BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
ĐỒN HẢI YẾN
GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HĨA SẢN PHAM DỊCH VỤ
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LựC CẠNH TRANH TẠI
NGÂN HÀNG ĐÀU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các dữ liệu đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, kết quả
của luận văn là trung thực và ch—a đ (Ọc ai công bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG
HOÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI......................................................4
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG.............4
1.1.1
Khái niệm sản phẩm dịch vụ ngân hàng..................................................4
1.1.2
Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ ngân hàng.............................................5
1.1.3
Các loại sản phẩm dịch vụ của NHTM trong nền kinh tế thị trường.......8
1.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TÁC ĐỘNG ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM..........15
1.2.1
Khái niệm về đa dạng hoá......................................................................15
1.2.2
Sự cần thiết phải đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.........................................16
1.2.3
Nội dung về đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng.........................18
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DỊCH
VỤ NGÂN HÀNG..............................................................................................................21
1.3.1
Nhân tố chủ quan...................................................................................21
1.3.2
Nhân tố khách quan...............................................................................23
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ TỚI NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI................................24
1.4.1
Khái niệm về năng lực cạnh tranh..........................................................24
1.4.2
Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh qua việc đa dạng hoá sản
phẩm dịch vụ ngân hàng..................................................................................24
1.4.3
Tác động của việc đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ tới nâng cao năng lực
cạnh tranh của Ngân hàng thương mại.............................................................30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1......................................................................................34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DICH VỤ NGÂN
HÀNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM.......................35
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM....35
2.1.1
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam..........................................................................................35
2.1.2
Mơ hình tổ chức....................................................................................36
2.1.3
Tổng qt tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV thời kỳ 2006-2008
và 6 tháng đầu năm 2009................................................................................. 39
2.2. THỰC TRẠNG ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ VÀ TÁC ĐỘNG
ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA BIDV............................................42
2.2.1
Nhóm dịch vụ tiền gửi...........................................................................42
2.2.2.
Nhóm dịch vụ tín dụng......................................................................... 48
2.2.3
Dịch vụ thanh toán................................................................................55
2.2.4
Dịch vụ khác.........................................................................................59
2.3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA BIDV.................62
2.3.1
Ket quả đạt được....................................................................................62
2.3.2
Những hạn chế, yếu kém.......................................................................68
2.3.3.
Nguyên nhân.........................................................................................71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2......................................................................................77
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM............................................................. 78
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA BIDV THỜI KỲ 2009 - 2015.............78
3.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA BIDV ĐẾN NĂM 2011....79
3.3 GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM...............................................................................................80
3.3.1
Hồn
thiện
chiếnCÁC
lược, CHỮ
cơ chế,VIẾT
chính TẮT
sách đa dạng hố sản phẩm dịch
DANH
MỤC
vụ ngân hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV..........................80
3.3.2............................................Khẩn trương nâng cao năng lực tài chính
...........................................................................................................81
3.3.3.
Đa dạng hố các sản phẩm nhận tiền gửi..............................................82
3.3.4
Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng tín dụng.................................83
3.3.5. Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ phi tín dụng, nhất là dịch vụ thẻ..............85
3.3.6
Tăng số lượng dịch vụ mà mỗi khách hàng đang sử dụng....................88
3.3.7
Xây dựng và điều hành giá cả sản phẩm dịch vụ linh hoạt và năng động
mềm dẻo có sức cạnh tranh thu hút khách hàng...............................................89
3.3.8
Tiếp tục nâng cao kỹ năng bán sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho đội ngũ
nhân viên của BIDV.........................................................................................89
3.3.9
Xây dựng những chi nhánh ngân hàng kiểu mẫu...................................91
3.3.10. Hồn thiện chiến lược phát triển cơng nghệ ngân hàng........................92
3.4 KIẾN NGHỊ..........................................................................................................93
3.4.1........................................................................................................Ki
