kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Chỉ tiêu
1. Doanh thu về bán hàng và CCDV
2. Các khoản giảm trừ doanh thu
- Hàng bán bị trả lai
3.Doanh thu thuần về BH và CCDV
4. Giá vốn hàng bán

5. Lợi nhuận gộp về bán hàng và CC dịch vụ
6. Doanh thu hoạt động tài chính
7. Chi phí hoạt động tài chính
Trong đó: Lãi vay
8. Chi phí bán hàng
9. Chi phí quản lý doanh nghiệp
10. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
11. Thu nhập khác
12. Chi phí khác
13. Lợi nhuận khác
14. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế
15. CP thuế TNDN hiện hành
16. Lợi nhuận sau thuế TNDN
Chỉ tiêu
1. ROS = LNST/LCT
2. Hệ số sinh lời hoạt động trước thuế =
LNTT/LCT
3. Hệ số sinh lời từ HĐKD = LN thuần từ HĐKD/
DTT từ HĐKD
4. Hệ số sinh lời từ HĐBH = LN từ HĐBH/DTT
từ BH và CCDV
5. Hcp = Tổng CP/ LCT

ĐVT
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng

Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng

5. Hcp = Tổng CP/ LCT
6. Hgv = GVHB/DTT từ BH và CCDV
7. Hcb = CPBH/DTT từ BH và CCDV
8. Hql = CPQLDN/DTT từ BH và CCDV
LN từ HĐBH
LCT
Tổng chi phí
DTT từ HĐKD

Lần

Năm 2020
3.427.663
749
749
3.426.914
2.821.007

605.907
49.861
50.022
27.743
140.784
133.478
331.485
2.937
157
2.780
334.265
67.545
267.784
Năm 2020
0,0770

Năm 2019
3.600.489
853
853
3.599.637
3.036.689
562.948
57.511
60.971
49.405
130.334
141.620
287.534
6.367

1.313
5.054
292.588
46.595
236.400
Năm 2019
0,0645

Chênh lệch Tỷ lệ (%)
-172.826 -4,80%
-104
-12,19%
-104
-12,19%
-172.723 -4,80%
-215.682 -7,10%
42.959
7,63%
-7.650
-13,30%
-10.949 -17,96%
-21.662 -43,85%
10.450
8,02%
-8.142
-5,75%
43.951
15,29%
-3.430
-53,87%

-1.156
-88,04%
-2.274
-44,99%
41.677
14,24%
20.950
44,96%
31.384
13,28%
Tăng giảm Tỷ lệ (%)
0,0124
19,26%

Lần

0,0961

0,0799

0,0162

20,28%

Lần

0,0953

0,0786


0,0167

21,27%

Lần
Lần

0,0968

0,0808

0,0159

19,71%

0,9230

0,9355

-0,0124

-1,33%

Lần
Lần
Lần
Lần
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng

Triệu đồng

0,9230
0,8232
0,0411
0,0389
331.645
3.479.712
3.211.928
3.476.775

0,9355
0,8436
0,0362
0,0393
290.994
3.663.515
3.427.115
3.657.148

-0,0124
-0,0204
0,0049
-0,0004
40.651

-1,33%
-2,42%
13,46%
-1,00%

13,97%


• Phân tích khái quát:
- Từ bảng phân tích trên, ta thấy: Lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2020 là 267.784
triệu đồng, tăng so với năm 2019 là 31.384 triệu đồng với tỷ lệ tăng 13,28%. Đồng
thời lợi nhuận kế tốn trước thuế của cơng ty năm 2020 là 334.265 triệu đồng, tăng so
với năm 2019 là 41.677 triệu với tỷ lệ tăng 14,24%.


Kết quả kinh doanh của tồn CTCP Dệt may-ĐT-TM Thành Cơng năm 2020 đã tăng

lên so với năm 2019.
- Mặt khác, hệ số sinh lời hoạt động của công ty năm 2020 là 0,077 lần, năm 2019 là
0,0645 lần (tăng 0,0124 lần với tỉ lệ tăng 19,26%) và hệ số sinh lời hoạt động trước thuế
của công ty năm 2020 là 0,0961 lần, năm 2019 là 0,0799 lần (tăng 0,0162 lần với tỉ lệ tăng
20,28%). Như vậy, trong năm 2019, cứ 1 đồng doanh thu thu nhập thì cơng ty thu được
0,0799 đồng lợi nhuận trước thuế và 0,0645 đồng lợi nhuận sau thuế. Nhưng đến năm
2020 thì cứ 1 đồng doanh thu thu nhập thì cơng ty đã thu thêm được 0,0162 đồng



Hiệu quả hoạt động của tồn cơng ty năm 2020 đã tăng lên so với năm 2019.

• Phân tích từng lĩnh vực hoạt động
- Đối với hoạt động kinh doanh chính:
Kết quả hoạt động kinh doanh chính năm 2020 đã tăng lên so với năm 2019 bởi vì lợi
nhuận thuần từ HĐKD năm 2020 là 331.485 triệu, tăng so với năm 2019 là 43.951
triệu với tỉ lệ tăng 15,29%. Mặt khác, hệ số sinh lời từ HĐKD của công ty năm 2020 là
0,0953 lần, năm 2019 là 0,0786 lần (tăng 0,0167 lần với tỉ lệ tăng 21,27%). Như vậy,

trong năm 2019, cứ 1 đồng DTT từ HĐKD thì cơng ty thu được 0,0786 đồng LN thuần
từ HĐKD nhưng đến năm 2020, cứ 1 đồng DTT từ HĐKD thì cơng ty đã thu được
0,0953 đồng LN thuần từ HĐKD.



Hiệu quả hoạt động kinh doanh chính của cơng ty năm 2020 tăng so với năm 2019.

- Đối với hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ:
Lợi nhuận từ hoạt động BH và CCDV năm 2020 là 331.645 triệu, tăng so với năm
2019 là 40.651 triệu với tỉ lệ tăng 13,97%



Kết quả hoạt động BH và CCDV của công ty năm 2020 tăng so với năm 2019.

Mặt khác, hệ số sinh lời từ hoạt động BH và CCDV của công ty năm 2020 là 0,0968
lần, năm 2019 là 0,0808 lần (tăng 0,0159 lần với tỉ lệ tăng 19,71%). Như vậy, trong
năm 2019, cứ 1 đồng DTT từ BH và CCDV thì cơng ty thu được 0,0808 đồng LN từ
hoạt động BH và CCDV nhưng đến năm 2020 thì cứ 1 đồng DTT từ BH và CCDV thì
cty đã thu được 0,0968 đồng LN từ hoạt động BH và CCDV.


×