BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGÔ XUÂN TIỆP
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI
BỆNH SAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG
CỔ THẤP CÓ TỔN THƯƠNG THẦN KINH
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2021
1
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGÔ XUÂN TIỆP
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI
BỆNH SAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG
CỔ THẤP CÓ TỔN THƯƠNG THẦN KINH
Chuyên ngành: Ngoại người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn
TS. Trần Văn Long
NAM ĐỊNH - 2021
2
i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, các
khoa, Phòng, Bộ mơn, các thầy, cơ giáo cùng tồn thể các cán bộ, viên chức của
trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện, giúp đỡ tơi trong suốt q
trình học tập tại trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các Khoa lâm sàng và các phòng
của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã tạo điều kiện cho tơi trong q trình học tập.
Với lịng biết ơn sâu sắc tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới TS. Trần Văn
Long là người trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và chỉ bảo nhiều kinh nghiệm q
báu cho tơi trong suốt q trình làm chun đề và hồn thành chun đề.
Cuối cùng tơi xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Chuyên khoa I
khóa 9 hệ 1 năm, các anh em, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, tạo
điều kiện thuận lợi cho tơi trong q trình học tập.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, ngày 25/9/2021
Tác giả
Ngô Xuân Tiệp
i
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan báo cáo chuyên đề: “Đánh giá chất lượng cuộc sống của người
bệnh sau phẫu thuật chấn thương cột sống cổ thấp có tổn thương thần kinh” là
báo cáo do tự bản thân tôi thực hiện, các số liệu khảo sát của tôi trong báo cáo là
hồn tồn trung thực, chưa từng được cơng bố ở bất kỳ báo cáo chun đề hay cơng
trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Ngô Xuân Tiệp
ii
iii
CHỮ VIẾT TẮT
ASIA
Phân loại Hiệp hội chấn thương cột sống Mỹ
(American Spinal Cord Injury Association)
CLCS
Chất lượng cuộc sống
CLVT
Cắt lớp vi tính
CN/ND
Cơng nhân/Nơng dân
CTCS
Chấn thương cột sống
CTCSC
Chấn thương cột sống cổ
ĐH-SĐH
Đại học/ Sau Đại học
HS_SV
Học sinh_ sinh viên
MRI
Cộng hưởng từ
(Magenetic Resonance Imaging)
SF-36
Short-form 36
(Bộ công cụ đo lường CLCS ngắn với 36 câu hỏi)
TC-CĐ
Trung cấp/ Cao đẳng
TNLĐ
Tai nạn lao động
TNSH
Tai nạn sinh hoạt
TNGT
Tai nạn giao thông
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
iii
iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..............................................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN.............................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................... v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ................................................................................ vi
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................... 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................ 3
1.1 Cơ sở lý luận ........................................................................................ 3
1.2. Cơ sở thực tiễn. ................................................................................. 15
CHƯƠNG II:CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG SAU PHẪU THUẬT CỦA
NGƯỜI BỆNH CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG CỔ THẤP CÓ TỔN
THƯƠNG THẦN KINH .............................................................................. 20
2.1.Thông tin chung về Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. ............................ 20
2.2. Chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu ............................... 24
CHƯƠNG III: BÀN LUẬN ......................................................................... 36
3.1. Chất lượng cuộc sống của của người bệnh sau phẫu thuật chấn thương
cột sống cổ thấp có tổn thương thần kinh. ................................................ 36
3.2. Một số tồn tại chưa thực hiện được sau khi người bệnh phẫu thuật chấn
thương cột sống. ....................................................................................... 40
KẾT LUẬN.................................................................................................. 41
ĐỀ XUẤT .................................................................................................... 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 43
PHỤ LỤC .................................................................................................... 45
iv
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Phân bố về tuổi của đối tượng nghiên cứu ............................................. 23
Bảng 2.2. Phân bố theo nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu ............................. 24
Bảng 2.3. Phân bố theo trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu ....................... 25
Bảng 2.4. Phân bố theo tình trạng hơn nhân của đối tượng nghiên cứu .................. 26
Bảng 2.5. Điểm số trung bình về sức khoẻ thể chất ................................................ 26
Bảng 2.6. Điểm số trung bình về sức khoẻ tinh thần .............................................. 27
Bảng 2.7. Hệ số tương quan giữa SKTC, SKTT, và CLCS .................................... 29
Bảng 2.8. Chất lượng cuộc sống theo nhóm tuổi .................................................... 29
Bảng 2.9. Chất lượng cuộc sống theo trình độ học vấn .......................................... 30
Bảng 2.10. Chất lượng cuộc sống theo giới tính..................................................... 31
Bảng 2.11. Chất lượng cuộc sống theo nghề nghiệp............................................... 31
Bảng 2.12. Chất lượng cuộc sống theo địa dư ........................................................ 32
Bảng 3.13. Chất lượng cuộc sống theo tình trạng hơn nhân ................................... 33
Bảng 2.14. Chất lượng cuộc sống theo nguyên nhân chấn thương ......................... 33
Bảng 2.15. Chất lượng cuộc sống theo chẩn đoán trước mổ ................................... 34
Bảng 2.16. Chất lượng cuộc sống theo phương pháp mổ ....................................... 34
Bảng 2.17. Chất lượng cuộc sống theo mức độ tổn thương thần kinh..................... 35
Bảng 2.18. Phân loại chất lượng cuộc sống theo mức độ tổn thương thần kinh............ 38
Bảng 2.19. Mơ hình hồi quy tuyến tính xác định các yếu tố liên quan đến sức khoẻ
thể chất, sức khoẻ tinh thần và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân... 40
v
vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Phân bố tỷ lệ giới tính của đối tượng nghiên cứu ............................... 24
Biểu đồ 2.2. Phân bố theo địa dư của đối tượng nghiên cứu ................................... 25
Biểu đồ 2.3. Phân loại điểm sức khoẻ thể chất ....................................................... 27
Biểu đồ 2.4. Phân loại điểm sức khoẻ tinh thần...................................................... 28
Biểu đồ 2.5. Phân loại chất lượng cuộc sống chung ............................................... 29
vi
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương cột sống cổ (CTCSC) là một chấn thương phổ biến, dạng tổn
thương nặng của chấn thương cột sống (CTCS). CTCSC gây ra những thương tổn
nặng nề, ảnh hưởng tới sự bền vững của cột sống cổ, là một trong những nguyên
nhân phổ biến dẫn tới tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề cho người bệnh, gây
nên những gánh nặng về kinh tế và xã hội cho người bệnh, gia đình và xã hội.