ến nghị với Chính phủ các Ban ngành liên quan...............................93
3.4.2........................................................................................................Ki
ến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam......................................96
ACB
KẾThàng
LUẬN..........................................................................................................100
Ngân
thương mại cổ phần Á châu Việt Nam
ALCO
AGRIBAN
K
BIDV
Hội đồng quản lý tài sản Nợ-Có (Asets & Liabilities
Committee)
Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơng Việt Nam
CAR
Hệ số an tồn vốn tối thiểu (Capital Adequency Ration)
ICB
Ngân hàng thương mại cổ phần Cơng thương Việt Nam
IFRS
Báo cáo kiểm tốn theo chuẩn mực kế toán quốc tế
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTM CP
Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTM NN
Ngân hàng thương mại nhà nước
NPLs
Tỷ lệ nợ xấu (Non Performing Loans)
ROE
Lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (Returns on Equity)
ROA
Lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (Returns on Assets)
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
TCTD
Tổ chức tín dụng
STB
Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gịn Thương tín
VAS
Báo cáo kiểm tốn theo chuẩn mực kế toán Việt Nam
VCB
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
VND
Việt Nam đồng
USD
Đô la Mỹ
Ký hiệu
Tên bảng, biểu, sơ đồ
Trang
Sơ đồ 2.1:
Sơ đồ tổ chức theo hệ thống của BIDV
38
Bảng 2.1:
Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV thời kỳ 2006 - 2008
39
và 6 tháng đầu năm 2009
Bảng 2.2:
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Huy động tiền gửi từ dân cư và TCKT thời kỳ 2006 - 2008 và 6
43
tháng đầu năm 2009
Bảng 2.3:
Thị phần và huy động vốn của BIDV 2006 - 2008 và 6 tháng
đầu năm 2009
Bảng 2.4:
Thị phần huy động vốn của một số Ngân hàng thương mại lớn
năm 2008
Bảng 2.5:
Bảng 2.9:
Phân loại dư nợ tín dụng của BIDV thời kỳ 2006 - 2008
Tăng trưởng tín dụng của một số Ngân hàng thời kỳ 2006 2008
Thị phần tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh
thời kỳ 2006 - 2008
Bảng 2.10:
Vốn chủ sở hữu của BIDV thời kỳ 2006 - 2008
Bảng 2.11:
Vốn chủ sở hữu của các Ngân hàng thương mại quốc doanh
thời kỳ 2006 - 2008
Bảng 2.12:
50
54
55
63
64
65
Quy mô tổng tài sản dư nợ tín dụng và huy động vốn của
BIDV qua các năm
Biểu 2.2:
48
Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động và khả năng khả
năng sinh lời của BIDV giai đoạn 2006 - 2008
Biêu 2.1:
47
Số liệu dịch vụ tín dụng của BIDV 2006 - 2008, 6 tháng đầu
năm 2009
Bảng 2.7:
Bảng 2.8:
46
Thị phần huy động vốn dân cư của một số Ngân hàng thương
mại thời kỳ 2005 - 2008
Bảng 2.6:
46
Thị phần huy động vốn của các NH năm 2008
41
47
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với khu
vực và thế giới, yêu cầu đặt ra đối với nền kinh tế nói chung và ngành ngân hàng
nói riêng cần phải có những thay đổi tồn diện sâu sắc cả về lượng và chất để tồn tại
và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt. Đặt biệt, đối với ngành
ngân hàng, từ năm 2006 Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ
phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngồi theo cam kết
trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ và có sự tham gia của các ngân hàng 100%
vốn nước ngoài với ưu thế vượt trội về vốn và trình độ quản lý thì u cầu về sự
thay đổi tồn diện và sâu sắc cả về lượng và chất là hết sức cấp bách.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tuy là một trong bốn ngân
hàng thương mại Nhà nước lớn nhất Việt Nam nhưng cũng không đứng ngoài xu
thế này. So với các ngân hàng thương mại trong khu vực và trên thế giới thì quy mơ
cũng như chất lượng hoạt động của BIDV còn nhỏ bé và non trẻ. Hệ thống dịch vụ
ngân hàng của BIDV còn đơn điệu, chủng loại còn nghèo nàn và chất lượng cịn
nhiều hạn chế. Hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu nhưng rủi
ro lại cao. Trước thực tế đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam muốn đứng
vững và phát triển buộc phải tìm mọi biện pháp để nâng cao tiềm lực tài chính và
năng lực cạnh tranh của mình, tăng vốn tự có từ đó vươn lên chiếm lĩnh thị trường.
Trong đó tập trung chủ yếu vào việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường. Bởi lẽ dịch vụ ngân hàng
đóng vai trị hết sức quan trọng trong giao thương quốc nội và quốc tế, nó như cầu
nối gắn kết các đối tác kinh tế lại với nhau một cách nhanh nhất và đảm bảo an toàn.
Như vậy, nếu khơng có hoạt động dịch vụ ngân hàng thì nền kinh tế khơng thể vận
động được. Vì vậy, việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng khơng chỉ thỏa
mãn nhu cầu của khách hàng mà còn tạo điều kiện để ngân hàng thâm nhập thị
1
trường, mở rộng thị phần, tăng doanh số hoạt động, đạt lợi nhuận cao, tạo uy tín
hình ảnh và tăng năng lực cạnh tranh của mình.
Hơn nữa, thị trường dịch vụ ngân hàng còn rất nhiều tiềm năng để phát triển
cụ thể: số người sử dụng dịch vụ ngân hàng cịn ít và khi kinh tế tăng trưởng cao,
thu nhập của người dân được cải thiện rõ rệt đặc biệt là dân ở các thành phố lớn thì
nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính càng lớn. Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ
ngân hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV trong thời gian qua đa đạt
được nhiều kết quả khả quan. Nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập, yếu kém cả về lý
luận lẫn thực tiễn. Đây là lý do tôi chọn đề tài: "Giảipháp đa dạng hóa sản phẩm
dịch vụ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
-
Làm rõ những lý luận cơ bản về sản phẩm dịch vụ ngân hàng, năng lực cạnh
tranh của ngân hàng thương mại và tác động của việc đa dạng hóa sản phẩm dịch
vụ
ngân hàng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
-
Đánh giá khái quát thực trạng đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng đã tác
động như thế nào đến nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV trong thời gian
qua.
-
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng là một phạm trù rộng lớn, những nhân tố tác
động đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM cũng rất nhiều. Tuy nhiên,
luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng
và tác động của việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến năng lực cạnh
tranh của BIDV thời kỳ 2006 - 2008 và 6 tháng đầu năm 2009, từ đó đưa ra các giải
pháp thiết thực cho việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh của BIDV.
