Tải bản đầy đủ (.docx) (107 trang)

0530 Giải pháp tăng tỉ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại NH Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sao Đỏ Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 107 trang )


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

PHẠM THỊ VÂN

GIẢI PHÁP TĂNG TỶ TRỌNG THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG
DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN SAO ĐỎ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội - 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

PHẠM THỊ VÂN

GIẢI PHÁP TĂNG TỶ TRỌNG THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG
DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN SAO ĐỎ

Chuyên ngành : Kinh tế tài chính - ngân hàng
Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS. TẠ THỊ LỆ YÊN


Hà Nội - 2012


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn; “Giải pháp tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt
động dịch vụ tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sao Đỏ”
là cơng trình nghiên cứu riêng của tơi.
Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, kết quả nghiên cứu
được trình bày trong luận văn này chưa từng được cơng bố tại bất kỳ cơng
trình nào khác.
Hải Dương, ngày 25 tháng 11 năm 2012
Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHNo&PTNT, NHNo, Agribank: Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông
thôn
ATM: Máy rút tiền tự động
BIDV: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
L/C: Thư tín dụng
WU: Western Union: Hệ thống chuyển tiền nhanh
IPCAS: Hệ thống kế tốn và thanh tốn (Chương trình giao dịch trực tuyến
của hệ thống Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
ASEAN: Tổ chức các nước Đông Nam Á
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

DN: Doanh nghiệp
TCTD: Tổ chức tín dụng
Vietcombank: Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
Vietinbank: Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam
KCN: khu công nghiệp


DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
TÊN BẢNG

TRANG

Bảng 2.1: Hoạt động huy động vốn trên địa bàn tỉnh Hải Dương

38

Bảng 2.2: Hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

39

Bảng 2.3: Thu nhập của NHNo Sao Đỏ giai đoạn 2009 - 2011

42

Bảng 2.4: Thu

nhập từ hoạt động dịch vụ của NHNo Sao Đỏ giai

48


đoạn 2009-2011
Bảng 2.5: Thu phí dịch vụ theo từng loại hình sản phẩm NHNo Sao

51

Đỏ giai đoạn 2009-2011


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
TÊN BIỂU ĐỒ

TRANG

Hình 2.1: Biểu đồ chênh lệch thu chi của NHNo Sao Đỏ

40

Hình 2.2: Thu nhập của NHNo Sao Đỏ giai đoạn 2009 - 2011

43

Hình 2.3: Thu nhập từ hoạt động tín dụng tại NHNo Sao Đỏ giai
đoạn 2009-2011
Hình 2.4: Cơ cấu thu nhập của NHNo Sao Đỏ giai đoạn 2009-2011
Hình 2.5: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của NHNo Sao Đỏ giai
đoạn 2009-2011
Hình 2.6: Cơ cấu thu phí dịch vụ theo từng loại sản phẩm NHNo

44
45

48
52

Sao Đỏ giai đoạn 2009-2011
Hình 2.7: Thu phí dịch vụ theo từng loại sản phẩm tại NHNo Sao
Đỏ giai đoạn 2009-2011

53


MỤC LỤC
TRANG

Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các biểu đồ
PHẦN MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU NHẬP
TỪ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

4

1.1Tổng quan về hoạt động dịch vụ của Ngân hàng thương mại

4


1.1.1
oạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

H
4

1.1.2
oạt động dịch vụ

H
11

1.2Thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Ngân hàng thương mại

21

1.2.1
u nhập của Ngân hàng thương mại

Th
21

1.2.2
ội dung thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Ngân hàng thương mại

N
23

1.2.3
c nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập từ hoạt động dịch vụ



27

1.3Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ Ngân hàng của một số nước trên
thế giới
1.3.1
Kinh nghiệm của Trung Quốc
29
1.3.2
khu vực Đông
1.3.3

Kinh nghiệm của một số nước
Nam Á (ASEAN)
31
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
32


2.2Thực trạng thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại chi nhánh ngân hàng
,'Λ ʌ ; Z ■
■■
47
nông nghiệp và phát triên nông thôn Sao Đỏ
2.2.1
Th
ực trạng tổng thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại NHNo Sao Đỏ
47
2.2.2