Ước tính trên toàn thế giới, tỷ lệ CTCS từ 236 đến 1009 ca/1 triệu dân mỗi
năm, trong đó CTCSC chiếm khoảng 43,9% đến 61,5% [1], [2]. Theo thống kê ở Mỹ,
hàng năm có khoảng 200.000 bệnh nhân bị chấn thương cột sống tủy sống mới, trong
đó phần lớn bị chấn thương cột sống cổ. Châu Âu, hàng năm cũng có khoảng trên
40.000 ca tử vong do chấn thương CSC liên quan đến tai nạn giao thông [3]. Tỷ lệ chấn
thương CSC tại Nga khoảng 49.0% trong chấn thương cột sống nói chung và đều liên
quan đến tai nạn xe máy [4]. Tại Việt Nam, CTCSC chiếm từ 2% đến 5% của bệnh lý
chấn thương đầu mặt cổ. Tỷ lệ tổn thương thần kinh do CTCSC còn cao (60 - 70%)
[5], [6], trong đó tổn thương tủy hồn tồn khơng tiến triển sau điều trị khoảng 50%
[7].
Ngày nay, nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự xuất hiện của
chụp cắt lớp vi tính và máy chụp cộng hưởng từ, việc chẩn đoán CTCSC và điều trị
đã trở nên chính xác hơn. Bên cạnh đó với sự phát triển của ngành gây mê hồi sức
nên việc chỉ định phẫu thuật thường được đặt ra nhằm giải phóng chèn ép, cố định
cột sống vững chắc giúp cho việc chăm sóc và phục hồi chức năng tạo điều kiện cho
tủy hồi phục và tái hòa nhập trở lại cộng đồng cho người bệnh làm giảm thiểu tỷ lệ
tử vong và di chứng. Mặc dù đã có những nghiên cứu về hiệu quả của phẫu thuật
trong điều trị chấn thương cột sống tổn thương tủy, các bằng chứng về hiệu quả của
biện pháp này tới chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh tại Việt Nam chưa
được ghi nhận. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu, báo cáo về chất lượng cuộc
1
2
sống chung của người bệnh bị tổn thương thần kinh nói chung do bệnh lý hoặc do
chấn thương cột sống, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đánh giá riêng dành cho
người bệnh sau phẫu thuật chấn thương cột sống cổ có tổn thương thần kinh. Tại
Việt Nam, chúng tơi chưa tìm thấy một nghiên cứu, báo cáo nào về vấn đề này.
CLCS là một chỉ số đầu ra quan trọng trong đánh giá hiệu quả của các can thiệp và
chương trình y tế. Đo lường sự thay đổi về CLCS của người bệnh là những bằng
chứng cần thiết trong q trình đánh giá hiệu quả can thiệp, và đóng góp đáng kể vào
quy trình quản lý bệnh nhân và phân bổ nguồn lực [8]. Bên cạnh việc được chứng
minh là có liên quan tới các đặc điểm lâm sàng và miễn dịch của người bệnh, CLCS
còn bao gồm các khía cạnh rộng lớn hơn của người bệnh như tâm lý, quan hệ giữa
các cá nhân, xã hội, và môi trường. Đo lường chất lượng cuộc sống có thể phản ánh
tốt hơn sự thay đổi và hiệu quả điều trị ở người bệnh bị CTCSC sau phẫu thuật. Do
đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá chất lượng cuộc sống của người
bệnh sau phẫu thuật chấn thương cột sống cổ thấp có tổn thương thần kinh” với
hai mục tiêu:
1.
Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật chấn thương
cột sống cổ thấp có tổn thương thần kinh, tại khoa Phẫu thuật Cột sống, Bệnh
viện Hữu nghị Việt Đứ, năm 2021
2.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh
sau phẫu thuật chấn thương cột sống cổ thấp có tổn thương thần kinh
2
3
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. Tổng quan về chấn thương cột sống cổ thấp có tổn thương thần kinh
1.1.1.1. Khái niệm
Cột sống là trụ cột của bộ xương người, chịu sức nặng của đầu và trọng lượng
tồn thân, nó là điểm tỳ của tứ chi qua xương chậu và xương bả vai. Cột sống vừa
mềm dẻo vừa vững chắc, bao bọc và bảo vệ tủy sống nằm trong ống sống
Cột sống cổ
Cột sống cổ gồm 7 đốt nối từ lỗ chẩm đến đốt sống ngực 1, được chia làm 2
đoạn do cấu trúc và chức năng khác nhau: 1) Các đốt sống cổ cao: gồm đốt trục
(C1) và đốt đội (C2); 2) Các đốt sống cổ thấp: từ đốt sống cổ 3(C3) đến đốt sống cổ
7(C7). Đặc điểm của các đốt sống cổ thấp có cấu trúc điển hình gồm: thân đốt sống
ở trước dẹt bề ngang, dầy ở phía trước hơn ở phía sau. Mỗi đốt sống đều có mỏm
ngang, mỏm khớp trên và dưới. Cuống sống tách ra từ phía sau của mặt bên thân
đốt sống, khuyết sống trên và dưới đều sâu bằng nhau, mảnh sống hình vng, rộng
và hơi cao. Các mỏm gai ở sau, ngắn, đỉnh tách ra làm 2 củ, mỏm ngang dính vào
thân và cuống sống, mỏm gai của C6 và C7 dài hơn và chẽ đôi (đây là mốc nhận
biết khi phẫu thuật). Mỏm khớp có diện phẳng nằm ngang, đặc trưng nhất để nhận
biết một đốt sống cổ là có lỗ ngang.
Tủy sống
Tủy sống là phần thần kinh trung ương nằm ở trong ống sống. Thời kỳ phôi
thai, tủy sống phát sinh từ một dải dày ở lớp ngoại bì dọc trên lưng. Dải này lõm
xuống thành một rãnh, rồi hai mép của rãnh quặt lại tạo thành một ống (ống tủy
sống). Sau đó ống tủy sống tách khỏi ngoại bì, chui vào sâu, sau các cung đốt sống.
Khi các cung đốt sống quặp và liền lại thì tủy sống nằm trong ống sống.
1.1.1.2. Chấn thương cột sống cổ có tổn thương thần kinh
Tổn thương thần kinh xuất hiện khi cấu trúc cơ, xương, dây chằng của cột
3
4
sống không chịu đựng được lực chấn thương lớn tác động. Khi đó lực chấn thương
truyền trực tiếp vào tủy sống. Mức độ tổn thương thần kinh phụ thuộc sức ép, bầm
dập, thiếu máu của các thành phần tủy sống. Các thành phần này gồm: thân tế bào,
sợi trục và mạch máu. Chấn thương tủy gây ra tam chứng: xuất huyết, phù, thiếu
máu.
Tủy có thể bị chèn ép gián tiếp do lực gập, duỗi, xoay, ép hướng dọc trục
hoặc trực tiếp do thoát vị đĩa đệm hay mảnh xương gãy. Phần lớn nguyên nhân của
chấn thương tủy do gãy trật cột sống nhưng cũng có trường hợp có chấn thương tủy
mà khơng có bất thường trên hình ảnh X-quang, lúc bấy giờ cần thiết phải chụp cắt
lớp vi tính. Thương tổn nguyên phát của tủy gây ra do sự chèn ép của xương, dây
chằng, máu tụ, đĩa đệm... phụ thuộc vào mức độ và thời gian chèn ép. Thời gian
chèn ép càng dài dẫn đến các biểu hiện thần kinh nặng nề hơn thậm chí khơng hồi
phục.
Chấn thương cột sống cổ có tổn thương tủy thể hiện qua ba hội chứng: 1) Hội
chứng sốc tủy; 2) Hội chứng tổn thương tủy khơng hồn tồn và 3) Hội chứng tủy
cắt ngang.
Hội chứng sốc tủy (choáng tủy - spine shock)
Năm 1841 Marshall đưa ra thuật ngữ sốc tủy để mô tả hội chứng mất chức
năng tạm thời. Sau đó Mc Dowwallk, Koley, Goltz cũng đã đưa ra nhiều cách giải
thích khác nhau về cơ chế, thời gian kéo dài của sốc tủy, đa số cho rằng 24- 48giờ.
Gauvrit thấy rằng 90% trường hợp sốc tủy mất đi sau 24h. Sốc tủy phục hồi khi các
cung phản xạ thần kinh hoạt động trở lại. Các tác giả đều mô tả các dấu hiệu lâm
sàng như nhau:
Tụt huyết áp nhưng phục hồi rất nhanh.
Liệt hoàn toàn vận động, cảm giác.
Phản xạ phục hồi đầu tiên là phản xạ hành hang.
Hội chứng tổn thương tủy khơng hồn tồn
Biểu hiện triệu chứng đa dạng, phụ thuộc vào tầng tủy bị thương tổn, mức độ
4
5
lan rộng của tổn thương. Năm 1973, Guttmann phân ra hai loại thương tổn chính.
Thương tổn lan tỏa ảnh hưởng đến các đường dẫn truyền ly tâm và hướng
tâm nhưng khơng làm mất hồn tồn chức năng tủy. Loại này thường gặp
trong cơ chế do tủy bị kéo dãn đột ngột.
Thương tổn cục bộ một phần của tủy gây mất chức năng khơng hồn tồn.
Trên lâm sàng thường gặp chủ yếu ba hội chứng sau:
+ Hội chứng tủy trung tâm: Rối loạn cơ tròn, liệt vận động chi trên nhiều hơn
chi dưới hoặc xu thế tập trung hai chi trên. Sự phục hồi thường diễn ra theo thứ tự
như sau: hai chi dưới, bàng quang, hai chi trên.