4. Phương pháp nghiên cứu
2
-
Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử: nhằm nghiên cứu bản chất sự
vận động có tính quy luật của các hiện tượng, các quá trình kinh tế trên thị trường
từ
đó tiến hành các hoạt động kinh doanh phù hợp với điều kiện thị trường, trong đó
có
các hoạt động của NHTM.
-
Phương pháp thống kê và phân tích, tổng hợp: là phương pháp giúp cho việc
nghiên cứu các yếu tố cấu thành nên hiện tượng, quá trình kinh tế đồng thời khái
quát hóa để biết xu hướng vận động chung của chúng.
-
Ngồi ra luận văn cịn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp so
sánh, dự đoán...
5. Ket cấu luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3
chương:
Chương 1: Khái quát về đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng và tác
động đến nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM
Chương 2: Thực trạng đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng và tác
động của nó đến nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm nâng
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HOÁ SẢN
PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.
KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG
1.1.1
Khái niệm sản phẩm dịch vụ ngân hàng
Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Chính tính đa
dạng, phức tạp vơ hình của các loại dịch vụ làm cho việc thống nhất định nghĩa về
dịch vụ trở nên khó khăn hơn. Khơng chỉ ở nước ta mà cả trên thế giới mỗi quốc gia
đều có những cách hiểu khác nhau về dịch vụ. Chính vì vậy mà trong Hiệp định
chung về thương mại và dịch vụ (GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
cũng không đưa ra khái niệm về dịch vụ mà thay vào đó là sự liệt kê dịch vụ thành
12 ngành lớn gồm 155 phân ngành chi tiết.
Còn trong Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: “Dịch vụ là các hoạt động
phục vụ, nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt”. Tuy
nhiên cách giải thích này chưa thực sự thoả đáng. Vì vậy có rất nhiều cơng trình
nghiên cứu và đưa ra cách tiếp cận mới dựa trên tính chất của dịch vụ và thể hiện rõ
hơn nội hàm của dịch vụ: “Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh
trong giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và khơng thể
cầm nắm được”. Cách hiểu này được nhiều ý kiến chấp nhận do nó đã nêu được hai
đặc trưng cơ bản của dịch vụ đó là dịch vụ là một sản phẩm và dịch vụ là vô hình
khác với hàng hố là hữu hình.
Đối với dịch vụ ngân hàng, cho đến nay vẫn chưa có được định nghĩa thống
nhất về dịch vụ ngân hàng. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng
nhưng tựu chung thuộc hai nhóm quan điểm :
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Dịch vụ ngân hàng là lĩnh vực hoạt động của
ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng theo
chức năng trung gian tài chính”. Theo quan điểm này ngân hàng sẽ hoạt động trên
hai lĩnh vực chính là lĩnh vực dịch vụ tín dụng
và lĩnh vực dịch vụ phi tín dụng.
4
Trong đó hoạt động tín dụng là mảng dịch vụ về nhận tiền gửi, huy động vốn, cho
vay còn mảng dịch vụ phi tín dụng là các nghiệp vụ mà trong đó ngân hàng đóng
vai trị trung gian có thu phí.
Quan điểm thứ hai lại cho rằng “Tồn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh
tốn, ngoại hối... của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung cấp dịch vụ cho
nền kinh tế”. Như vậy dịch vụ ngân hàng bao gồm cả dịch vụ tín dụng và dịch vụ
phi tín dụng.
Mỗi quan điểm đều dựa trên những lập luận riêng có ưu nhược điểm của nó.
Quan điểm sản phẩm dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm các sản phẩm dịch vụ phi tín
dụng, tuy khơng chặt chẽ về mặt khoa học nhưng cũng có ý nghĩa nhất định và được
sử dụng khá phổ biến trong thực tế khi phân chia cơ cấu thu nhập của ngân hàng.
Còn quan điểm thứ hai là cách hiểu được sử dụng khi đề cập đến hệ thống ngân
hàng với tư cách là một ngành kinh tế, phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân
hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa
Kỳ cũng như nhiều nước phát triển.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả thiên về quan điểm thứ hai
tức là sản phẩm dịch vụ ngân hàng bao gồm tất cả các hoạt động sinh lời của ngân
hàng thương mại. Như vậy trong luận văn này sản phẩm dịch vụ ngân hàng được
hiểu như sau: “Sản phẩm dịch vụ ngân hàng là những nghiệp vụ mà ngân hàng
thực hiện trong việc huy động các nguồn vốn tiền tệ và đầu tư số vốn huy động
được, cấp tín dụng phục vụ thanh toán cho khách hàng và làm các dịch vụ khác
theo sự ủy thác của khách hàng”.
1.1.2
Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ ngân hàng
1.1.2.1
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng không tồn tại dưới dạng vật chất
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng thương mại có đặc điểm khơng hiện hữu, không
thể dự trữ hoặc để tồn kho để đến khi thị trường cần thì đem ra bán như hàng hố
thơng thường, mà sản phẩm dịch vụ ngân hàng chỉ bắt đầu khi khách hàng có nhu
cầu. Đây là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với sản phẩm
của các ngành sản xuất khác. Cũng chính vì thế việc đo lường và xác định chất
5
lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng chỉ được đánh giá và xác định trong, sau khi sử
dụng, thể hiện thơng qua sự hài lịng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh
đó một số sản phẩm dịch vụ ngân hàng địi hỏi phải có trình độ chun mơn cao và
độ tin tưởng tuyệt đối giữa ngân hàng và khách hàng như sản phẩm dịch vụ nhận
gửi tiền, cho vay, chuyển tiền... Các yêu cầu này làm cho việc đa dạng hoá cũng
như nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng càng trở nên khó khăn hơn.
