Tải bản đầy đủ (.pdf) (23 trang)

Tài liệu Tây thiên thập bát tổ pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (314.59 KB, 23 trang )

Tây thiên thập bát tổ
Trong nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, từ những tượng cổ điển ở thời Lý, đến
loạt tượng Phật - tượng Tổ - tượng Hậu thế kỷ XVI -XVII với nhiều tác phẩm đặc
sắc trong các chùa là sự khẳng định tài năng của nghệ sĩ Việt Nam. Thế kỷ XVIII
ít có điều kiện cho điêu khắc phát triển, song là sự tích tụ âm ỉ của những kỳ tài
Nguyễn Công Huệ, Tô Phú Vượng, Hoàng Đình Ưc và Đào Thúc Kiên. . . để đến
thời Tây Sơn đã chớp cơ hội tốt nhất, sáng tạo ra những tuyệt tác "Tượng chùa
Tây Phương" mà đỉnh điểm là bộ tượng "Tây thiên thập bát tổ" (西天十八祖) mà
chúng ta quen gọi là 18 vị La Hán chùa Tây Phương.

Năm 1632, vào đời vua Lê Thần Tông, một ngôi chùa được xây dựng thượng điện
3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657-1682, Tây
Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa mới và tam quan. Đến năm
1794 dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây
Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay.
Hệ thống tượng "Tây thiên thập bát tổ" (Các vị Tổ kế đăng) ở chùa Tây phương
trước 1943 và ngày nay bày có khác nhau, song cơ bản được tập trung ở toà chùa
trong của khu Tam Bảo, vì thế toà chùa này mang tính Hậu đường hơn là chùa
Thượng.
Không rõ trước kia tượng các vị Tổ được bày theo hệ thống nào, hiện nay không
bày theo trật tự kế đăng nhưng cũng không quá lộn xộn. Trừ Tổ thứ 1 Ca Diếp
Tôn giả và Tổ thứ 2 A Nan Đà tôn giả bày ở Phật điện chính trong bộ tượng "Nhất
Phật Nhị tôn giả", các Tổ khác được bày ở gian bên của toà chùa trong, do tượng
có pho đứng pho ngồi đã gây được nhịp điệu vui mắt, có vươn lên, có dàn trải với
quãng cách khác nhau.
Hệ thống tượng Tổ kế đăng ở chùa Tây Phương có 18 pho là 18 cá thể, mỗi người
một dạng vẻ, một tư thế, ai nấy có cuộc sống riêng biệt rất sắc nét, tất cả đều sống
động. Đối chiếu những tượng này với hình vẽ trong thư tịch cổ "Thiền uyển kế
đăng lục" soạn từ thời Lê Trung Hưng thì hầu hết có bố cục giống nhau, chỉ một ít
tượng khác hẳn bố cục song vẫn đồng nhất về cái chung và nhất là ở những chi tiết
đặc thù. Vì thế qua nhận diện có thể khôi phục chính xác tên và xây dựng lai lịch


cho từng nhân vật. Bám theo hình mẫu trong thư tịch cổ, nhấn mạnh tính cách cá
nhân, các nhà điêu khắc xưa đã sáng tạo được những tác phẩm điêu khắc mang
đậm chất chân dung, chẳng những nắm bắt cấu tạo cơ thể chính xác, mà còn đi sâu
vào cuộc sống nội tâm của nhân vật, đảm bảo được cả hai mặt của loại hình tác
phẩm chân dung là giống và sống, cái giống ở đây là chất người của nhân vật đã
tạo thành mẫu hình ổn định trong ý thức người xem. Các vị Tổ đều là người Ấn
Độ, song ở chùa Tây Phương tượng các vị đã được các nghệ nhân Việt Nam sáng
tạo mang phong cách riêng của nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Chúng ta gặp ở
đây sự xum họp của những lớp người Việt đang sinh sống trên mọi miền quê đất
nước. Nó đạt tính dân tộc ở thời điểm ra đời, và giữ mãi tính dân tộc ấy để đóng
góp một diện mạo Việt Nam vào kho tàng nghệ thuật tạo hình thế giới.

Bộ tượng "Tây thiên thập bát tổ":

Tổ thứ 1: Ma-ha-ca-diếp (摩訶迦葉 mahākāśyapa)


Ở chùa Tây Phương, tượng Ca Diếp hiện đứng ở bên trái tượng Tuyết Sơn, là một
người tuổi cao, ăn mặc nghiêm chỉnh, ánh mắt tinh tường, khoát tay ở thế chém .
Đây là một pho đậm chất chân dung, đặc tả cả dung mạo và tính cách.

Gọi tắt là Ca Diếp nghĩa là uống ánh hào quang nên còn gọi là Ẩm Quang. Trong
một kiếp xa xưa, Ca Diếp đã giúp cô gái tán cục vàng để thếp lên chỗ tượng Phật
bị bong, vì thế liền 91 kiếp thân 2 người đều có màu vàng ròng. Trước khi khuất
gia, ông làm thợ kim hoàn, rất sành tuổi vàng ròng. Là con một gia đình Bà La
Môn, song ông quyết xả bỏ dòng dõi để tu theo Phật trở thành người nêu cao đạo
lớn. Khi Đức Phật Thích Ca ở núi Linh Thúy, một hôm giơ bông hoa cho mọi
xem. Hàng trăm vạn người không hiểu ý, chỉ một mình Ca Diếp hiểu ý, rạng rỡ
mỉm cười. Đức Phật bèn nói: "Ta có chính pháp nhãn tạng, nay trao cho ông Diệu
pháp Niết bàn", phong ngài làm Tổ sư đầu tay cai quản Giáo hội Tăng già. Sau khi

Đức Phật nhập diệt, ngài gõ chuông tập hợp chúng tăng kết tập ba tạng kinh điển
tiểu thừa. Khi A Nan chứng quả A La Hán, ngài truyền cho y bát .

Tổ thứ 2: A-nan-đà (阿難陀 ānanda)


Theo quy định của bài trí Phật điện, A Nan phải được bày sóng đôi với Ca Diếp
trong bộ tượng "Nhất Phật nhị tôn giả", đáng ra ở bên phải Tuyết Sơn thì trong
một lần bày lại đã tiến lên hàng trước đổi chỗ cho Đại Diệu Tường. Do tượng Ca
Diếp đứng nên với tính sóng đôi A Nan cũng được tạc ở thế đứng với hình dáng
chung nuột nà, trẻ trung, đang kết tập kinh tạng (ôm sách), ánh mắt và khóe miệng
cùng cười vui vẻ. Nụ cười hể hả biểu hiện bản chất của nhân vật đã trở thành tên
gọi. Tượng được tạo dáng đứng thẳng chững chạc, những nếp áo chảy sóng càng
làm tượng vươn lên trong khối chung óng nuột, tỷ lệ các phần cân đối, cả hình
dáng và nội tâm đều sáng láng.