+ Hội chứng tủy bên (hội chứng Brown - Sequard): Liệt vận động cùng bên,
giảm hoặc mất cảm giác nông bên đối diện, nhưng cảm giác sâu vẫn còn. Đây là
loại phục hồi tốt nhất về cảm giác, vận động và cơ trịn.
+ Hội chứng tủy trước: Liệt hồn tồn vận động còn cảm giác (cảm giác sâu
và cảm giác bản thể) do thương tổn cột sau tủy.
+ Hội chứng tủy sau: hiếm gặp gồm mất toàn bộ cảm giác sâu, cảm giác bản
thể, các chức năng khác của tủy bình thường.
Hội chứng tủy cắt ngang
Guttmann đã mô tả hội chứng tủy cắt ngang hoàn toàn trong thương tổn tủy
cổ là: Trong giai đoạn sốc tủy, giai đoạn đầu bệnh nhân giảm hay mất cả hai hệ
thống vận động và tự động. Mất phản xạ hành hang.
Giai đoạn sau:
Xuất hiện tăng phản xạ gân xương.
Tụt huyết áp kéo dài.
Trướng bụng do liệt ruột cơ năng.
Rối loạn cơ trịn (đại tiểu tiện khơng tự chủ).
Phản xạ hành hang được phục hồi (báo hiệu kết thúc chống tủy).
Ngồi ra cịn có triệu chứng cương cứng dương vật.Một số chấn thương tủy
5
6
cổ thấp hồn tồn có thể lan rộng của thương tổn lên cao sẽ gây liệt gần như hoàn
toàn các cơ dưới cổ đặc biệt là cơ hô hấp kèm theo liệt ruột cơ năng làm hạn chế
hoạt động của cơ hồnh dẫn tới tình trạng suy thở và tử vong nếu không được can
thiệp đúng lúc.
1.1.1.3. Phân loại lâm sàng thần kinh chấn thương tủy cổ
Có rất nhiều hệ thống phân chia khác nhau được ứng dụng đối với người
bệnh chấn thương tủy:
Frankel và cộng sự lần đầu tiên đưa ra cách xếp loại thương tổn thần kinh
trên bệnh nhân chấn thương tủy vào năm 1969. Theo tác giả, hệ thống được chia
làm 5 mức độ từ A đến E:
Loại A: Gồm các người bệnh liệt hoàn toàn vận động và cảm giác
Loại B: Gồm các người bệnh chỉ còn chỉ còn chức năng cảm giác dưới
thương tổn tủy.
Loại C: Gồm những người bệnh còn cảm giác và vận động dưới thương tổn
tủy, nhưng chức năng vận động kém.
Loại D: Gồm các người bệnh có cảm giác và vận động tốt nhưng khơng bình
thường.
Loại E: Người bệnh hồn tồn bình thường về vận động, cảm giác và cơ
trịn.
Bảng phân loại này được sử dụng rộng rãi từ thập kỷ 70 và cho đến nay vẫn
còn được áp dụng để đánh giá. Ưu điểm của hệ thống chia độ này dễ xử dụng, chỉ
dựa trên chức năng vận động và cảm giác, tuy nhiên nhược điểm của sự chia độ này
là sự không rõ ràng giữa 2 loại C và D do đó đánh giá sự phục hồi chức năng của 2
loại này thường gặp khó khăn.
Năm 1978, Braken đã mô tả thang điểm đánh giá mức độ nặng nhẹ của thương
tổn tủy. Thang điểm này cũng dựa vào các chức năng vận động, cảm giác của một số
cơ và vùng cảm giác được lựa chọn trước nhằn phân biệt tổn thương tủy hồn tồn và
khơng hồn tồn. Theo đó điểm cảm giác được tác giả chia làm 7 điểm, vận động 5
6
7
điểm. Nhược điểm của hệ thống này là không đánh giá được chức năng của cơ trịn,
khó nhớ, khó áp dụng ngay tại gường bệnh.
Hội chấn thương tủy của Mỹ vào năm 1984 đã tiêu chuẩn hóa việc phân loại
bệnh nhân chấn thương tủy dựa trên chỉ số điểm của 10 nhóm cơ (thang điểm từ 0
đến 5), trắc nghiệm của 28 khoanh da và kết hợp với phân loại của Frankel như một
công cụ để đánh giá chức năng. Cách phân loại này khơng chia điểm cảm giác
nhưng có ghi lại vị trí cảm giác bình thường. Hệ thống này liên tiếp được sửa đổi và
bổ sung đến năm 1996, cách cho điểm mới này chia thang điểm vận động ra 5 điểm
(0→ 5 điểm) và cảm giác 2 điểm (0 → 2 điểm). Cách chia điểm này cho thấy độ tin
cậy cao và phần lớn các nghiên cứu đều áp dụng để đánh giá một phương pháp điều
trị mới cho chấn thương tủy. Cách cho điểm này như sau:
Điểm vận động.
• Khơng vận động: 0 điểm.
• Nhích: 1 điểm.
• Vận động khơng trọng lực: 2 điểm.
• Vận động có trọng lực: 3 điểm.
• Vận động chống lại đối kháng: 4 điểm.
• Bình thường: 5 diểm.
Điểm cảm giác:
• Khơng có cảm giác: 0 điểm.
• Cảm giác rối loạn (tăng, giảm, dị cảm): 1 điểm.
• Bình thường: 2 điểm.