ực trạng cơ cấu thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại NHNo Sao Đỏ
2.3Đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ tại chi nhánh ngân hàng
nông nghiệp và phát triên nông thôn Sao Đỏ

Th
49
54

2.3.1
t quả đạt được

Kế
54

2.3.2
n tại và nguyên nhân

Tồ
55

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG TỶ TRỌNG THU NHẬP TỪ HOẠT
ĐỘNG
DỊCH VỤ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN SAO ĐỎ

60

3.1Định hướng phát triên dịch vụ của chi nhánh ngân hàng nông
nghiệp và phát triên nông thôn Sao Đỏ
3.1.1

nh hướng chung của NHNo Việt Nam

Đị
60

3.1.2
nh hướng phát triển hoạt động dịch vụ của NHNo Sao Đỏ

Đị
61

3.1.3
ôi trường hoạt động của NHNo Sao Đỏ

M
61

3.2Giải pháp tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại chi
. , . ʌ . , ʌ ’ .°
, . ’ .x √
'
nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triên nông thôn Sao Đỏ
3.2.1
Giải pháp hoàn thiện, phát triển sản
dịch vụ
ngân hàng 69

68

3.2.2


Giải pháp về mơ hình tổ chức
76

3.2.3

Giải pháp về nguồn nhân lực


3.3.4
Kiến nghị với ngân hàng nông nghiệp và phát triển nơng
thơn 90
3.3.5
ến nghị với chính quyền địa phương
KẾT LUẬN

Ki
90
92


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ khi nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, nền kinh tế Việt
Nam cũng như ngành ngân hàng nói riêng có nhiều cơ hội để phát triển nhưng
cũng gặp phải không ít những khó khăn, đặc biệt là vấn đề cạnh tranh, cạnh
tranh về vốn, nhân lực, cơ sở hạ tầng,... đặc biệt là về kinh nghiệm.
Sự cạnh tranh đòi hỏi các NHTM trong nước phải chủ động, sáng tạo, đề

ra những giải pháp hiệu quả để không những củng cố vị trí của mình, tận dụng
lợi thế “sân nhà” mà còn phải học hỏi và phát triển, ứng dụng những sản
phẩm dịch vụ mới, tiên tiến để phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng, tăng khả
năng cạnh tranh. Sự khác biệt nhất của hoạt động kinh doanh là trong khi tỷ
trọng của lãi vay của các NHTM nước ngoài chỉ chiếm 15%-20% trong tổng
thu nhập thì con số này lại phổ biến ở mức trên 70% đối với các NHTM trong
nước. Tỷ lệ này càng cao hơn ở Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam, dù khoảng 5 năm gần đây, ngân hàng này đã tập trung nghiên
cứu đầu tư và phát triển, ứng dụng các loại hình sản phẩm, dịch vụ hiện đại
nhưng hiệu quả đạt được lại chưa cao, tỷ trọng của thu từ tín dụng (lãi vay)
vẫn chiếm trên 80% trong tổng thu nhập.
Là một chi nhánh của hệ thống NHNo, Ngân hàng nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Sao Đỏ cũng không nằm ngồi tình trạng chung này, thu nhập
từ lãi vay thường xuyên chiếm từ 85%-90% so tổng thu nhập của chi nhánh.
Hoạt động tín dụng ln tiềm ẩn nhiều rủi ro, vì vậy mà tình hình tài chính
của NHNo Sao Đỏ chưa mạnh, chưa ổn định, nhất là trong điều kiện lãi suất
thị trường biến động liên tục như hiện nay. Vì vậy theo tơi, Chi nhánh NHNo
Sao Đỏ nói riêng và hệ thống NHNo cũng như các NHTM trong nước nói
chung cần phải có những giải pháp hữu hiệu để phát triển các loại hình sản
phẩm dịch vụ ngân hàng, từng bước thay đổi cơ cấu thu nhập, nâng cao tỷ