A Nan, nghĩa là vui mừng, là Hoan Hỉ, Khánh Hỷ. Ngài là em thúc bá của đức
Phật sinh vào đêm phật thành đạo, 25 tuổi xuất gia và theo hầu bên đức Phật suốt
25 năm liền, được thụ trì tất cả Phật pháp, là người đa văn (hiểu biết ) số một.
Ngài có hâù bên Phật lúc cuối cùng, được Phật truyền cho những giáo điều sau rốt
và cách giữ gìn đạo lý.
Sau khi đức Phật nhập diệt, Tổ thứ 1 Ca Diếp tổ chức kết tập kinh tạng, ANan
phiền não chưa hết nên chưa chứng được quả La Hán. Tổ Ca Diếp bên dắt ANan
ra ngoài Hội nghị để ngồi thiền. Đến cuối đêm mệt mỏi A Nan định nằm nghỉ,
nhưng đầu chưa chạm gối thì bỗng nhiên giác ngộ thành Đại A La Hán. Ngay khi
ấy, ngài gõ cửa Hội nghị xin vào tham gia, Bồ Tát tạng tập hợp ở một nơi, Thanh
Văn tạng tập hợp ở một nơi, Giới Luật tạng cũng tập hợp ở một nơi ‘’. Lần đầu
tiên kinh văn xuất hiện do A Nan soạn.
Sau khi Ca Diếp nhập tịch, A Nan được truyền làm Tổ thứ 2. Khi A Nan mệnh yểu
nhược, ngài vắt chân ngồi yên trên dòng sông Hằng cứ nhè giữa dòng mà đi vào

cõi Niết bàn.

Tổ thứ 3: Thương-na-hòa-tu (商那和修 śānavāsin)

Thương Na Hòa Tu còn gọi là Thương Nặc Ca Phoọc Sa, xuất phát từ loại cỏ
thiêng và một loại áo lạ gọi là Thương Na hay Thương Nặc Ca. Khi nào có bậc
thánh nhân ra đời thì loại cỏ này ứng nghiệm từ đất sạch mọc lên báo trước. Khi
còn ở kiếp trước, ngài đã lấy loại cỏ thiêng này tết thành áo. Ngài ở trong bụng mẹ
những 6 năm mới sinh hạ, sinh ra đã có áo mặc sẵn theo thân, thân mình cao lớn
dần thì áo mặc cũng rộng lớn theo cho phù hợp. Khi ngài xuất gia thì áo đó trở
thành pháp phục, khi ngài thụ cụ túc giới thì áo đó biến thành áo cà sa 9 mảnh, khi
sắp tịch ngài nguyện để lại áo cho đến khi đạo pháp của đức giới Thích Ca huyền
tận thì áo mới bị mục nát. Do đó tên cỏ và tên áo trở thành tên người.
Ngày trước khi Thích Ca đi hoằng dương đạo pháp có đến xứ sở của ngài, thấy dải
cây xanh um, mới nói với A Nan rằng: ". . . Sau khi ta tịch diệt 100 năm sẽ có một
vị tăng nhân tên là Thương Na Hoà Tu truyền bá giáo pháp của ta ở đây". Nay quả
đúng như thế.
Thương Na Hoà Tu sau khi chứng ngộ quả pháp, có lần đi giáo hoá chúng sinh đã
tìm được Ưu Ba Cúc Đa, cho xuống tóc làm thị giả. Một lần ngài hỏi Ưu Ba Cúc
Đa về tuổi đời và tâm tính, được đáp: "Thân con 17 tuổi nhưng tính tình chăớng
phải 17 đâu". Đây là vấn đề hiện tượng và bản chất thuộc triết học, nói chung thì
phù hợp nhưng không phải lúc nào cũng phù hợp. Sau khi dặn Ưu Ba Cúc Đa chớ
sao nhãng làm đứt đoạn đạo pháp, ngài vào núi ở ẩn nhưng vẫn thiền định theo dõi
và nhắc nhở. Khi các tăng chúng chứng được quả A La Hán, Thương Na Hoà Tu
bèn hiện 18 ban biến hoá đi vào ánh lửa Tam muội để tự thiêu, xá lị nhập tháp.

Trong chùa Tây Phương, tượng Thương Na Hoà Tu bày ở gian bên phải toà chùa
trong là một ông già luôn lo toan, ngồi chân thõng chân co vắt ngang, một tay để
trên đùi còn tay kia thu trong bọc, áo mặc nhiều nếp lượn để hở bộ ngực gầy giơ
xương. . . đôi mắt xụp, miệng mím, ít nói nhưng nghĩ nhiều. . . đã tạo nên một ông

già khắc khổ, sống bằng nội tâm.

Tổ thứ 4: Ưu-bà-cúc-đa 優婆掬多 upagupta

Ưu Ba Cúc Đa nghĩa là Cận Tàng, ra đời khi đức Phật nhập diệt được 100 năm.
Ngài thân tuy không đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Phật, nhưng ngài tinh tấn
mà làm Phật sự. Từ năm 12 tuổi ngài đã bộc lộ rõ sự thông minh. Hàng ngày mỗi
khi nghĩ việc xấu thì bỏ một viên đá đen vào bao, còn nghĩ việc tốt thì bỏ vào viên
đá trắng. Lúc đầu đá đen nhiều, đá trắng ít, rồi dần đá đen và đá trắng bằng nhau,
về sau không có đá đen chỉ toàn đá trắng, bấy giờ ngài đã vững vàng. Năm 17 tuổi
ngài xuất gia, năm 20 tuổi đã chứng được quả. Ngài hay vân du để xiển dương
Phật pháp, độ được rất nhiều người. Điều đó khiến ma quỉ lo sợ và tìm mọi cách
quấy phá. Nhờ pháp thuật cao, ngài hàng phục được cả ma. Khi thuyết pháp, cứu
độ được cho một người, ngài lại cất một thẻ tre vào nhà đá. Về sau có Hương Văn
xin xuất gia. Qua trao đổi, biết hương Văn đã ngộ được đạo, ngài làm lễ xuống tóc
cho và trao cho giới thanh văn, lại bảo: "Phụ thân người nằm mộng thấy mặt trời
chói lọi sắc vàng, liền đó sinh ra người, vậy nên đặt pháp danh là Đề Đa
Ca".Truyền đạo xong, ngài ngồi yên trên pháp toà, tự nhiên hoá, Xá lị được xây
tháp để thờ.

Tượng Ngài ở chùa tây Phương đặt ở góc sau bên phải toà chùa trong thể hiện
ngài là một người độ lượng, ham học hỏi, ham giúp đời. Ngồi nhấp nhổm trên gót
chân trái quỳ gập lại, còn chân phải gấp chống làm điểm tựa cho bàn tay cầm một
vật nhẹ (bút hay thanh tre? - đã bị mất), tay bên kia cầm thẻ tre, người dướn lên,
đầu nhô cao, mình mặc 2 lớp áo dài xoà trùm xuống đất. Tượng có đầu to tròn,
trán cao, hói quá đỉnh biểu hiện sự thông minh; lông mày to rộng cùng với bộ râu
quai nón và hàng ria mép là những vệt đen đậm làm nổi đôi mắt tròn sáng mở to
nhìn xa rất chăm chú, phối hợp với cái miệng chúm mở, rõ ràng là sự thuyết giảng
nhũng giáo lý uyên thâm, cứ như thôi miên quán xuyến cả đám đông người nghe.
Đôi tai dài, gò má đầy và cánh mũi nở càng ăn ý với những mảng khối căng tròn

trên vai và đầu gối, tất cả đều biểu đạt sự sung mãn mà ngay khi xuất gia tâm tính
đã vượt xa 17 tuổi đời. Bộ ngực chỉ lộ một mảng nhỏ hơi hằn nổi xương sườn,
cùng với các mảng khối da thịt khác sáng láng là sự tráng kiện của tuổi trung
niên. Pho tượng đơn chiếc nhưng người chiêm ngắm lại cứ mường tượng có đám
đông chúng sinh phía trước cùng hướng về nơi Tổ ngồi. Đây là một pho tượng rất
thành công trong sự cân đối và sống động.