7
8
Bảng 1.1. Thang điểm đáng giá cơ lực chi (ASIA 1969)
Điểm
Dấu hiệu
0/5
Không co cơ khi cố gắng vận động.
1/5
Co cơ nhưng không phát sinh động tác.
2/5
Vận động được chi trên mặt phẳng khi khơng có sức cản của trọng lượng.
3/5
Vận động được chi trên mặt phẳng khi có sức cản của trọng lượng.
4/5
Vận động được chi trên mặt phẳng khi có sức cản ngược chiều.
5/5
Vận động bình thường.
Bảng 1.2. Đánh giá thương tổn thần kinh theo Frankel (ASIA, 1972).
Loại
Đặc điểm
A
Liệt hoàn toàn. Mất vận động, cảm giác dưới tổn thương.
B
C
Liệt khơng hồn tồn. Cảm giác cịn, mất vận động dưới vùng tổn
thương.
Liệt khơng hồn tồn. Cảm giác cịn, vận động giảm (cơ lực chi 2/53/5).
D
Liệt khơng hồn tồn. Cảm giác còn, vận động giảm (cơ lực 4//5).
E
Vận động và cảm giác bình thường
1.1.1.4. Khái niệm chất lượng cuộc sống
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa chất lượng cuộc sống (CLCS) là “sự
hiểu biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các
giá trị mà họ thuộc về; và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực
và mối quan tâm của họ” [10]. Thuật ngữ chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ đa
8
9
chiều, do vậy việc phân tích các chỉ số đo lường chất lượng cuộc sống được nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực nghiên cứu với nhiều tiêu chí khác nhau.
Vào năm 1973, tác giả Abrams cho rằng CLCS là mức độ hài lịng hoặc khơng
hài lịng được cảm nhận bởi con người với các khía cạnh khác nhau trong cuộc sống
của họ [11]. Tác giả Andrew vào năm 1974 lại cho rằng CLCS là mức độ niềm vui
và sự hài lòng đặc trưng cho tồn tại của con người [12]. Theo Ferrans và Power vào
năm 1985, định nghĩa CLCS là nhận thức hay cảm giác hạnh phúc của con người
bắt nguồn từ sự hài lịng hoặc khơng hài lịng với các lĩnh vực của cuộc sống quan
trọng đối với họ. Mơ hình này bao gồm 4 lĩnh vực: sức khỏe và chức năng, tâm lý/
tâm linh, kinh tế xã hội và gia đình [13], [14].
CLCS đại diện cho một loạt trải nghiệm của con người bao gồm nhiều lĩnh
vực, chẳng hạn như cộng đồng, giáo dục, cuộc sống gia đình, tình bạn, sức khỏe,
nhà ở, hôn nhân, quốc gia, khu vực, bản thân, mức sống, và làm việc [15], [16].
Mặc dù có nhiều định nghĩa nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống
nhất về chất lượng cuộc sống [17].
1.1.1.5. Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ (Health related quality of
life – HRQOL)
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ phản ánh sự ảnh hưởng của tình
trạng bệnh tật và các liệu pháp điều trị lên bệnh nhân, do họ cảm nhận. Từ khoảng
những năm 1980, có sự xuất hiện nhiều các nghiên cứu về sức khoẻ đề cập đến khái
nhiệm chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ. Trong các nghiên cứu về sức
khoẻ, chất lượng cuộc sống có ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ (cả về thể chất,
tinh thần và các chức năng xã hội khác của con người). Mục đích của sử dụng và đo
lường chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ nhằm đánh giá về lợi ích cũng
như nguy cơ của một can thiệp y tế, hoặc nhằm đánh giá một cách toàn diện, cụ thể
hơn về sức khoẻ của một cá nhân hoặc một quần thể nhất định [17].
9
10
1.1.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống liên quan đến nhiều yếu tố khác trong đời sống xã hội
của người bệnh. Trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực y tế, tình trạng sức khỏe bao
gồm cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần được xem là khía cạnh quan trọng
nhất của chất lượng cuộc sống còn gọi là CLCS liên quan đến sức khỏe. CLCS liên
quan đến sức khỏe liên quan tới việc chăm sóc y tế, giúp đánh giá sự khác biệt giữa
những gì xảy ra liên quan tới CLCS và thực tế điều trị [18].
Thông thường, chất lượng cuộc sống người trưởng thành được nghiên cứu
đánh giá ở các khía cạnh về thể chất (như sự thoải mái trong đi lại, thực hiện các
hoạt động hàng ngày, không chịu các đau đớn thể xác) cũng như khía cạnh về tinh
thần (không phải chịu những lo lắng, suy nghĩ về tinh thần). Theo đó, các yếu tố
liên quan đến chất lượng cuộc sống bao gồm những nhóm yếu tố liên quan như:
-
Nhóm yếu tố mơi trường văn hóa và xã hội.
-
Nhóm yếu tố kinh tế.
-
Nhóm yếu tố cá nhân đối tượng.
-
Nhóm yếu tố về gia đình.
Nhóm yếu tố về mơi trường, văn hố, xã hội
Yếu tố mơi trường được xem là có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc
sống liên quan đến sức khoẻ của người dân. Theo nghiên cứu của Zimmermann tại
Brazil năm 2017 cho thấy những người sống ở các khu vực ngoại thành, những
người thuộc tầng lớp kinh tế thấp và những người khơng có việc làm chính thức có
liên quan đến chất lượng cuộc sống thấp [19]. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng
trình độ học vấn có liên quan đến chất lượng cuộc sống [20], [21].