2

trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ, dần trở thành NHTM hiện đại, nâng cao
khả năng cạnh tranh, phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Chí Linh là một thị xã mới được nâng cấp cách đây chưa lâu nhưng đã
có nền kinh tế phát triển, nhiều khu công nghiệp, đô thị mới được thành lập và
thu hút mạnh mẽ các hoạt động đầu tư. Hiện nay ở Chí Linh có 9 Quỹ tín
dụng nhân dân, 5 Ngân hàng thương mại nhà nước, 5 Chi nhánh Ngân hàng

cổ phần (Seabank, Ocean Bank, Maritime bank, VIB Bank, Sacombank) nên
việc cạnh tranh rất gay gắt, đòi hỏi sự nỗ lực hết mình của tất cả các cán bộ,
viên chức Ngân hàng trong việc tự hồn thiện mình để thu hút khách hàng và
phục vụ khách hàng tốt hơn.
Sau một thời gian công tác tại chi nhánh NHNo Sao Đỏ với vị trí giao
dịch viên, thường xuyên tiếp xúc, nghe ý kiến của khách hàng, tôi nhận thấy
nhu cầu của khách hàng về những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng còn rất nhiều
mà ngân hàng chưa khai thác, phục vụ được. Nhận thấy đây là mảng nghiệp
vụ có khả năng đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng, khơng địi hỏi sự
đầu tư cao, ít rủi ro, ít chịu tác động của tình hình kinh tế, chính trị nên theo
tơi để đảm bảo tài chính vững chắc thì NHNo Sao Đỏ nên đầu tư khai thác tối
đa mảng nghiệp vụ này, kinh doanh đa năng, dần chuyển dịch cơ cấu thu
nhập.
Vì vậy, tơi quyết định chọn đề tài “Giải pháp tăng tỷ trọng thu nhập từ
hoạt động dịch vụ tại NHNo&PTNTSao Đỏ” làm luận văn của mình, vừa để
học hỏi, tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, nâng cao hiệu quả công việc cho bản
thân, cũng như đề xuất các giải pháp thực tiễn giúp hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng ổn định, đạt kết quả cao hơn, đảm bảo thu nhập cho cán bộ viên
chức cũng như đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
2. Mục đích nghiên cứu


3

Đề tài tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng và đánh giá thu nhập
trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHNo&PTNT Sao Đỏ nói chung,
tập trung vào thu nhập từ hoạt động dịch vụ, từ đó xây dựng các giải pháp
tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại Chi nhánh NHNo&PTNT Sao
Đỏ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại Chi nhánh
Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sao Đỏ.
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động dịch vụ tại NHNo Sao Đỏ
giai đoạn 2009 - 2011, liên hệ và so sánh với hoạt động của các Ngân hàng
thương mại khác trên địa bàn nói riêng và hệ thống Ngân hàng nơng nghiệp
cũng như hệ thống Ngân hàng thương mại nói chung.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu dùng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng
hợp để nghiên cứu đề tài.
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thu nhập từ hoạt động dịch
vụ của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng thu nhập từ hoạt động dịch vụ của ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn Sao Đỏ
Chương 3: Giải pháp tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ tại
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Sao Đỏ.


4

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU NHẬP TỪ HOẠT
ĐỘNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1Tổng quan về hoạt động dịch vụ của Ngân hàng thương mại
1.1.1

Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại

1.1.1.1


Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn có thể được xem là một trong những nghiệp vụ xuất hiện
sớm nhất trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn sơ
khai của hoạt động ngân hàng, những nghiệp vụ này chỉ đơn thuần là hoạt
động cất giữ các tài sản có giá nhắm mục đích đảm bảo an tồn, và lúc này,
người phải trả phí là người gửi tiền chứ không phải là các ngân hàng, các
khoản tiền chỉ được xem đơn thuần là vật được kí gửi chứ hồn tồn khơng
đóng vai trị là nguồn vốn đối với các ngân hàng thương mại, tiền lúc này
không được xem là tiền tệ theo đúng nghĩa của nó, vì khơng có khả năng luân
chuyển, không sinh ra được lợi nhuận. Khi nhu cầu tín dụng gia tăng, nghiệp
vụ ngân hàng phát triển, vị thế đó bị đảo ngược, ngân hàng là người phải trả
phí (lãi suất - giá cả của tín dụng), và nguồn tiền được kí gửi thay đổi vai trị
của nó, trở thành nguồn vốn khả dụng và lớn nhất của các ngân hàng thương
mại hiện nay. Chính vì vậy, trái ngược với quá khứ, ngân hàng là người phải
đi nài nỉ khách hàng gửi tiền. Nếu trước đây, ngân hàng là người bị động
trong quan hệ này thì hiện nay, hầu hết tất cả các ngân hàng đều có các chính
sách, phương thức để lơi kéo nguồn tiền gửi này, vì vậy các phương thức huy
động vốn ngày càng trở nên quan trọng, phong phú và đa dạng hơn. Có thể
nói, hiện nay, huy động vốn là một trong những hoạt động hết sức quan trọng
và liên quan đến sự sống còn của các ngân hàng thương mại.
Nguồn vốn của NHTM bao gồm vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay,
vốn tiếp nhận, vốn khác, với mỗi nguồn vốn thì NHTM lại có những cách huy