Tổ thứ 5: Đề Ca Đa 提多迦 dhītika

Tên tục là Hương Văn (hay Hương Trượng), khi xuất gia được sư phụ đặt pháp
hiệu Đề Đa Ca nghĩa là thông chân lượng, biểu hết thảy vì khi được hỏi rằng:
"Thân người xuất gia hay tâm người xuất gia?" đã trả lời: "Tôi xuất gia chẳng vì
thân cũng chẳng vì tâm. Không sinh không diệt là cái chân thường của Đại Đạo,
chư Phật cũng là thường đạo. Tâm không hình tướng, thể cũng vậy?
Khi ngài mới sinh ra, ông bố nằm mơ thấy 1 mặt trời chói lọi sắc vàng từ trong
nhà bay ra chiếu khắp trời đất, phía trước có toà núi lớn, khắp núi là những thứ
chân bảo hoa mĩ, đỉnh núi có khe nước trong vọt ra phân thành 4 nhánh chảy réo
rắt. Khi biết chuyện, Ưu Ba Cúc Đa giải thích: Núi báu kia là thân thể ngươi, suối
nước là chỉ pháp Phật vô tận, mặt trời là sự nhập đạo của ngươi để rồi rọi chiếu trí
tuệ đến mọi người.
Đề Đa Ca sau khi nhận y bát của Ưu Ba Cúc Đa để làm Tổ thứ 5 đã phụng trì
không biếng trễ. Một lần đến miền trung Âấn Độ, Di Giá Ca đem 8 ngàn Đại tiên
đến nghênh đón. Xa xưa 2 người là đồng học, rồi một tu đạo Tiên một tu thiền
định, đã qua 6 kiếp nay lại gặp nhau. Đề Đa Ca thọ giới cho Di Giá Ca, lại vận
thần thông để tất cả các vị Tiên đều xin xuất gia. Sau đấy Đề Đa Ca đem thanh
tịnh pháp nhãn truyền lại cho Di Giá Ca làm Tổ thứ 6

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 5 Đề Đa Ca được bày ở bên trái Tổ thứ 4, ở thế
ngồi , hai tay đưa trước ngực. Toàn bức tượng tạo thành một khối chóp đóng kín,
đường viền rõ ràng, mảng khối óng ả, các nếp áo chảy song hành dễ dàng, tất cả

như gợi lại điềm lành khi sinh, nhưng khuôn mặt đăm chiêu như có sự vướng mắc
chờ đợi người xứng đáng để trao truyền y bát, do đó gợi khoảng không mênh
mông tuyệt đối.

Tổ thứ 6: Di-Giá-Ca (彌遮迦 miśaka )

Di Giá Ca sau khi trở thành vị Tổ thứ 6 đã đi giáo hoá nhiều nơi. Một hôm thấy
trên thành có mây lãnh sắc vàng bèn bước vào, đến chợ gặp người cầm chén rượu
chặn hỏi. Sau những câu thăm dò, Tổ bảo người kia nói rõ họ tên sẽ cho biết
nguyên cớ. Được biết đó là Bà Tu Mật họ Phả La Đọa, Di Giá Ca liền bảo: "Thầy
ta là Đề Đa Ca có nói rằng xưa đức Thế Tôn vân du đến miền Bắc Âấn, đã nói với
A Nan rằng: Sau khi ta tịch diệt chừng 300 năm, xứ này sẽ sinh bậc thánh nhân họ
Phả La Đoạ tên Bà Tu Mật làm vị Thiền Tổ thứ 7. Đức Phật đã biết trước, vậy nay
ngươi nên xuống tóc xuất gia". Bà Tu Mật cũng cho hay: Trong một kiếp xưa có
cúng giàng, được Như Lai bảo ở đời Hiền kiếp sẽ thay ngài xiển dương chính
pháp, vậy nay xin Đại sư cho được xuất gia. Tổ bèn thu nhận, và về sau trao
truyền cho Phật pháp để làm Tổ thứ 7. Tổ nhắm mắt đi vào cảnh giới giải thoát,
vọt vào hư không rồi lại trở về pháp toà làm ngọn lửa tự thiêu, xá lị để vào tháp.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 6 Di Giá Ca được đặt ở giữa Tổ thứ 3 và Tổ
thứ 5, thế đứng chững chạc, mặc áo dài nghiêm túc, đang trong sự ngỡ ngàng tìm
hiểu điều gì đó, tay phải thu trong bọc còn tay trái như bấm đốt lần tính, khuôn
mặt có vẻ bàng hoàng ngơ ngác, cả mắt và miệng đều đang thăm dò với động thái
hấp háy khó nói rõ. Và như thế, người xem cảm nhận phía trước Tổ có cảnh lạ hay
ai đó đang đối thoại. Tượng có dáng vẻ bình tĩnh song nội tâm lại động rộn.

Tổ thứ 7: Bà Tu Mật ( 婆須密 vasumitra, còn gọi là Thế Hữu)

Bà Tu Mật vốn là người thích ăn mặc sạch sẽ, tay không rời chén rượu, thường du
hành trong đám dân quê, hay ngâm thơ và lớn tiếng ca hát. Người ta cho ngài là

người cuồng. Khi được Tổ thứ 6 tuyên giảng về tiền duyên, Bà Tu Mật bỏ rượu và
xin xuất gia. Sau khi tiếp thừa y bát trở thành Tổ thứ 7, ngài hay đi các nơi giáo
hoá chúng sinh. Một hôm có kẻ trí đến gặp, xưng tên là Phật Đà Nan Đề, muốn
được cùng bàn về nghĩa cả, nhưng khi biết Tổ thứ 7 hơn hẳn một cái đầu, thì tình
nguyện xin theo để cầu chính pháp.
Sau khi xuống tóc và trao giới thanh văn cho Phật Đà Nan Đề, ngài nhắc phải
chuyên tâm hộ trì.
Khi Tổ đi vào chốn từ tâm Tam muội, các chư Tiên đều xin Tổ mở cho con đường
giải thoát. Tổ bèn hướng về phía quần Tiên đọc:

Pháp mà ta ngộ được
Thời chẳng phải có pháp
Muốn ngộ được Phật tính
Hãy bỏ cả có - không.

Đọc xong Tổ đi vào cảnh giới niết bàn.