1.1.2.2
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng có tính đồng thời (khơng thể tách biệt)
Sự khác biệt rõ nét của sản phẩm dịch vụ ngân hàng so với sản phẩm của các
lĩnh vực khác là đặc tính khơng thể tách rời, tính thống nhất. Do quá trình cung cấp
và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ ngân hàng xảy ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia
trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ. Mặt khác quá
trình cung ứng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thường được tiến hành theo quy
trình nhất định khơng thể chia cắt ra thành các loại sản phẩm khác nhau như quy
trình thẩm định, quy trình cho vay, quy trình thanh tốn ....Điều đó làm cho ngân
hàng khơng có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho mà sản phẩm dịch vụ được cung
ứng trực tiếp cho người tiêu dùng khi và chỉ khi khách hàng có yêu cầu; quá trình
cung ứng diễn ra đồng thời với quá trình sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng.
Chính đặc điểm này đòi hỏi ngân hàng thương mại phải xác định nhu cầu của khách
hàng và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các các bộ phận trong việc cung ứng sản
phẩm dịch vụ cũng như cách thức lựa chọn sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
1.1.2.3
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng khơng ổn định và khó xác định khối
lượng
Dịch vụ ngân hàng chịu rất nhiều tác động từ các yếu tố chủ quan cũng như
yếu tố khách quan. Trong điều kiện kinh tế thị trường thì sự biến động của các yếu
tố thuộc môi trường kinh doanh càng lớn và rất khó có thể lường trước mà chất
lượng dịch vụ ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh (điều kiện
kinh tế và luật pháp) của mỗi nước vào quan điểm, thói quen, trình độ của người sử
dụng dịch vụ (khách hàng). Ngồi ra chất lượng dịch vụ cịn chịu ảnh hưởng của
các yếu tố chủ quan như uy tín, vị thế của ngân hàng, trình độ của cán bộ, chính
sách marketting ... của ngân hàng. Mà những yếu tố này tính ổn định lại khơng cao.
6
Vì vậy có thể nói dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ có tính ổn định khơng cao
và khó xác định được khối lượng chính xác.
1.1.2.4
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng rất đa dạng và phức tạp
Nói đến tính đa dạng và phức tạp của sản phẩm dịch vụ ngân hàng trước hết
thể hiện ở số lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Có tài liệu cho biết các ngân hàng
thương mại quốc tế thực hiện trên 6.000 nghiệp vụ kinh doanh khác nhau về lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Trong khi đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam
chỉ mới thực hiện được khoảng 300 nghiệp vụ. Mặt khác, các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng từng bước được đa dạng hoá, xu hướng một sản phẩm dịch vụ ngân hàng
gắn liền với nhiều tiện ích, hướng tới những sản phẩm hồn hảo, mang tính trọn gói
theo yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Điều đó cho thấy các ngân hàng
thương mại Việt Nam có rất nhiều cơ hội để đa dạng hoá và nâng cao chất lượng
sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Đồng thời, mỗi ngân hàng muốn nâng cao năng lực
cạnh tranh thì phải thiết kế, đưa ra những sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng
mang tính tổng hợp gắn nhiều nghiệp vụ, cả sản phẩm nhận tiền gửi, cho vay, thanh
toán trong và ngoài nước, dịch vụ ngân quỹ....
1.1.2.5
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng chịu sự cạnh tranh quyết liệt
Đây là một đặc trưng rất quan trọng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Bởi vì
nguyên liệu kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại là “quyền sử dụng các
khoản tiền tệ” hoặc có liên quan đến tiền tệ - mà “tiền” là loại ngun liệu có tính
xã hội hố và tính nhạy cảm cao. Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về lãi suất hoặc phí
cũng có thể làm thay đổi sự lựa chọn của khách hàng nhằm mua được sản phẩm,
dịch vụ ngân hàng với chi phí thấp nhất hoặc bán nguyên liệu “tiền” với giá cao
nhất. Mặt khác, một sản phẩm dịch vụ ngân hàng được khách hàng ưa chuộng thì
các ngân hàng khác cũng có thể cải tiến để đưa ra sản phẩm dịch vụ ngân hàng cùng
loại với tiện ích tốt hơn. Chính vì các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể bị bắt
chước rất nhanh, chịu sự cạnh tranh quyết liệt mà ngân hàng muốn giữ chân được
những khách hàng cũ, đồng thời phát triển thêm những khách hàng mới thì sản
phẩm dịch vụ của ngân hàng không những phải được đổi mới và phát triển liên tục
7
mà cịn phải được phát triển trên nền cơng nghệ nhất định trên cơ sở những thành
tựu về công nghệ và tin học tiên tiến.
1.1.3 Các loại sản phẩm dịch vụ của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Có rất nhiều cách phân loại dịch vụ ngân hàng dựa trên các tiêu thức khác
nhau. Tuy nhiên do cách tiếp cận khái niệm về dịch vụ của đề tài này “dịch vụ là tất
cả các hoạt động của ngân hàng bao gồm dịch vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng”
nên cách phân loại dịch vụ trong luận văn này sẽ phân theo 2 nhóm chính.