5

động khác nhau, trong phạm vi đề tài này chúng ta khơng xét đến hoạt động
huy động vốn tự có của NHTM mà chỉ nghiên cứu hoạt động huy động các

thành phần vốn cịn lại của NHTM. Theo đó, hoạt động huy động vốn của
NHTM được phân chia thành các hoạt động chủ yếu sau:

• Nhận tiền gửi
- Tiền gửi khơng kỳ hạn
Là loại tiền gửi khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào, khách hàng có
thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển cho người thụ
hưởng hoặc chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này. Loại hình tiền gửi
này đối với khách hàng chủ yếu là để đảm bảo an toàn tài sản và thực hiện các
khoản thanh toán qua ngân hàng nên cịn được gọi là tiền gửi thanh tốn.
Đối với ngân hàng, đây là nguồn vốn có chi phí huy động rất thấp nhưng
lại không ổn định về thời gian và ngồi chi phí trả lãi ra cịn có những chi phí
phát sinh trong q trình thực hiện thanh tốn.
Để tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn, ngân hàng phải đa dạng hóa và
phục vụ tốt các hoạt động trung gian, huy động nhiều khách hàng là doanh
nghiệp lớn sẽ làm cho số dư tiền gửi bình quân tại ngân hàng cao và ổn định
hơn, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể sử dụng nguồn tiền này để cho vay
mà không bị ảnh hưởng đế khả năng thanh khoản.
- Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một kỳ hạn nhất định đã
được thỏa thuận khi gửi tiền, mục đích của người gửi tiền là lấy lãi, đây là
loại tiền gửi mang tính ổn định của ngân hàng, ngân hàng có thể chủ động kế
hoạch hóa việc sử dụng nguồn tiền này vì chủ động được thời gian.
Để mở rộng khoản vốn này, ngoài biện pháp áp dụng mức lái suất hấp
dẫn thu hút khách hàng, ngân hàng có thể thực hiện một số biện pháp tạo tính


6

lỏng cho sản phẩm này như tính lãi theo tỷ lệ thời gian gửi, cho vay cầm cố

với lãi suất ưu đãi,.
- Tiền gửi tiết kiệm
Là loại tiền gửi để dành của dân cư, gửi vào ngân hàng vừa để hưởng lãi
vừa nhằm mục đích an tồn tài sản. Hình thức phổ biến của loại hình này bao
gồm:
+ Tiết kiệm khơng kỳ hạn
Là loại hình tiết kiệm mà khách hàng có thể gửi và rút ra nhiều lần bất
cứ lúc nào.
+ Tiết kiệm có kỳ hạn
Là loại hình tiết kiệm mà khách hàng được rút ra sau một thời gian nhất
định, tuy nhiên khách hàng có nhu cầu thì có thể rút trước hạn nhưng sẽ phải
chịu lãi suất thấp.
+ Tiết kiệm có mục đích
Thơng thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn, người tham gia
ngoài việc được trả lãi cịn được ngân hàng cấp tín dụng nhằm mục đích bổ
sung thêm vốn để phục vụ nhu cầu tiêu dùng.
Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi phi giao dịch, mang
lại lãi suất cao cho khách hàng nhưng lại không được phát hành séc. Đây là
hai nguồn tiền gửi mang tính ổn định của ngân hàng.
Hình thức phổ biến nhất của tiết kiệm ngân hàng là tiết kiệm có sổ. Khi
gửi tiền, ngân hàng cấp cho người gửi một cuốn sổ dùng để ghi nhận các
khoản tiền gửi vào và rút ra. Quyển sổ này đồng thời có tác dụng như một
chứng thư xác nhận về khoản tiền đã gửi. Ngồi ra cịn có những hình thức
khác như: chứng chỉ tiết kiệm (Savings Certificates), trái phiếu tiết kiệm
(Savings Bonds), ...