Hình Tổ thứ 7 Bà Tu Mật được vẽ trong các thư tịch cổ và tạc thành tượng ở chùa
Tây Phương đặt ở bên trái Tổ thứ 3 gần như tương đồng: Tổ là người cao tuổi, rất
chú ý đến trang sức, đầu tóc buộc dây và chải mượt, mặc áo tĩnh y với những nếp
gấy chảy nuột, chân giầy, cổ tay đeo vòng, đứng thẳng, ngửa mặt lên trời, miệng
há vừa như chào đon đả hay đọc kệ, hai tay chắp lại đưa lên ngang mặt thi lễ, mắt
lim dim. . . hẳn nghệ sỹ xưa muốn diễn tả giây phút cuối đời của Tổ đang truyền
kệ cho các chư Tiên. Là tượng đơn, song chiêm ngắm Tổ, người xem cảm được cả
một tập thể mà Tổ đang giao tiếp. Hình ảnh Tổ được nghiên cứu rất kỹ để từng chi
tiết phối hợp lại bộc lộ rõ tính cách lịch thiệp, trang trọng, ngoại hình gắn bó chặt
chẽ với nội tâm.

Tổ thứ 8: Phù Đà Nan Đề ( 浮陀難提 buddhanandi) hoặc Phật-đà-nan-đề
(佛陀難提)


Tổ có nhục kháo trên đầu, có tài biện luận, giỏi ăn nói, sống thoải mái. Khi biết Tổ
thứ 7 đến nước mình, ngài chủ động tìm gặp, tự giới thiệu và xin cùng luận bàn
nghĩa cả. Sau khi được Bà Tu Mật trao truyền giáo Pháp làm Tổ thứ 8, đã đi vân
du khắp nơi để xiển dương chính pháp.
Một lần thấy trên nhà nọ toả ra thứ ánh sáng trắng kỳ lạ. Tổ nói với các đồ đệ:
"Trong nhà ắt có thánh nhân có thể hoằng dương Phật pháp. Người này chưa hề
nói và đi đâu vì không muốn tiếp xúc với ô uế bên ngoài". Chủ nhà ra mời Tổ vào
và nói rõ: "Con trai tôi là Phục Đà Mật Đa đã 50 tuổi mà chưa nói một lời, chưa đi
một bước". Tổ nhận ra đây là người mình cần tìm, thì Phục Đà Mật Đa cũng bước
ra thi lễ, đọc kệ nói lên công ơn cha mẹ khó đáp đền và tâm nguyện muốn đi tìm
đạo, sau đó đi 7 bước.
Sau khi nghe Tổ giải thích, vị trưởng giả chủ nhà quyết định xa con, để Phục Đà
Mật Đa theo Tổ làm đầu đà. Không bao lâu, Phật Đà Nan Đề trao truyền thanh
tịnh pháp nhân cho Phục Đà Mật Đa làm Tổ thứ 9.

Tượng Tổ thứ 8 ở chùa Tây Phương bày ở các góc ngoài phía bên phải toà chùa
trong, là một người béo tốt, ngồi bệt, chân phải xếp bằng, chân trái chống
nghiêng, tay trái để trên đùi, tay phải đang ngoáy tai. Cả pho tượng thể hiện sự
căng nây, óng ả, mặt hỉ hả, đôi mắt hóm hỉnh, miệng cười dễ dãi, khuôn mặt sáng
sủa, tất cả toát lên sự thông minh, mềm mỏng, nói khéo, dễ gần. Đây là pho tượng
đặc biệt sống động, dù cái que bị mất vẫn luôn gợi động tác ngoáy tai, ngoài sự
kích thích còn biểu hiện sự giao tiếp và ứng xử văn hoá uyên bác.

Tổ thứ 9: Phù-đà-mật-đa ( 浮陀密多 buddhamitra) hoặc Phật-đà-mật-đa
(佛陀密多)

Phục Đà Mật Đa tuy 50 năm liền không nói không đi nhưng không phải là bệnh lý
mà là muốn giữ mình trong sạch. Ngay cả khi gặp Tổ thứ 8 Phật Đà Nan Đề, ngài
đã có những biểu hiện như khi đức Phật ra đời là đọc bài kệ và đi 7 bước, khiến Tổ

thứ 8 nhận xét về ngài: "Vị Tiên sinh này kiếp xưa chắc đã gặp Phật Tổ, có tâm
nguyện sâu rộng, nhưng khó báo ân nghĩa mẹ cha". Ngay sau khi nhận sự phó thác
của Phật Đà Nan Đề, ngài đã tán tụng công đức sư phụ:
Thầy ta là Tổ thứ Tám
Đem Phật pháp dạy dỗ quần sinh
Khiến ai cũng được A Na Hàm đắc quả.
Là Tổ thứ 9, Phục Đà Mật có lần đi giáo hoá đã gặp ông Hương Cái dắt theo đứa
con nhỏ đến và nói: "Con tôi từng ở trong bụng mẹ 60 năm, do đó khi sinh ra khó
mới đặt tên là Nan Sinh. Có vị Tiên đã phán bảo sau này nó sẽ thừa truyền sự
nghiệp cao cả. Nay xin Tôn giả thu nhận nó làm đệ tử". Được thụ giới Tổ thứ 9,
Nan Sinh khi hành đạo có hào quang toả sáng Pháp toà, long lanh như xá lị Phật.
Về sau Phục Đà Mật Đa trao cho Nan Sinh thanh tịnh pháp nhãn để làm Tổ thứ 10.
Truyền pháp xong, Phục Đà Mật Đa thiu thiu đi vào cảnh giới Niết bàn giải thoát,
xá lị để trong tháp.

Tượng Tổ thứ 9 Phục Đà Mật Đa được bày ở bên trái Tổ thứ 8, tả cảnh Tổ đang
ngồi tựa mỏm đá, mặc áo nhiều nếp nhăn, để hở ngực và cánh tay. Tượng được
nhấn mạnh những nét gồ ghề, tạo sự già dặn từng trải pha chút hóm hỉnh như đầu
nhô nhục kháo, lông mày nhíu lại tạo những vết nhăn dọc trên ấn đường, lưỡng
quyền nổi cao, cánh mũi nở, miệng mở hẹp với nếp nhăn bên khoé mép, cằm bạnh,
mắt sáng nhìn xuống. Tay trái ngài cầm một cuốn sách mở, tạo được sự hợp lý của
khuôn mặt đang nhìn xuống sách, đọc và phát hiện những tư tưởng mới như chính
ngài đặt ra khi nói câu đầu tiên: ". . . Đạo lớn kia là Đạo ta cần biết. Còn cái gì
cần biết hơn Đạo kia?". Đây là tác phẩm thể hiện được một nội tâm khá phức tạp.