1.1.3.1
Sản phẩm dịch vụ tín dụng
a. Sản phẩm dịch vụ nhận tiền gửi - huy động vốn
Ngân hàng triển khai dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ bên có tiền với cam
kết hồn trả đúng hạn. Để có thể thu hút được các khoản tiền gửi trong nền kinh tế,
các ngân hàng thương mại phải cạnh tranh với nhau thông qua lãi suất tiền gửi hoặc
các hình thức linh hoạt hấp dẫn khác.
Lãi suất tiền gửi chính là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy
sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt, cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời số tiền
nhàn rỗi đó để kinh doanh. Ngân hàng nào đưa ra mức lãi suất cao hơn so với các
ngân hàng khác thì lợi thế thu hút tiền gửi sẽ nghiêng về ngân hàng đó. Tuy nhiên
sự gia tăng lãi suất là có giới hạn. Vì vậy ngồi lãi suất, các ngân hàng đưa ra thị
trường hàng loạt các sản phẩm dịch vụ tiền gửi khác nhau phù hợp với từng loại nhu
cầu của khách hàng.
NHTM cung cấp sản phẩm dịch vụ nhận tiền gửi cho các doanh nghiệp, cá
nhân và các tổ chức kinh tế thơng qua các hình thức: tiền gửi khơng kỳ hạn, tiền gửi
có kỳ hạn, phát hành giấy tờ có giá... với cam kết hồn trả đúng hạn. Sản phẩm
dịch vụ tiền gửi tuy không trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Nhưng nó là
hoạt động chủ yếu để duy trì sự ổn định và phát triển của các ngân hàng thương
mại. Bởi lẽ nguồn vốn huy động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn
hoạt động của ngân hàng thương mại. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
phẩm nhận tiền gửi, các ngân hàng thương mại thường đa dạng hoá sản phẩm dịch
vụ nhằm đưa ra thị trường các sản phẩm thoả mãn nhu cầu cao nhất của khách hàng.
8
Cụ thể có các sản phẩm nhận tiền gửi chủ yếu sau:
* Tiền gửi thanh tốn, tiền gửi khơng kỳ hạn, là việc ngân hàng huy động vốn
thông qua tài khoản tiền gửi của khách hàng. Việc huy động vốn từ nguồn này
thường không ổn định. Do đây là tiền gửi thanh tốn và tiền gửi khơng kỳ hạn
nên
về mặt nguyên tắc khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào mà không cần phải báo
trước cho ngân hàng, vì vậy, lãi suất thường thấp. Tuy nhiên khơng phải lúc nào
số
dư trên các tài khoản này cũng được sử dụng hết do đó ngân hàng có thể sử dụng
nguồn vốn này phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Việc mở rộng và
phát
triển dịch vụ này khơng chỉ giúp các ngân hàng thương mại có điều kiện tiếp cận
với nguồn vốn giá rẻ mà còn giúp các ngân hàng thương mại có điều kiện tăng
nguồn thu từ các dịch vụ khác thông qua việc ngân hàng cung cấp các sản phẩm
dịch vụ kèm theo cho khách hàng như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ....
* Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm dân cư, là nguồn huy động chủ yếu
phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Với sản phẩm dịch
vụ này tính ổn định cao hơn do khi sử dụng dịch vụ này giữa ngân hàng và khách
hàng có sự thoả thuận về thời gian rút tiền. Tuy nhiên cũng có trường hợp khách
hàng sẽ rút trước hạn. Trong trường hợp này khách hàng chỉ được nhận lãi suất
không kỳ hạn hoặc lãi suất tương đương thời gian thực gửi theo quy định của
ngân
hàng. Do đây là nguồn vốn có tính ổn định cao và là nguồn vốn chủ yếu cho ngân
hàng sử dụng, tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại chủ động trong quá
trình
sử dụng vốn nên các ngân hàng thương mại thường đưa ra nhiều sản phẩm với
nhiều kỳ hạn linh hoạt kèm theo các hình thức khuyến mại khác nhau nhằm thoả
mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút dần,
tiết
kiệm bậc thang, tiết kiệm tích luỹ..
9
Hiện tại, các NHTM thường phát hành các loại GTCG để huy động vốn như kỳ
phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu....
Khi phát hành GTCG các NHTM có khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn
trong thời gian ngắn và hồn tồn chủ động trong sử dụng. Hình thức này thường
được
các NHTM thực hiện khi tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải
ngân nhanh của khách hàng hoặc sau khi đó cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn
mà vẫn còn thiếu nguồn.
b. Sản phẩm cho vay
Cho vay là một trong các hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, theo
đó
bên cho vay cam kết giao cho bên vay một khoản tiền trong một thời gian nhất định
và
bên vay cam kết trả cho bên cho vay khoản tiền tương ứng với số tiền đã vay cùng với
số tiền lãi tỷ lệ với số tiền gốc và thời hạn vay.
Cho vay là hoạt động có mức sinh lời cao nhất, thường chiếm tới 70% thu nhập
của ngân hàng. Tuy nhiên rủi ro của những khoản cho vay cũng là lớn nhất. Hoạt động
này dựa trên những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an tồn và khả năng sinh
lời của ngân hàng thương mại.