7

Tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn là hai nguồn vốn quan trọng

nhất của Ngân hàng, chiếm tỷ lệ cao (trên 50%) trong tổng nguồn vốn. Đây là
nguồn vốn tương đối ổn định vì Ngân hàng nắm được những kỳ luân chuyển
của vốn, vì vậy mà Ngân hàng có thể dùng để cho vay theo các kỳ hạn khác
nhau.
Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng
nguồn vốn của các NHTM, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh. Nó
phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, tỷ trọng của vốn này càng
lớn thì càng chứng tỏ được uy tín và vị thế của NHTM trên thị trường.

• Phát hành giấy tờ có giá
NHTM phát hành kỳ phiếu ngân hàng để huy động vốn nhằm thực hiện
những dự án đầu tư đã định. Kỳ phiếu ngân hàng được phát hành theo hai
hình thức:
- Phát hành theo mệnh giá (trả lãi sau).
Trong hình thức này, người mua trả tiền mua kỳ phiếu theo mệnh giá đã
được ghi trên kỳ phiếu. Khi đến hạn ngân hàng sẽ hồn trả vốn gốc và thanh
tốn tiền lãi cho người mua kỳ phiếu.
- Phát hành theo hình thức chiết khấu (trả lãi trước).
Với hình thức chiết khấu, người mua sẽ trả số tiền mua kỳ phiếu ngân
hàng số tiền bằng mệnh giá trừ đi số lãi mà họ được hưởng. Khi đến hạn, ngân
hàng sẽ hoàn trả cho khách hàng số tiền bằng với mệnh giá của kỳ phiếu. Như
vậy trong hình thức huy động vốn này, khách hàng đã được trả lãi trước.

• Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng
Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng hay còn gọi là vay trên thị trường liên
ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản tạm thời của các NHTM, ngân
hàng có thể khai thác các khoản vốn nhàn rỗi từ các tổ chức tài chính tín dụng
khác. Hoạt động này ngồi mục đích đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân



8

hàng cịn giúp cho nguồn vốn được ln chuyển thơng suốt trong hệ thống
ngân hàng. Tuy nhiên, đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng, ngân hàng chỉ sử dụng khi thật cần thiết vì lãi suất
cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng cao hơn chi phí huy động
vốn
thơng thường rất nhiều.

• Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đóng vai trị là ngân hàng của các ngân
hàng, là người cho vay cuối cùng trong hệ thống Ngân hàng, các NHTM thiếu
vốn phải đi vay NHNN và thơng qua nghiệp vụ này NHNN có thể thực hiện
các biện pháp để điều hành chính sách tiền tệ.
NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn, vay thanh toán, vay
ngắn hạn bổ xung, ... Tùy theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời
kỳ mà NHNN có thể áp dụng các điều khoản khác nhau đối với hình thức cho
vay này, như điều khoản về lãi suất, hạn mức cho vay, thời hạn cho vay, .........
Nếu NHNN muốn mở rộng mức cung tiền để thúc đẩy kinh tế phát triển thì
NHNN sẽ đáp ứng nhu cầu vay của NHTM một cách dễ dàng và ngược lại.
1.1.1.2

Hoạt động tín dụng

• Khái niệm
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng,
các tổ chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của tồn xã hội, bao
gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước.

• Phân loại

- Phân loại theo khách hàng: cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp.
- Phân loại theo mục đích sử dụng: kinh doanh, tiêu dùng,...
- Phân loại theo thời hạn: ngắn hạn, trung, dài hạn.
- Phân loại theo số lượng các bên tham gia: cho vay trực tiếp, gián tiếp,
đồng tài trợ.