Tổ thứ 10: Bà-lật-thấp-bà (婆栗濕婆 pārśva) còn gọi là Hiệp tôn giả (脅尊者)

Tên tục của ngài là Nan Sinh, nhưng người đương thời gọi ngài là Hiệp tỳ kheo
với nghĩa nhà tu hành không đặt lưng xuống chiếu nằm nghỉ. Truyện kể người cha
nằm mộng thấy con voi trắng mang trên lưng chiếc ngai báu đặt hạt minh châu từ

cửa tiến vào, toả ánh sáng đầy nhà. Khi tỉnh dậy thì Nan Sinh ra đời. Vì ngài nằm
trong thai những 60 năm nên lọt lòng đã có râu và lông mày bạc trắng. Buổi đầu
ngài theo đạo Bà La Môn, là nhà thông thái. Năm 80 tuổi ngài mới xuất gia đi tu,
bị những người trẻ chê là ông già đần, họ bảo người xuất gia phải biết thiền định
và tụng kinh, mà ông thì già yếu chỉ biết ăn no thôi. Nghe vậy, ngài phát nguyện:
Nếu không thông nghĩa lý ba tạng kinh, không đoạn trừ được lòng dục ba cõi,
không đắc được sáu thần thông và không đắc được giải thoát thì mãi mãi không
bao giờ đặt lưng xuống chiếu. Trải 3 năm kiên trì tu luyện, ngài đã đạt được những
điều hạnh nguyện.
Sau khi được Phật Đà Mật Đa truyền cho pháp bảo làm Tổ thứ 10, Hiệp tôn giả đi
vân du giáo hoá chúng sinh, một lần dừng chân bên cây cổ thụ, ngài chỉ tay xuống
đất nói với đồ chúng: "Đất nơi đây sẽ biến thành vàng, và khi đó sẽ có vị thánh
nhân xuất hiện". Nói xong quả nhiên đất dưới chân vàng rực và có Phú Na Dạ Xà
đi đến yết kiến. Hai người đàm đạo Phật pháp rất tâm đắc. Biết được Phú Na Dạ
Xà đã tỏ thiền cơ, Tổ bèn thế tóc trao giới cho làm thị giả, về sau lại truyền Pháp
bảo cho làm Tổ thứ 11.
Trao pháp xong, Hiệp tôn giả tiến vào cõi Niết bàn, tự hoá ra lửa thiêu thân, xá lị
nhập tháp báu.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 10 Hiệp tôn giả được bày ở bên trái Tổ thứ 9 ,
tả cảnh ngài đang đứng tựa vào thân cây già, có nhục kháo trên đầu, râu tóc đều
rất ngắn, mặt bóng bẩy hóm hỉnh, tay phải cầm quạt, còn tay trái tỳ lên cổ tay
phải. Tượng được đặc biệt nhấn mạnh ở đôi mắt tròn sáng, miệng mím xít, da thịt
phốp pháp mịn óng đối lập với cây khô nhiều hốc mắt, cũng biểu hiện người hay
quan sát, ít nói, không nằm nghỉ đúng như tên gọi, người tinh tấn có chí, rất giàu
nghị lực.

Tổ thứ 12: A-na-bồ-đề (阿那菩提 ānabodhi) hoặc Mã Minh (馬鳴, aśvaghoa)

Mã Minh có nghĩa là ngựa rống, bắt nguồn từ mấy truyền thuyết khác nhau: ngài

vốn là Quốc vương, trong nước ngài có một loại người sống như ngựa không mặc
quần áo, ngài bèn dùng phép phân thân hoá ra vô số tơ tằm, dân phấn khích la
rống lên, do đó ngài lấy hiệu là Mã Minh. Thuyết khác kể rằng ngài là vị tì khiêu
có tài thuyết pháp cảm động được cả những loài phi nhân. Một lần có 7 con ngựa
đói thỉnh tì khiêu thuyết pháp, nhà Vua cho người mang cỏ non đến, nhưng chúng
rơi nước mắt, chỉ chăm chú nghe pháp, không tưởng gì đến ăn uống. Vì thế thiên
hạ gọi ngài là Mã Minh Bồ Tát.
Mã Minh là con một nhà Bà La Môn, thông minh, hiểu biết, nổi tiếng về tài biện
luận. Xưa đức Như Lai thọ ký rằng: "Sau khi ta tịch diệt 600 năm, sẽ có một vị
hiền nhân ra đời tên là Mã Minh chuyên hàng phục tà giáo, có tài thuyết phục rất
nhiều người xuất gia tu hành, sẽ là người truyền thừa giáo pháp của ta". Tổ thứ 11
Phú Na Dạ Xa tìm được Mã Minh, giảng giải cho về hiển giáo và Mật giáo, rồi
truyền thanh tịnh pháp nhân cho làm Tổ thứ 12.
Một lần ngài đang tuyên giảng đạo pháp, bỗng có ma quỷ hiện hình thành ông già,
thành người vàng rồi lại thành một cô gái đến chòng ghẹo, sau lại thành con rồng
dữ lượn quẫy trong mưa gió mịt mù để đe doạ. Ngài vẫn ngồi yên trang nghiêm
lấy chính pháp thu phục, khiến ma hiện lại hình người bày tỏ sự sám hối. Con ma
xưng tên là Ca Tỳ Ma La, đã có 3000 đồ đệ, có thể biến được biển lớn thành suối
nhỏ. Nhưng hỏi về tính chất của biển thì Ca Tỳ Ma La không biết, sau khi được Tổ
giải thích đã xin quy y cùng với tất cả đồ đệ. Về sau, Mã Minh truyền thanh tịnh
pháp nhãn cho Ca Tỳ Ma La làm Tổ thứ 13.

Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 12 Mã Minh đặt ở cuối dãy hồi trái toà chùa
trong. Tượng Tồ được tạc ở tư thế ngồi, chống tay phải trên phiến đá, mặc áo trật
vai trái xuống tận cánh tay để hở cả ngực và bụng, đầu hói quá đỉnh. Tồ ngồi trên
lưng rồng, bình thản, thả thõng chân phải và hơi co chân trái, thân hơi ngả về sau
và chống thăớng tay phải tạo thế vững vàng không mỏi, tay trái gấp vuông đưa
ngang trước bụng và chỉ về con rồng. Đầu tượng tròn, cạo trọc càng nổi các khối
căng đầy sức sống, tai dài chạm vai, mắt nhìn thăớng vào đối tượng cùng với
miệng há biểu hiện đang tranh luận, mặt rất tươi, trên thân mình, da dẻ căng óng

khoẻ mạnh. Tổ đầy vẻ tự tin, thông minh, điềm tĩnh, rất chan hoà với mọi người.

Tổ thứ 13: Ca-tì-ma-la ( 迦毘摩羅, kapimala)

Ngài vốn theo tà giáo, đã có tới 3000 đồ đệ, thông hiểu các dị thuyết, sau được Tổ
thứ 12 Mã Minh khuất phục rồi lại truyền thừa y bát cho làm Tổ thứ 13. Ngài đi
giáo hoá khắp nơi, một hôm nhận lời mời đến toạ thiền ở một hang núi sâu, giữa
đường gặp con rắn to quấn chặt quanh mình. Nghe ngài thuyết giảng, rắn bỏ đi,
khi ngài đến gần hang đá, có ông lão chắp tay thi lễ và thưa: "Tôi xưa cũng là hoà
thượng, nhưng do mắng đuổi những người học đạo bị biến thành mãng xà ở hang
này đã nghìn năm. Vừa rồi được nghe tôn giả thuyết giảng nên đến cảm tạ". Ông
già cho biết thêm gần đây có cây đại thụ xum xuê như con rồng lớn che mát cho
500 con rồng nhỏ, gọi là long thụ vẫn thường thuyết pháp cho chúng rồng nghe.
Ngài tìm đến, Long Thụ đón chào nhưng còn ngờ vực, đến khi được nghe chỉ bảo,
đã cùng 500 long chúng đều xin xuống tóc đi tu. Sau đó Ca Tỳ Ma La truyền giáo
pháp cho Long Thụ làm Tổ thứ 14.
Thuyết pháp xong, Ca Tỳ Ma La hoá ra ngọn lửa tự thiêu thân.