Tuỳ mục đích nghiên cứu mà các sản phẩm cho vay có thể được phân loại theo
nhiều hình thức khác nhau. Trong luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến một số sản
phẩm
cho vay của ngân hàng, như:
-
Cho vay theo mục đích: Ngân hàng có thể cho vay vào lĩnh vực thương mại,
công nghiệp, nông nghiệp, cho vay bất động sản, cho vay cá nhân để tiêu dùng ....
Thơng thường mục đích này sẽ được cụ thể hố hơn trong các chính sách của
ngân
hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như tăng cường kiểm soát khi cho
vay.
Mỗi ngân hàng thuờng có chính sách đối với từng mục đích cho vay cụ thể về
10
động có kỳ hạn ngắn hạn, các khoản cho vay hình thành tài sản cố định có kỳ hạn
trung
và dài hạn.
-
Phân loại theo nghiệp vụ cho vay: các ngân hàng thương mại cung cấp cho
khách hàng các sản phẩm cho vay như:Cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức
và
cho
vay thấu chi
-
Phân loại theo hình thức đảm bảo vốn vay: Cho vay được phân thành cho vay
có đảm bảo và cho vay khơng có đảm bảo Cho vay có đảm bảo và Cho vay có
đảm bảo
1.1.3.2
Sản phẩm dịch vụ phi tín dụng
a. Dịch vụ thanh tốn
Thanh tốn qua ngân hàng là việc chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản
thanh toán khác giữa các tác nhân trong nước và quốc tế thơng qua hệ thống ngân
hàng.
Ngày nay có thể nói hoạt động thanh tốn là một sản phẩm dịch vụ quan trọng của
một
ngân hàng thương mại. Vì đó là một trong những nhân tố quan trọng giúp ngân hàng
tiếp cận được với khách hàng nhất là trong thời đại ngày nay, việc thanh tốn khơng
dùng tiền mặt với những ưu điểm nổi trội đã được xã hội tin dùng. Nhìn vào hệ thống
thanh tốn của một ngân hàng người ta có thể đánh gía ngay được hoạt động của ngân
hàng đó có hiệu quả hay khơng. Do vậy, các ngân hàng thương mại khơng ngừng đa
dạng hóa và nâng cao chất lượng thanh tốn của mình.
* Dịch vụ thanh toán trong nước là hoạt động thanh toán được xác lập thực hiện
và kết thúc trên lãnh thổ một quốc gia. Cung ứng dịch vụ thanh toán là việc ngân hàng
thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng thơng qua đó ngân hàng thu được
một khoản phí nhất định.
Để thực hiện yêu cầu thanh toán của khách hàng, ngân hàng sử dụng các
phương thức thanh toán và cơng cụ thanh tốn khơng dùng tiền mặt sau:
Các phương thức thanh toán: thanh toán trong nội bộ ngân hàng; thanh toán
11
* Thanh toán - chuyển tiền quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả quyền
hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hợp đồng kinh tế và phi kinh tế giữa
các tổ chức, cá nhân ở các nước khác nhau thông qua quan hệ giữa các ngân hàng
của các nước. Vì vậy khác với thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế thường
gắn với việc chuyển đổi giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước
khác.
Do vậy hoạt động thanh toán quốc tế ngoài bị điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý
quốc gia còn bị điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý quốc tế và phải tuân thủ các
thông lệ quốc tế.
Những phương thức thanh toán chuyển tiền quốc tế chủ yếu gồm: Thanh toán
chuyển tiền bằng điện, Thanh toán nhờ thu, Thanh tốn Thư tín dụng, Thanh tốn
ghi sổ, Thanh tốn qua tài khoản treo ở nước ngồi...
Các cơng cụ thanh tốn quốc tế chủ yếu gồm có: Hối phiếu, Lệnh phiếu, Sec...
* Các phương tiện thanh toán hiện đại:
-
Thẻ thanh toán (Debit Card)
Thẻ thanh toán hay cũng gọi là “thẻ nợ” là một loại thẻ do ngân hàng phát
hành. Thẻ dùng để thanh toán hàng hoá và dịch vụ. Người sử dụng thẻ phải có tài
khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai thường xuyên có số dư tại ngân hàng phát
hành thẻ. Khách hàng có thể sử dụng thẻ để thanh tóan, chi trả tiền mua hàng hố,
dịch vụ ở bất kỳ điểm bán hàng nào có đặt máy đọc thẻ của ngân hàng, không phải
trực tiếp đến ngân hàng. Khi sử dụng thẻ để chi trả, lập tức tài khoản của người có
thẻ sẽ bị ghi nợ và tài khoản của người bán hàng hoá, dịch vụ sẽ được ghi có thơng
qua mạng máy tính điện tử tự động.
-
Thẻ tín dụng (Credit Card)
Thẻ tín dụng hay gọi là “thẻ có” cũng là một loại thẻ do ngân hàng phát hành.
Khi phát hành thẻ, khách hàng không cần có số dư trên tài khoản tiền gửi mà được
cấp một hạn mức tín dụng theo tài khoản thẻ tín dụng của họ. Thẻ tín dụng dùng để
mua hàng hoá và các dịch vụ trả tiền sau. Việc thanh toán hàng hoá, dịch vụ được
thực hiện tại những nơi có máy đọc thẻ và tại các điểm bán lẻ có các ký hiệu của
loại thẻ tín dụng mà chúng chấp nhận.