9

- Phân loại theo ngành kinh tế.
- Phân loại theo bảo đảm: có bảo đảm bằng tài sản (cầm cố, thế chấp,...),
khơng có bảo đảm bằng tài sản (tín chấp).
Việc phân loại tín dụng thành nhiều sản phẩm nhỏ giúp ngân hàng phục
vụ tốt hơn cho nhu cầu của khách hàng, vì mỗi loại tín dụng có những đặc
điểm khác nhau, việc phân loại giúp cho hoạt động tín dụng có được chất
lượng và hiệu quả tốt nhất đối với ngân hàng cũng như đối với khách hàng.
Ngân hàng có thể áp dụng chính sách lãi suất, phí suất khác nhau đối với
mỗi loại tín dụng, như lãi suất cho vay ngắn hạn thì thấp hơn cho vay trung và
dài hạn; lãi suất vay kinh doanh thì thấp hơn lãi suất vay tiêu dùng, ... hay
chính sách ưu đãi đặc biệt đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nông
sản,. tùy theo định hướng kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ và
chỉ đạo của nhà nước.
1.1.1.3

Hoạt động thanh toán và ngân quỹ

Đây là hoạt động quan trọng và mang tính đặc thù của NHTM, nhờ vào
hoạt động này mà các giao dịch thanh tốn của tồn bộ nền kinh tế được thực
hiện một cách thông suốt và thuận lợi hơn. Đồng thời, hoạt động này cịn góp
phần làm giảm đáng kể lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế.

Hoạt động này bao gồm mở các tài khoản thanh tốn cho khách hàng
trong và ngồi nước theo quy định của pháp luật, cung ứng các dịch vụ và
phương tiện thanh toán cho khách hàng như thu hộ, chi hộ, dịch vụ thu và
phát tiền mặt cho khách hàng, .; các dịch vụ về kho quỹ, thu đổi tiền cho
Ngân hàng nhà nước, ...
1.1.1.4

Hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư là hình thức mà NHTM sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự
trữ của mình để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức
tín dụng trong nước theo quy định của pháp luật. Hoạt động này tuy chiếm


10

quy mơ và tỷ trọng nhỏ nhưng có vai trị quan trọng trong việc tạo điều kiện
cho các NHTM thâm nhập sâu vào nền kinh tế. Các NHTM đầu tư chủ yếu
vào các chứng khốn có độ thanh khoản cao như các trái phiếu của chính phủ
hay địa phương, vì tính chất hoạt động của ngân hàng nên Pháp luật quy định
các NHTM không được tham gia một số nghiệp vụ kinh doanh chứng khốn
có mức rủi ro cao như: tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán,...
1.1.1.5

Các hoạt động kinh doanh khác

Hoạt động quan trọng khác bên cạnh cho vay và đầu tư là cầm cố, chiết
khấu các giấy tờ có giá. Ngay từ thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu
thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân, những người bán
các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền mặt.

Hoạt động này tạo tính lỏng cho các giấy tờ có giá trên, giúp cho tiền tệ
luân chuyển dễ dàng và liên tục trong nền kinh tế.
Ngoài những hoạt động trên, NHTM còn thực hiện một số hoạt động
kinh doanh khác như:
- Thực hiện mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ như tín phiếu kho
bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.
- Kinh doanh vàng và ngoại hối.
- Thực hiện các nghiệp vụ ủy thác và nhận ủy thác làm đại lý trong các
lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng. kể cả việc quản lý tài sản,
vốn
đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy
thác



đại lý.
- Kinh doanh bảo hiểm: xu hướng hiện nay các NHTM kinh doanh đa
năng, thành lập các công ty con để kinh doanh các lĩnh vực khác ngày
càng


11

- Cung ứng các dịch vụ tư vấn trực tiếp cho khách hàng về tài chính tiền
tệ, tín dụng,...
1.1.2