Tượng Tổ 13 ở chùa Tây Phương được đặt ở giáp tường hậu cuối gian bên trái
toà chùa trong, tả cảnh Tồ đang bị mãng xã quấn quanh, nhưng Tổ vẫn điềm tĩnh:
đứng thẳng vững vàng, mặt nhìn lên, đầu nổi nhục kháo, gò má cao tạo một vẻ hơi
ngây, mắt mở to, miệng mím không nói gì, da thịt và mảng áo đều mịn óng. Sự
đàng hoàng của Tổ khiến rắn biết gặp đối thủ cao cường phải bái phục. Đây cũng
là một cách tranh đấu có nội lực mạnh, khác với điều ghi trong tiểu sử, biểu hiện
sự sáng tạo của nhà điêu khắc.

Tổ thứ 14: Long Thụ ( 龍樹, nāgārjuna, cũng gọi Na-già-hạt-thụ-na 那伽閼樹那)

Ngài được bà mẹ sinh dưới một gốc cây, về sau lại nhờ loài rồng giúp mà thành
đạo, do đó mang tên là Long Thụ. Ngài ra đời sau khi đức Phật nhập diệt chừng

700 năm. Tuổi nhỏ ngài đã đi khắp nơi, tìm học nhiều môn, vốn dòng Bà La Môn,
sau gặp Tổ thứ 13 Ca Tỳ Ma La mới quy Phật. Ngài đã đọc và liễu thuộc nhiều
kinh điển, song vẫn thấy còn có chỗ chưa đầy đủ, đã ngồi quán tưởng được Đại
Long đưa xuống Long cung chép Kinh Hoa Nghiêm mang về. Ngài còn soạn ra
một số bộ kinh giải về đạo lý rất rành và làm cốt yếu của Tam luận tông. Ngài còn
truyền bá giáo lý Mật Tông với nhũng linh phù và châm ngôn. Long Thụ khi đi
giáo hoá, đã vì mọi người mà thuyết pháp, đoan nghiêm ngồi trên pháp toà, hiện
thành vầng trăng sáng, mọi người chỉ nghe tiếng mà không thấy hình tướng. Đệ tử
Ca Na Đề Bà giải thích cho mọi người rằng đấy là đại sư tiến nhập vào Vô tướng
Tam muội, hình như vầng trăng tròn sáng, trống rỗng hư huyền, biểu hiện ý nghĩa
Phật tính. Long Thụ là một vị Tổ có danh tiếng lớn trong giới Phật học, được
đương thời coi là Phật sống. Về sau ngài truyền thanh tịnh pháp nhãn cho Ca Na
Đề Bà làm Tổ thứ 15.


Ở chùa Tây Phương, Tổ thứ 14 Long Thụ được đặt ở bên trái Tổ thứ 13, là vị Tổ
duy nhất ngồi trên toà sen. Tượng Tổ được tạc với những đặc điểm: đầu nổi nhục
kháo, gò má cao, mắt nhắm, mũi nở, cằm nhọn thể hiện một nhà hiền triết uyên
bác, ngồi tĩnh lặng nhưng nội tâm sôi động, là người từng trải, khắc khổ, xem nhẹ
đời thường để suy tư hoàn chỉnh kinh pháp. Con rồng ở bệ nhỏ bên trái Tổ đang
đội một kệ sách, ý chừng nhắc ngài được Đại Long cho kinh Hoa Nghiêm. Đây là
pho tượng thoát tục rất thành công, Tổ được xem trọng như Phật. Người xem hiểu
truyện Tổ, ngắm tượng lâu sẽ thấy đường viền nhạt nhoà để chỉ còn một vầng
sáng yếu, không thực không hư theo như Phật tính.

Tổ thứ 16: La-hầu-la-đa ( 羅睺羅多, rāhulabhadra)

La Hầu La Đa còn gọi tắt là La Hầu La là con trai của một nhà trưởng giả, trên cây
trong vườn nhà ông cứ hàng ngày mọc ra những đoá mộc nhĩ mà chỉ riêng La Hầu
La Đa nhìn thấy, hái ăn rồi lại mọc. Tổ thứ 15 Ca Na Đề Bà biết chuyện ghé thăm

và giải thích: có vị tăng nhân chịu ơn cúng dường của trưởng giả đã biến thành
mộc nhĩ để báo tiền duyên. Trưởng giả bèn xin Tổ cho La Hầu La Đa xuất gia theo
hầu. Tổ thứ 15 bèn cho biết xa xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau khi ngài nhập
diệt 1000 năm thì con trai ông sẽ kế thừa y bát thành Giáo chủ, vậy đây là việc tiền
duyên, bèn thu nhận và xuống tóc cho làm thị giả. Về sau Ca Na Đề Bà truyền đại
pháp cho La Hầu La Đa làm Tổ thứ 16.
La Hầu La Đa là người thông minh, có tài thuyết pháp. Một lần ngài vân du đến
sông Kim Thuỷ thành Thất La, đã nói cho đại chúng biết rằng ở đầu nguồn có bậc
thánh nhân Tăng Già Nan Đề mà xưa đức Phật đã dự ngôn rằng sau 1000 năm
người ấy sẽ ở ngôi vị Tổ thứ 17. Nói rồi, ngài cho thuyền ngược lên nguồn, tới nơi
thấy Tăng Già Nan Đề đang nhập định. Đủ 37 ngày ông này mới xuất định ra khỏi
cơn thiền. Hai người bàn luận nhiều về nghĩa lý của sự định, tranh luận sôi nổi và
kéo dài, cuối cùng Tăng Già Nan Đề tỉnh ngộ xin được xuất gia. La Hầu La Đa
còn thuyết giáo nhiều cho các đồ chúng, trong đó Tăng Già Nan Đề đã giúp việc
rất đắc lực, cuối cùng được truyền thanh tịnh pháp nhãn làm Tổ thứ 17. Truyền
pháp xong, Tổ ngồi yên viên tịch, thi hài thờ trong tháp.