Nhóm yếu tố kinh tế
Tình trạng kinh tế tác động không nhỏ đến chất lượng cuộc sống liên quan đến sức
khoẻ của người bệnh. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bệnh nhân có mức thu nhập
10
11
cao hơn, hay mức sống cao hơn thì có tác động tích cực đến chất lượng cuộc sống
[19], [21]. Trong bối cảnh hệ thống y tế và phương thức chi trả, yếu tố kinh tế cũng
có thể là việc sở hữu bảo hiểm y tế. Với các bệnh nhân được bảo hiểm thanh toán,
chất lượng cuộc sống thường báo cáo kết quả tốt hơn so với nhóm khơng có bảo
hiểm y tế [20].
Nhóm yếu tố cá nhân đối tượng
Các đặc điểm cá nhân đối tượng cũng là yếu tố có tác động đến chất lượng
cuộc sống. Nữ giới, trong một số nghiên cứu cho thấy có chất lượng cuộc sống thấp
hơn so với nam giới [20], [21]. Chỉ số khối cơ thể (BMI) cũng có liên quan đến chất
lượng cuộc sống theo nhóm tác giả nghiên cứu tại Iran. Kết quả nghiên cứu cho
thấy nhóm người dân có BMI <26 thì thường có tỷ lệ chất lượng cuộc sống cao hơn
các nhóm cịn lại [20]. Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống phụ thuộc trực tiếp vào
tình trạng sức khoẻ của đối tượng được đo lường. Điều đó cũng có nghĩa là các
nhóm đối tượng có mắc các bệnh khác nhau thì có sự khác nhau về chất lượng cuộc
sống. Nghiên cứu đo lường chất lượng cuộc sống của người dân nói chung tại cộng
đồng tại Brazil cho thấy người được phỏng vấn có mắc các bệnh lý như trầm cảm,
tiểu đường, tăng huyết áp có liên quan đến chất lượng cuộc sống thấp [19]. Nghiên
cứu gần đây tại Trung Quốc cho thấy những người mắc đột quỵ có liên quan đến
chất lượng cuộc sống thấp hơn 2,17 lần so với những người bình thường. Tương tự,
với mỗi mức độ tăng lên của bệnh trầm cảm, bệnh nhân sẽ có nguy cơ giảm đi 5,62
lần trong tổng điểm về chất lượng cuộc sống [21]. Đó là lý do vì sao hiện nay có
nhiều bộ cơng cụ đặc thù nhằm đo lường chất lượng cuộc sống đối với bệnh nhân
mắc từng bệnh lý cụ thể.
Nhóm yếu tố về gia đình
Theo nghiên cứu tại Trung Quốc năm 2017 cho thấy những người sống độc
thân hoặc gố có chất lượng cuộc sống thấp hơn so với những người kết hôn hoặc
11
12
đang sống cùng bạn tình [21]. Đối với người bệnh, mối quan hệ, sự hỗ trợ của gia
đình, bạn bè đối với người bệnh trong quá trình điều trị là cực kỳ quan trọng. Gia
đình, bạn bè, và những người xung quanh là những yếu tố tác động tích cực đến
người bệnh nếu cư xử đúng mực, tích cực giải quyết những vướng mắc tồn tại, sẽ
cải thiện được chất lượng cuộc sống [22].
1.1.1.7. Đo lường chất lượng cuộc sống
Có hai loại công cụ đo lường CLCS: công cụ đo lường ứng dụng trong các
tình trạng sức khỏe cụ thể (specific) và cơng cụ đo lường chung cho nhiều tình
huống (generic). Có những cơng cụ được phát triển nhằm đo lường CLCS cho
người bệnh mắc một tình trạng sức khỏe cụ thể như: Quality of Life Alzheimer
Disease (QoL-AD) cho bệnh nhân Alzheimer, hay Asthma Quality of Life
Questionnaire (AQLQ) cho những bệnh nhân bị hen suyễn. Các công cụ này được
thiết kế để đo lường những khía cạnh được cho là có tầm quan trọng trong cuộc
sống đối với những người bị mắc một bệnh cụ thể.
Loại công cụ thứ hai là các cơng cụ đo lường chung cho nhiều tình huống,
được chia ra làm hai loại: các công cụ cung cấp một chỉ số CLCS khái quát và các
công cụ cung cấp nhiều chỉ số phản ánh các khía cạnhcủa CLCS. Các cơng cụ đưa
ra chỉ số tổng hợp có thể là EQ-5D-3L hoặc SF-6D,… đo lường thỏa dụng sức khỏe
(health utility), là cấu phần quan trọng trong việc tính toán Số năm sống điều chỉnh
theo chất lượng cuộc sống (Quality-adjusted life years - QALYs), là đầu ra đối với
các đánh giá chi phí – hiệu quả và chi phí – thỏa dụng (cost-utility). Trong khi đó,
các cơng cụ khác như SF-36, WHOQOL,… lại cung cấp các đo lường cho từng
khía cạnh cụ thể như sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, xã hội, môi trường,….;
không trực tiếp sử dụng để tính tốn QALYs và dùng trực tiếp trong đánh giá kinh
tế y tế. Việc sử dụng công cụ nào phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu cũng như
12
13
phạm vi mà người nghiên cứu và đánh giá muốn đo lường đối với một bệnh, một
hiện tượng hay một can thiệp cụ thể.