12
- Máy rút tiền tự động ATM
Các ngân hàng, các chi nhánh, các điểm bán hàng được đặt những máy rút tiền
tự động, những máy này đó được nối mạng với trung tâm thanh tốn. Khách hàng
có thể dùng thẻ rút tiền (Thẻ từ hoặc thẻ thông minh) do ngân hàng phát hành để rút
tiền mặt ở các máy trên, mà không phải trực tiếp đến ngân hàng. Máy cũng thông
báo cho người cầm thẻ biết số dư trong tài khoản của khách hàng hoặc thực hiện
một lệnh thanh toán chuyển khoản với điều kiện phải biết chi tiết về ngân hàng của
người được thanh tốn. Thẻ ATM cũng có thể được sử dụng khi khách hàng muốn
nộp tiền vào tài khoản.
b. Dịch vụ mua bán ngoại tệ và các sản phẩm phái sinh
Thực hiện dịch vụ mua bán ngoại tệ tức là ngân hàng đứng ra mua, bán một
loại tiền tệ để lấy loại tiền tệ khác. Sự phát triển của ngoại thương và thanh toán
quốc tế đã thúc đẩy các doanh nghiệp và cá nhân tham gia ngày càng nhiều vào thị
trường ngoại hối. Với chức năng kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng thương mại
không thể bỏ qua cơ hội này. Vì thế hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân
hàng thương mại ngày càng chiếm vị trí quan trọng đối với các ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại vừa đáp ứng
nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng của ngân hàng, tạo ra lợi nhuận cho chính ngân
hàng vừa giúp ngân hàng điều hoà cung cầu ngoại tệ, ổn định tỷ giá thực hiện chính
sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước từ đó tác động đến hoạt động xuất
nhập khẩu cũng như hoạt động khác của nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại ngày càng phát
triển. Các sản phẩm dịch vụ kinh doanh ngoại tệ chủ yếu của ngân hàng thương mại
bao gồm: Giao dịch giao ngay; Giao dịch kỳ hạn ; Giao dịch quyền chọn.
c. Dịch vụ bảo lãnh
Ngoài hoạt động dịch vụ mang tính chất cấp tín dụng, một loại hình dịch vụ
được xếp vào loại hình dịch vụ lưỡng tính đó là dịch vụ bảo lãnh. Trong giao dịch
bảo lãnh nói chung nếu chưa phát sinh nghĩa vụ của bên bảo lãnh với bên thứ ba,
thì giao dịch này được coi là dịch vụ phi tín dụng. Tuy nhiên khi nghĩa vụ này được
13
bên bảo lãnh thực hiện cũng có nghĩa là bên được bảo lãnh có nghĩa vụ đối với ngân
hàng về khoản tiền, vật chất mà ngân hàng đó trả cho bên thứ ba thì giao dịch này
lại là dịch vụ có tính chất tín dụng. Dịch vụ bảo lãnh ngân hàng được hiểu “ là sự
cam kết của ngân hàng nhận bảo lãnh, chịu trách nhiệm trả tiền thay cho người xin
bảo lãnh nếu người đó khơng thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ thoả thuận với
người thụ hưởng bảo lãnh đã được qui định cụ thể trong thư bảo lãnh”.
Mặc dù là một hoạt động ngoại bảng nhưng bảo lãnh là một hình thức tín dụng.
Trong hình thức tín dụng này, ngân hàng khơng ứng tiền ra nên nó là một nghiệp vụ
tín
dụng “tiềm tàng’ và có nhiều dạng: bảo lãnh ngân hàng, tín dụng chấp nhận...
d. Dịch vụ khác
* Dịch vụ ngân hàng điện tử: Với sự phát triển ngày càng cao của khoa học
công nghệ , các ngân hàng đã nhanh chóng ứng dụng để tạo ra sản phẩm dịch vụ
ngân hàng điện tử và đáp ứng yêu cầu của khách hàng hàng loạt sản phẩm ngân
hàng điện tử như: dịch vụ ngân hàng qua điện thoại; dịch vụ ngân hàng sử dụng
máy tính cá nhân; dịch vụ ngân hàng qua mạng. Dịch vụ ngân hàng điện tử
thường
được cung cấp dưới dạng một phần mềm tin học cho phép khách hàng có thể tìm
hiểu, tra cứu thơng tin (tỷ giá, lãi suất, phí....) hoặc thực hiện một số giao dịch
qua
ngân hàng như vấn tin số dư, chuyển tiền.. ..thông qua các thiết bị điện tử mà
khơng
phải đến ngân hàng để giao dịch. Nhóm dịch vụ ngân hàng điện tử là nhóm dịch
vụ
rất tiện ích cho cuộc sống hiện đại vì nó giúp cho cả khách hàng và ngân hàng có
thể giảm thời gian giao dịch và chi phí giao dịch.