Hoạt động dịch vụ


1.1.2.1

Khái niệm hoạt động dịch vụ

Dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, cơng dụng do
ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định của khách hàng
trên thị trường tài chính.
Dịch vụ ngân hàng có thể hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ,
thanh toán,.. .mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu
kinh doanh, sinh lời, đời sống,. từ đó mà ngân hàng thu được khoản chênh
lệch lãi suất, tỷ giá, phí từ các hoạt động này.
Ở nước ta đến nay vẫn chưa có văn bản pháp lý nào đưa ra khái niệm rõ
ràng về dịch vụ ngân hàng. Có quan điểm cho rằng bất cứ hoạt động sinh lời
nào của NHTM ngoài hoạt động tín dụng thì đều được gọi là hoạt động dịch
vụ. Sự phân định này trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trường hiện nay là
cơ sở cho phép ngân hàng thực thi chiến lược đa dạng hóa, phát triển và nâng
cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng.
Theo một quan điểm khác phù hợp hơn với thơng lệ quốc tế thì cho rằng
tất cả các hoạt động tiền tệ, ngoại hối, tín dụng, thanh tốn, ... mà NHTM
cung ứng cho nền kinh tế đều được xem là hoạt động dịch vụ. Mặt khác, căn
cứ theo cách phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam thì
ngân hàng là một trong những ngành được phân tổ trong lĩnh vực dịch vụ. Do
vậy, ngân hàng được xem là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, thực hiện kinh
doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ cho các đối tượng khách hàng. Quan niệm
này đồng thời cũng phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ tài
chính trong Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO.
1.1.2.2

Phân loại hoạt động dịch vụ



12

Đứng trên quan điểm phù hợp với thông lệ quốc thì chúng ta có thể chia
các dịch vụ ngân hàng thành hai nhóm gồm nhóm các dịch vụ ngân hàng
truyền thống và nhóm các dịch vụ ngân hàng mới phát triển trong thời gian
gần đây.

• Các dịch vụ ngân hàng truyền thống
Dịch vụ ngân hàng truyền thống là những loại hình dịch vụ đã có mặt từ
lâu đời trên cơ sở nền công nghệ cũ, đã quen thuộc với khách hàng.
- Trao đổi ngoại tệ: Trong lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng thì
trao đổi ngoại tệ là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được
thực
hiện, ngân hàng được hưởng phí từ việc đứng ra mua hoặc bán một loại
tiền

tệ

này với một loại tiền tệ khác.
- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Trước đây, các
NHTM đã từng thực hiện việc chiết khấu các thương phiếu mà thực tế


cho

vay đối với các khách hàng là những người bán các khoản phải thu cho
ngân
hàng để lấy tiền mặt. Đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu
sang

cho vay trực tiếp giúp khách hàng có vốn để hoạt động kinh doanh.
- Nhận tiền gửi: ngay từ khi mới hình thành, cho vay đã là hoạt động có
khả năng sinh lời cao, vì vậy các NHTM đã tìm kiếm mọi cách nhằm
huy
động được vốn để cho vay. Một trong những nguồn vốn quan trọng mà
ngân
hàng thực hiện huy động đó là các khoản tiền gửi nhàn rỗi của khách
hàng gồm những khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, trong đó


13

giấy chứng nhận do ngân hàng cấp cho khách hàng xác nhận về việc lưu giữ
tài sản có thể được lưu hành như tiền - đây là hình thức đầu tiên của séc và
thẻ tín dụng. Mặc dù đây là một trong những dịch vụ truyền thống của ngân
hàng nhưng tại Việt Nam có rất ít NHTM cung ứng loại hình dịch vụ này do
chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng cao mà nhu cầu sử dụng của khách hàng lại chưa
nhiều.
Trong thời gian gần đây, do giá vàng tại nước ta biến động tăng liên tục
nên đã có rất nhiều người dân đổ xơ mua vàng về tích trữ nhưng cất giữ ở nhà
lại khơng an tồn nên muốn mang gửi tại ngân hàng nhưng do điều kiện về
kho quỹ, bảo vệ, ... nên đa số các ngân hàng đều từ chối cung cấp dịch vụ
này.
- Cung cấp các tài khoản giao dịch (demand deposit): Đây là loại tài
khoản tiền gửi đem lại cho khách hàng sự an tồn, tiện lợi và hiệu quả
trong
việc thanh tốn khơng dùng tiền mặt, kèm theo những dịch vụ khác mà
ngân
hàng cung cấp như chuyển khoản, thẻ thanh toán, thấu chi, v.v.
- Cung cấp các dịch vụ ủy thác: Ngân hàng thực hiện quản lý tài sản,

quản lý hoạt động tài chính cho khách hàng và thu phí trên cơ sở giá trị,
qui
mô tài sản quản lý.
- Dịch vụ ngân quỹ: Ngân hàng cung cấp các tiện ích về ngân quỹ cho
khách hàng như kiểm đếm, phân loại, bảo quản tiền mặt, v.v.