Ở chùa Tây Phương, tượng Tổ thứ 16 La Hầu La Đa được bày ở bên phải Tổ thứ
13. Tổ ngồi trên phiến đá, hai chân thả chạm đất, cây gậy tích trượng để tựa vai
do tay trái giữ không phải để tăng sự vững chắc mà chỉ nhằm nâng uy thế. Bàn tay
phải xoè ra để úp trên đùi lộ rõ những móng tay dài của người trưởng giả ăn chơi,
khuôn mặt hơi ngửa có vẻ ngạo nghễ, miệng mím với môi mỏng biểu hiện tài nói
năng trơn tru. Đôi mắt nheo nheo với chiếc mũ hơi hếch lại tạo một vẻ mặt đăm
đăm. Các nếp nhăn và khối gồ ghề trên thân thể biểu hiện sự mỏi mệt, đến cả các
nếp nhăn trên áo cũng gợi sự trăn trở, và cách ngồi có cái gì nặng nề. Tổ là vị duy
nhất chít khăn cùng với toàn thân cân đối muốn gợi sự quyền quý oai vệ. Con
hươu nằm ở trái Tổ, quay cổ và ngóc đầu hướng về Tổ như sự chờ đợi vỗ về. Có
thể đấy là hình ảnh của Lộc uyển nơi đức Phật Thích Ca đã thuyết pháp và đức Ca
Diếp đã chuyển pháp luân, ở đây con hươu cũng gợi ra những chúng sinh, những

tăng lữ đã từng tranh luận về pháp với Tổ. Đây là một pho tượng được nghiên cứu
rất kỹ về giải phẫu cơ thể và tâm lý xã hội, phức tạp mà thống nhất.

Tổ thứ 17: Tăng-già-nan-đề ( 僧伽難提, saghanandi)

Ngài là con Vua nước Bảo Trang Nghiêm, vừa sinh ra đã biết nói, hay tán dương
Phật pháp. Lên 7 tuổi đã xa bỏ những thú vui thế tục, làm bài tụng xin xuất gia
nhưng cha mẹ không thuận. Không lay chuyển được con, vua cha mời một vị hoà
thượng vào thành tuyên dạy, 19 năm không hề thoái chí. Song ngài không bằng
lòng với việc tu ở trong vương cung, một ngày kia đã trốn vào trong hang núi để
ngồi nhập định. Ngài nhập định liền 37 ngày, khi xuất định thấy Tổ thứ 16 La Hầu
La Đa ở bên cạnh. Được Tổ giảng giải về Đạo, Tăng Già Nan Đề tỉnh rõ tất cả.
Mười năm sau được La Hầu La Đa truyền thừa giáo pháp làm Tổ thứ 17. Một lần
đi vân du, nhờ gió mát và mây tía báo hiệu, ngài gặp đứa trẻ cầm gương xưng đã
100 tuổi muốn ngộ Phật cơ, bèn dắt về chùa làm lễ xuống tóc cho làm thị giả và
đặt tên là Già Da Xá Đa.
Nhân một lần gió thổi làm khánh kêu, Tổ hỏi: "Khánh kêu hay gió kêu?", Già Da
Xá Đa đáp: "Đấy là tâm con kêu". Lại hỏi: "Trong tâm ngươi là cái gì?". Đáp: "Tất
thảy đều yên ắng". Biết Già Da Xá Đa đã ngộ, Tăng Già Nan Đề bèn trao thanh
tịnh pháp nhãn cho làm Tổ thứ 18. Phó pháp xong, Tổ vin cành cây mà viên tịch,
các đồ đệ xây tháp dưới gốc cây để thờ.


Tượng Tăng Già Nan Đề ở chùa Tây Phương được bày ở góc trong bên trái của
toà chùa trong, tượng được tạc với khuôn mặt chữ điền rạng rỡ, ngồi tì cằm lên
bàn tay úp đè nhau trên đầu gối (tay phải ở trên), cánh mũi nở, gò má đầy, nhắm
mắt, khép miệng nhưng mỉm cười. Toàn thân thu gọn trong tấm áo bào choàng từ
cổ xuống đất với những nếp gấp chảy xuôi, phía trước chỉ để hở khối chân phải
gấp nằm ngang và khối chân trái gấp dựng đứng. Bệ tượng gợi sóng nước có mặt
một con thú rừng, như muốn biểu hiện một thiên nhiên hoang dã. Thế ngồi tự

nhiên, toàn thể bó trong một khối chóp có đường viền rõ ràng, các mảng lớn chảy
xuôi gắn với vài mảng ngang hẹp làm cho toàn thể chững chạc, thu lại hình để
khơi mở tư tưởng lớn. Đây là tác phẩm có bố cục rất gọn chặt.

Tổ thứ 18: Tăng-già-xá-đa ( 僧伽舍多, saghayathata)

Mẹ ngài nằm mơ thấy vị thần cầm gương báu, từ đó mà có thai, sau 7 ngày sinh;
ngài có thân thể sáng trong như pha lê, toả hương thơm tinh khiết. Từ bé ngài đã
nói không như những trẻ bình thường, hay cầm gương đi chơi. Khi gặp Tổ thứ 17,
ngài giải thích về chiếc gương: "Mỗi vị Phật lớn đều có cái gương tròn lớn, soi
thấu trong ngoài, trong gương ngoài gương hai người đều cùng nhìn nhau, tâm và
mắt cũng tương tự vậy". Sau khi xuất gia rồi lại được Tăng Già Nan Đề trao cho y
bát làm Tổ thứ 18, Già Da Xã Đa xuất lĩnh đồ chúng đi giáo hoá các nơi, rất hay
quan sát và hay tìm hỏi. Một hôm thấy trên nhà người Bà La Môn có dị khí bốc
lên, bèn đến gõ cửa nhưng hồi lâu trong nhà vọng ra: "Cả nhà đi vắng rồi!". Bị căn
vặn: "Thế ai nói đó", chủ nhà mới ra mở của mời vào. Ngài nói cho chủ nhà hay
rằng: "Đức Phật Thích Ca xưa đã dự ngôn sau khi nhập tịch 1000 năm, ở nước này
sẽ có vị đại sĩ tên là Cưu Ma La Đa nhớ lại tiền duyên, cúi xin được xuất gia. Già
Da Xá Đa bèn vì Cưu Ma La Đa xuống tóc và trao giới, sau lại đem đại pháp trao
cho làm Tổ thứ 19.

Ở chùa Tây Phương, tượng Già Da Xá Đa bày ở bên phải tượng Tổ thứ 16, tả
cảnh Tổ đang đi vân du giáo hoá, tay trái cầm gương giơ về phía sau, tay phải
giang ngang rồi gấp lại tì giữ chiếc gậy trên vai mà đầu đằng sau buộc cuốn kinh
với tua kim tòng. Tượng có những đặc điểm: gió thổi bay xa các tà áo và ống tay
trong khi người vẫn đứng thẳng, chân phải hơi co tạo sự nhún nhảy gợi cho những
cánh tay như đung đưa theo nhịp bước, các nếp áo buông chảy tự nhiên, đầu hơi
nhô nhục kháo và dướn cao mở rộng tầm nhìn, vẻ mặt có phần ngơ ngác luôn gặp
những cảnh mới lạ, đôi mắt mở to như hấp háy và cái miệng há vừa phải đang
giữa câu nói, cánh mũi rộng, gò má đầy, tai dài, người đẫy chắc. Ngắm nhìn

tượng đơn nhưng ta có thể thả sức tưởng tượng nhiều tình huống xảy ra phía
trước.