* Dịch vụ bảo quản vật có giá: Từ khi ngân hàng mới hình thành các ngân hàng
đã thực hiện nghiệp vụ này thông qua việc lưu giữ vàng, các khế ước vay nợ, các
vật
có giá của khách hàng trong hệ thống kho của ngân hàng. Ngày nay việc kinh
14
phát hành, uỷ thác đầu tư.Ngoài ra ngân hàng cũng sẵn sàng tư vấn về đầu tư ,
quản lý tài chính, thành lập, mua bán sát nhập doanh nghiệp ... cho mọi đối tượng
khách hàng.
* Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khốn: Với đội ngũ chun gia đơng đảo
nhiều kinh nghiệm, uy tín và khả năng tài chính dồi dào, các ngân hàng có ưu thế
trong việc mơi giới chứng khoán. Xu thế chung hiện nay là các ngân hàng thường
lập các cơng ty chứng khốn nhằm tạo ra sự chun mơn hố trong hoạt động mơi
giới chứng khốn.
1.2 KHÁI QUÁT VỀ ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TÁC ĐỘNG ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM
1.2.1
Khái niệm về đa dạng hoá
Theo Đại từ điển kinh tế thị trường “Đa dạng hoá kinh doanh là sách lược
của một doanh nghiệp cùng một lúc kinh doanh từ hai ngành nghề trở lên; doanh
nghiệp áp dụng kinh doanh đa dạng, tham gia vào hoạt động sản xuất và tiêu thụ
nhiều loại hàng hoá và dịch vụ. Trước tiên cần chọn phương hướng đa đạng hoá
và chọn loại nào để đa dạng hố thì hữu hiệu hơn. Kinh doanh đa dạng hố khơng
những chỉ hạn chế ở chỗ mở rộng chủng loại sản phẩm mà còn gồm cả mở rộng
phạm vi sản xuất và thị trường. Mục đích của nó là để phân tán nguy cơ, tránh cho
thị trường của một loại hàng nào đó có biến động ảnh hưởng đến thu lợi và lợi
dụng đầy đủ tiềm lực sản xuất, tiềm lực tiêu thụ của thị trường, dùng sản phẩm
phụ và tiết kiệm chi phí tiêu thụ”.
Như vậy, đối với mỗi ngân hàng thương mại, đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ
là việc ngân hàng thực hiện kinh doanh nhiều nghiệp vụ và cung ứng nhiều sản
phẩm dịch vụ khác nhau tạo ra sự phong phú, đa dạng trong tồn bộ các dịch vụ tài
chính mà ngân hàng đó có thể cung cấp cho tất cả các đối tượng khách hàng trong
nền kinh tế. Đồng thời đa dạng hố sản phẩm dịch vụ ngân hàng khơng chỉ hạn chế
ở vịêc mở rộng các loại sản phẩm dịch vụ mà còn bao hàm cả việc phát triển sản
phẩm dịch vụ về phạm vi, qui mơ, hình thức thực hiện.
15
1.2.2
Sự cần thiết phải đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm
nâng
cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Thứ nhất, phục vụ khách hàng nhiều hơn và ngày càng hoàn hảo hơn
Nen kinh tế thị trường càng phát triển, các doanh nghiệp càng đa dạng hoá
kinh doanh và nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng, tài chính ngày càng phong phú đa
dạng. Điều đó địi hỏi sự phục vụ của ngân hàng phải đa dạng theo. Các nghiệp vụ
của một ngân hàng thương mại đều có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua
lại với nhau tạo thành một thể thống nhất và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Huy
động vốn tạo nguồn cho việc thực hiện nghiệp vụ tín dụng và phát triển dịch vụ,
nhưng ngược lại nghiệp vụ tín dụng và dịch vụ phi tín dụng thực hiện tốt cũng tạo
điều kiện để thu hút khách hàng với những nguồn tiền nhàn rỗi của họ. Chỉ khi đa
dạng hoá nghiệp vụ, ngân hàng mới cung cấp được nhiều sản phẩm dịch vụ ngân
hàng một cách nhanh chóng, linh hoạt, có chất lượng cho khách hàng và nền kinh
tế. Hơn nữa, việc phục vụ khách hàng theo phương thức “trọn gói” bao giờ cũng ưu
việt hơn phương thức đơn lẻ.
Thứ hai, để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt của
nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Trong điều kiện có rất nhiều ngân hàng với các hình thức sở hữu, qui mơ hoạt
động khác nhau, nhiều ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và các tổ chức
tài chính cùng hoạt động, đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân
hàng. Ngân hàng nào muốn tồn tại, muốn phát triển, đạt được lợi nhuận cao và tạo
ra vị thế của mình trong cạnh tranh đều phải thay đổi, cải tiến hoạt động sao cho đáp
ứng kịp thời, thuận tiện các nhu cầu phong phú, đa dạng của khách hàng để thu hút
được nhiều khách hàng hơn. Muốn làm được điều này, cách tốt nhất phải đa dạng
hoá sản phẩm dịch vụ. Những ngân hàng hoạt động đơn điệu dễ bị phá sản hoặc tự
đóng cửa do khơng dễ dàng chuyển hướng kinh doanh hoặc giữ cho hoạt động của
ngân hàng đó ln ổn định. Mặt khác, phát triển theo hướng kinh doanh đa dạng là
một điều kiện quan trọng để mở rộng qui mô và mạng lưới ngân hàng trong chiến
lược phát triển, cạnh tranh vì nó cho phép ngân hàng có thể mở rộng ảnh hưởng của
16