Phương pháp thang trực quan (Visual analogue scale - VAS)
Để giúp đối tượng nghiên cứu có thể xác định được tình trạng sức khoẻ, một
thang điểm với các vạch mức sẽ được vẽ ra, tương tự hình ảnh của nhiệt kế. Trên
thang điểm đó, mức 0 tương ứng với tình trạng sức khoẻ xấu nhất có thể hình dung
được trong khi mức 100 tương ứng với tình trạng sức khoẻ hoàn hảo nhất. Người
được phỏng vấn sẽ chỉ ra trên thang điểm này tình trạng sức khoẻ tương ứng với
mức độ mà họ cảm nhận [23].
Hình 1.1. Thang trực quan (VAS)
Kể từ khi được giới thiệu cách đây gần 30 năm, VAS đã được sử dụng rộng
rãi trong đánh giá thái độ, cảm nhận, tâm lý khi chúng không thể đo lường trực tiếp
[24]. Thang điểm VAS được sử dụng rộng rãi do tính chất đơn giản, dễ đo lường và
có độ nhạy với cảm nhận của đối tượng nghiên cứu. Thời gian để hoàn thành một
đánh giá dựa vào VAS là rất ngắn, chỉ vài phút. Phương pháp này khơng địi hỏi
phải đào tạo cho người phỏng vấn và người được phỏng vấn, chỉ cần họ có khả
năng sử dụng thước để đo khoảng cách và xác định điểm số.
Tuy nhiên, VAS cũng được cho là có tính chủ quan cao, dựa trên cảm nhận
của người đánh giá. Phương pháp này ít có giá trị so sánh giữa một nhóm tại một
thời điểm [25].
Bộ cơng cụ EQ-5D (Euroqol Group, 1990)
EQ-5D là một cơng cụ chuẩn hố được Nhóm EuroQol phát triển như một
thước đo về chất lượng cuộc sống có liên quan đến sức khoẻ, có thể được sử dụng
13
14
trong nhiều điều kiện và điều kiện sức khoẻ khác nhau. EQ-5D bao gồm một hệ
thống mô tả và EQ VAS. Hệ thống mơ tả bao gồm năm khía cạnh: đi lại, tự chăm
sóc, hoạt động bình thường, đau/khó chịu và lo lắng/trầm cảm. EQ VAS ghi lại tình
trạng sức khoẻ tự báo cáo của bệnh nhân theo thang điểm 100 theo chiều dọc. Điểm
số của năm chiều này có thể được trình bày dưới dạng tình trạng sức khoẻ hoặc có
thể được chuyển đổi thành chỉ số thoả dụng (utility) [26].
Hiện nay, EQ-5D có 3 phiên bản: phiên bản đánh giá 5 mức độ trầm trọng
của mỗi khía cạnh (EQ-5D-5L), phiên bản đánh giá 3 mức độ trầm trọng của mỗi
khía cạnh (EQ-5D-3L) và phiên bản dành cho trẻ em, thanh thiếu niên (EQ-5D-Y).
Trong đó, EQ-5D-5L đánh giá CLCS thông qua một chỉ số tổng hợp và là cấu phần
quan trọng trong các phân tích chi phí – hiệu quả. Ở Việt Nam, ai sử dụng EQ- 5D5L cũng đã được chuẩn hóa và ứng dụng để đo lường các nghiên cứu trên bệnh
nhân HIV/ AIDS [27].
Cho đến nay, EQ-5D đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau và được sử
dụng rộng rãi do tính đơn giản, dễ đo lường của bộ công cụ này. Đồng thời, bộ cơng
cụ có thể cung cấp thơng tin về giá trị thoả dụng, do đó được ứng dụng trong nhiều
nghiên cứu về chi phía thoả dụng (Cost – Utility Analysis).
Bộ cơng cụ SF-36 (36 items Short Form Survey)
SF-36 (36 items Short Form Survey) là một thang đo đa mục để đánh giá 8
khái niệm về sức khoẻ: 1) những hạn chế về hoạt động thể lực vì các vấn đề về sức
khoẻ; 2) những hạn chế trong các hoạt động xã hội do các vấn đề về thể chất hoặc
tinh thần; 3) những hạn chế trong các hoạt động bình thường vì các vấn đề sức khoẻ
thể chất; 4) sự đau đớn; 5) sức khoẻ tâm thần tổng quát (tâm lý căng thẳng); 6) những
hạn chế trong các hoạt động bình thường vì những vấn đề về tình cảm; 7) sức sống
(năng lượng và mệt mỏi); và 8) nhận thức về sức khoẻ nói chung. Bộ câu hỏi được
14
15
xây dựng để sử dụng cho người bệnh tự điền với những người bệnh từ 14 tuổi trở lên,
dưới dự hướng dẫn của điều tra viên được đào tạo hoặc cũng có thể thực hiện khảo
sát qua điện thoại. SF-36 được thiết kế để sử dụng trong thực hành và nghiên cứu lâm
sàng, đánh giá chính sách y tế, và các cuộc điều tra dân số nói chung [28].
Tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ trong đo lường chất lượng cuộc sống
của các quần thể khác nhau đã được đánh giá và cho thấy kết quả tốt [29], [30].
Mặc dù là bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống chung, nhưng nhiều nghiên
cứu đã sử dụng SF-36 để đo lường chất lượng cuộc sống trên các bệnh nhân với
một số bệnh nhất định, chủ yếu là các bệnh mạn tính như thận mạn tính, bệnh lý tim
mạch [31], [32].