Tổ thứ 19: Cưu-ma-la-đa ( 鳩摩羅多, kumāralāta)

Kiếp xưa ngài là Tiên ở tầng trời cao, nhìn thấy chuỗi dây anh lạc quấn quanh
bụng một vị Bồ Tát đã nảy sinh lòng dục, bị đầy dần xuống các tầng trời thấp, cuối
cùng giáng sinh vào một gia đình Bà La Môn ở nước Đại Nguyệt Thị. Khi gặp Già
Da Xá Đa, nghe nói đến danh hiệu Phật bỗng tâm thần hoảng loạn, nhưng khi biết
lời tiên tri của đức Phật và nhớ việc đời trước đã vui vẻ xin xuất gia. Sau khi đã
thành Tổ thứ 19, ngài đi giáo hoá chúng sinh, đã giảng rõ nghiệp báu, khiến Xà Dạ
Đa nhớ lại tiền duyên và xin được xuống tóc xuất gia. Về sau Cưu Ma La Đa trao
thanh tịnh pháp nhãn cho Xà Dạ Đa làm Tổ thứ 20. Tổ yên toạ trên pháp toà, lấy
móng tay vẽ bông sen hồng, toả hào quang rồi tiến vào cõi tịch diệt. Nơi đó được
lập pháp thờ.

Ở chùa Tây Phương, Tượng Cưu Ma La Đa bày ở góc ngoài bên trái của toà chùa
trong, tả Tồ với hình dáng toàn thân béo múp, ngồi ngả người rất thoải mái, chân
gấp đứng, chân xếp ngang, tay trái để trên đùi, tay phải cầm bông hoa mây. Sự kết
hợp bố cục hài hòa giữa bông hoa mây với những mảng khối căng nẩy khắp toàn
thân, với khuôn mặt rất hể hả cùng nhau làm toát ra tính cách lãng mạn, yêu đời,
sống thật thoải mái. Đầu tượng tròn, mặt bầu bĩnh, mắt hấp háy cười, mũi hơi
chun lại với cánh nở, miệng mỉm cười, hai tai đầy rất dài, các nếp nhăn trên trán,
trên cằm và khoé miệng, ánh mắt đều biểu hiện sự mãn nguyện. Tổ mặc áo phanh
ra hở cả ngực và bụng cũng đều căng bóng, lại thêm mấy ngấn bụng thắt lại càng
tạo cảm giác cứ rung lên phập phồng. Tượng quy về khối nón vững chắc, phối hợp
các mảng khối ngang và dọc, điểm thêm một số đường nét thuận chiều, chỗ nào
cũng đầy tràn sức xuân, gắn với kiếp trước ở tầng trời cao nhiều hơn là khi xuống
hạ giới trong nhà Bà La Môn.


Tổ thứ 20: Xà-dạ-đa ( 闍夜多, śayata)

Ngài là người trí tuệ rất sâu xa, hoá đạo cho rất nhiều người. Khi Cưu Ma La Đa
đến, ông chủ động đi tìm hỏi:
- Cha mẹ tôi vốn tín mộ Tam bảo, thế nhưng luôn bị bệnh tật, làm việc gì cũng đều
thất bại. Gần nhà tôi có người hạng Chiên-đà-la (hà tiện, ác trược) thế mà thân thì
khoẻ mạnh, làm việc gì cũng toại ý! Vậy kẻ ấy có phúc chi luôn gặp may, chúng
tôi có tội chi luôn bị rủi ro?
Tổ Cưu Ma La Đa đáp:
- Sự báo ứng nhân quả thiện - ác trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Kẻ phàm
thường chỉ thấy người lương thiện chết yểu, kẻ độc ác sống lâu, người nghĩa gặp
dữ, kẻ nghịch gặp lành. . . bèn cho là không có báo ứng nhân quả, sự hồi báo của
phúc và tội chỉ là giả huyễn. Họ có biết đâu như bóng theo hình, ảnh hưởng sự
thiện ác theo mãi không tan mất.
Xà Dạ Đa nghe vừa dứt lời, mọi nghi hoặc tan biến.
Tổ lại nói: Nhà ngươi đã tin vào Tam nghiệp (thân - ngữ - ý), song vẫn chưa hiểu
cái nghiệp do cái mê mà sinh, cái thức lại y theo cái không hiểu biết, cái không
hiểu lại khởi nguồn từ cái tâm. Mà bản tính của tâm là thanh tịnh, không sinh
không diệt, không báo ứng, không hơn thua, nó yên ắng và trong sáng. nếu ngươi
nhập pháp môn ấy thì không khác gì Phật Tổ trên toà cao kia. Hết thảy thiện và ác,
hữu vi và vô vi đều là mộng huyễn hết.
Xà Dạ Đa nhớ lại tiền duyên, xin xuất gia, được Cưu Ma La Đa xuống tóc, lại trao
cho giới thanh văn làm Tổ thứ 20. Ngài khi giảng pháp cho nhóm có học và thích
biện luận của Bà Tu Bàn Đầu đã nói về mình: "Ta không truy cầu đạo cả, cũng
chẳng trái phạm đạo cả; ta không lễ phật, cũng chẳng khinh Tam bảo; ta không
nhăm nhăm suốt ngày thiền định, cũng chẳng nhởn nhơ bỏ trễ; ta không phải chỉ
ăn một loại thực vật, cũng chẳng phàm ăn tục uống; ta không biết đủ cũng chẳng
tham lam. Tâm không trói buộc, ấy mới là thực đạo". Bà Tu Bàn Đầu nghe hết,
nhớ lại tiền duyên, xin được dạy dỗ. Xà Dạ Đa bèn truyền thanh tịnh pháp giới
cho: "Người xưa nay uẩn chứa vô vàn công đức, xứng kế thừa tông nghiệp của

Phật Tổ, hãy lắng nghe tụng kệ":

Ngôn hạ hợp vô sinh
Đồng ư pháp giới tính
Nhược năng như thị giải
Thông đạt sự lý cách

(Điều nói vốn chưa sinh
Mọi cái trùng pháp giới
Nếu hiểu được như vậy
Đến rồi nơi tịch diệt)

Tổ khoác chéo thân một tấm cà sa như chiếc khăn, ngồi chân chống chân gấp trên
tấm thảm tròn, cúi gấp người xuống, tay trái để trên đùi còn tay phải cầm cái que
chọc xuống tấm lưng trần gãi.
Toàn bộ pho tượng nhấn mạnh cái ngứa đang hành hạ một người gầy yếu nhưng
nội lực mạnh: Đầu to tròn với vầng trán rộng thông minh, nhưng khuôn mặt dài
và xương xương, dướn cổ tạo những hốc, ngực phơi đủ bộ xương sườn, bụng
mướp với nhiều nếp da nhăn nheo.
Tượng ngồi chân phải quỳ chân trái chống, bàn tay trái đặt lên đùi như lấy thêm
thế dướn vai phải đưa tay lên cao để gãi cho đã. Đây cũng là thế ngồi khi tranh
biện có thể phán quyết đầy đủ đối phương, gắn với hoạt động hoá đạo của Tổ. Đôi
mắt nheo nheo trong hõm sâu ẩn dưới gò cao cùng với cái miệng chụm lại, phối
hợp với các nếp nhăn trên trán, đuôi mắt và khoé miệng không chỉ nói lên cái già,
còn biểu hiện những suy tư sâu sắc. Nhìn chính diện, người xem sẽ thấy sự chính
xác về giải phẫu, sự dằn vặt về sinh lý và sự sâu sắc về trí tuệ.

×