• Các dịch vụ ngân hàng hiện đại
Đây là những loại hình dịch vụ gắn liền với cơng nghệ hiện đại, đáp ứng
nhu cầu thực tế của từng đối tượng khách hàng, giúp cho các giao dịch của
khách hàng ngày càng đơn giản và thuận tiện hơn.
- Dịch vụ thẻ: Dịch vụ này phát triển trên nền tảng dịch vụ truyền thống


14

máy ATM (automatic teller machine - máy rút tiền tự động) hoặc thanh tốn
thơng qua các điểm chấp nhận thẻ. Các loại hình thẻ càng ngày càng đa dạng,
cung ứng thêm các tiện tích mới kèm theo như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ
Visa/Master card, ...
- Cho vay tiêu dùng: Trong lịch sử, các ngân hàng không mặn mà cho
vay tiêu dùng với cá nhân và hộ gia đình vì các khoản vay này thường


quy

mơ nhỏ mà rủi ro lại cao. Tuy nhiên khoảng 5 năm gần đây, dưới áp lực
của
cạnh tranh, các NHTM lại đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng vì
nhận
thấy đây là mảng thì trường hứa hẹn nhiều tiềm năng chưa được khai

thác.
Nhưng 2 năm trở lại đây, do sự biến động của thị trường bất động sản và
thị
trường chứng khoán, hoạt động cho vay tiêu dùng cũng gặp nhiều khó
khăn,
chính phủ đã có chỉ đạo các NHTM hạn chế cho vay tiêu dùng và thực
hiện
thanh tra, kiểm soát chặt chẽ lĩnh vực này nên dịch vụ này cũng khơng
cịn
được các NHTM chú trọng khai thác nữa.
- Tư vấn tài chính: Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính, đặc biệt
là về tiết kiệm và đầu tư. Các nhân viên ngân hàng đều có trình độ và
được
đào tạo bài bản trong lĩnh vực tài chính nên có thể tư vấn cho khách
hàng

để


15

hoặc xin gia hạn hợp đồng thuê hoặc có thể mua lại tài sản đó với giá thỏa
thuận với ngân hàng.
- Cho vay tài trợ dự án: là dịch vụ cấp tín dụng trung, dài hạn đối với các
doanh nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư như các cơng trình xây
dựng,

cải

tạo, mở rộng quy mơ,...

- Dịch vụ bảo lãnh: dịch vụ này cịn gọi là tín dụng chứng từ (Letter
Credit - LC), với dịch vụ này, ngân hàng phát hành cho khách hàng thư
bảo
lãnh mà nhờ vào đó khách hàng có thể dự thầu, ký kết và thực hiện các
hợp
đồng kinh tế một cách thuận lợi.
- Cung cấp các dịch vụ mơi giới đầu tư chứng khốn: Cùng với sự phát
triển của thị trường chứng khoán cũng như xu hướng hội nhập hiện nay,
đa

số

các NHTM lớn đều đã có cơng ty chứng khốn của riêng mình, theo đó
tại

các

Chi nhánh của Ngân hàng cũng sắp xếp bộ phận môi giới đầu tư chúng
khoán
để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, đem lại cho họ sự thuận lợi


gia

tăng phần lợi nhuận của ngân hàng từ hoạt động dịch vụ này.
- Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn: Hiện nay
các NHTM được thành lập ở nước ta ngày càng nhiều nên sự cạnh tranh
huy
động vốn ngày càng khó khăn, vì thế khơng phải ngân hàng nào cũng có
khả

năng đáp ứng được thanh khoản và nguồn vốn để cho vay, trong hoàn


×