Bên cạnh bản gốc của SF-36, một số phiên bản rút gọn cũng đã được phát
triển, chủ yếu thông qua việc giảm bớt các câu hỏi như SF-12, SF-21, SF-34 dành
cho bệnh nhân HIV.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
1.2.1. Tình trạng chấn thương cột sống cổ trên thế giới và Việt Nam.
CTCS nói chung và CTCSC nói riêng là những chấn thương phổ biến trên thế
giới. Ước tính trên toàn thế giới, tỷ lệ CTCS từ 236 đến 1009 ca/1 triệu dân mỗi
năm, trong đó CTCSC chiếm khoảng 43,9% đến 61,5% [1], [2].
Theo thống kê ở Mỹ, hàng năm có khoảng 200.000 người bệnh bị chấn thương
cột sống tủy sống mới, trong đó phần lớn bị chấn thương cột sống cổ. Châu Âu,
hàng năm cũng có khoảng trên 40.000 ca tử vong do chấn thương CSC liên quan
đến tai nạn giao thông [3].
Tỷ lệ CTCSC tại Nga khoảng 49.0% trong chấn thương cột sống nói chung và
đều liên quan đến tai nạn xe máy [4]. Tại Nauy, báo cáo của Fredo cho thấy, tỷ lệ bị
CTCSC mới trong cộng đồng sau một năm theo dõi là 11,8/100,000 dân, với độ tuổi
15
16
trung bình là 56 tuổi và có tới 68% là nam giới. Nguyên nhân chủ yếu là do tai nạn
xe máy[9]
Tại Việt Nam, CTCSC chiếm từ 2% đến 5% của bệnh lý chấn thương đầu mặt
cổ. Tỷ lệ tổn thương thần kinh do CTCSC còn cao (60 - 70%) [5], [6], trong đó tổn
thương tủy hồn tồn khơng tiến triển sau điều trị khoảng 50% [7].
1.2.2. Điều trị chấn thương cột sống cổ thấp
1.2.2.1. Sơ cứu ban đầu
Bệnh nhân không liệt:
- Bất động bằng nẹp cổ (Colier)
- Giảm đau
Bệnh nhân có liệt
- Bất động bằng nẹp cổ
- Hồi sức: thở oxy, hơ hấp hỗ trợ nếu có liệt hô hấp
- Đảm bảo huyết động ổn định: truyền dịch, dùng vận mạch
- Đặt sonde tiểu, sonde dạ dày
- Dùng corticoid liều cao nếu bệnh nhân đến trước 12 giờ.
1.2.2.2. Điều trị phẫu thuật
Nhìn chung, phẫu thuật các thương tổn cột sống cổ thấp nhằm hạn chế các
hậu quả các thương tổn tiên phát và phòng các thương tổn thứ phát của tủy, làm
vững cột sống tạo điều kiện cho chăm sóc và phục hồi chức năng. Chỉ định điều trị
phẫu thuật đối với chấn thương cột sống cổ của các tác giả hầu hết là:
- Mất vững
- Chèn ép tủy
1.2.3. Ứng dụng của đo lường CLCS trong lâm sàng và hoạch định chính sách
Đo lường CLCS được ứng dụng trong quá trình đưa ra các quyết định lâm
sàng và q trình hoạch định chính sách.
16
17
Trong quá trình thực hành lâm sàng, các bác sĩ thường căn cứ vào các đặc
điểm cận lâm sàng và lâm sàng để đưa ra quyết định. Đơn giản nhất là đo nhịp tim,
huyết áp, xét nghiệm máu và nước tiểu,… rồi đến những phân tích cận lâm sàng cấp
cao hơn như điện tim, điện não, phân tích gene… Tuy nhiên các nhà thực hành lâm
sàng gần như chưa gắn người bệnh với bối cảnh xã hội của họ, cũng như các vấn đề
có thể ảnh hưởng đến tâm lý và thể chất của người bệnh. Để đánh giá được các khía
cạnh này, cần thiết phải đo lường CLCS của người bệnh, khi đó các nhà thực hành
lâm sàng mới có thể điều trị theo hướng vì người bệnh chứ khơng phải chỉ điều trị
hết căn bệnh.
Đo lường CLCS có thể giúp xác định vấn đề ưu tiên, sàng lọc các nguy cơ,
xác định sự ưa thích/lựa chọn, theo dõi các thay đổi trong việc đáp ứng với điều trị.
Ngoài ra, CLCS còn giúp đào tạo các nhân viên mới và trong công tác quản trị bệnh
viện.
Đối với các nhà hoạch định chính sách, các thơng tin liên quan các đo lường
CLCS là rất cần thiết. Hiệu quả của các can thiệp thông qua các chỉ số CLCS, cùng
với chi phí của các can thiệp này là 2 cấu phần đầu vào quan trọng nhằm đánh giá
được tính chi phí – hiệu quả của can thiệp. Từ đó các nhà hoạch định chính sách có
thể cân nhắc giữa nhiều can thiệp khác nhau để phân bổ nguồn lực hợp lý.
1.2.4. Chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương cột sống cổ thấp có
tổn thương thần kinh.
Hiện nay, việc đo lường CLCS của những người bệnh chấn thương cột sống
cổ trên thế giới và Việt Nam vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu trên thế giới phần lớn
tập trung vào đo lường CLCS của những người bị chấn thương cột sống (spinal
cord injury) nói chung, chưa có sự tách bạch rõ ràng giữa chấn thương cột sống ở
các vùng khác nhau. Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu cho thấy, những người bị
17