Tải bản đầy đủ (.docx) (91 trang)

0505 Giải pháp tín dụng NH đối với phát triển du lịch Thành phố Hà Nội Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (610.84 KB, 91 trang )


1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

ĐƠ THỊ THÙY DƯƠNG

GIẢI PHÁP TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐÔI VỚI PHÁT
TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHÔ HÀ NỘI

LUẨN VAN THẠC SI KINH TE

Hà Nội - 2012


2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

ĐỖ THỊ THÙY DƯƠNG

GIẢI PHÁP TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
PHÁT TRIEN DU LỊCH THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn: TS LÊ THỊ XUÂN

Hà Nội - 2012




3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính tơi nghiên cứu và thực hiện. Các số
liệu và thơng tin được trình bày trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung
thực và được phép công bố.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012

Đỗ Thị Thùy Dương


4

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là một ngành kinh tế đặc thù và có mối quan hệ chặt chẽ với
môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn, xã hội...Trong xu thế hội nhập
hiện nay, đặc biệt ở các quốc gia phát triển, du lịch là một nhu cầu không thể
thiếu trong đời sống con người. Do những địi hỏi khách quan đó mà du lịch
ngày càng phát triển với nhiều loại hình như: du lịch sinh thái, du lịch
nghiên cứu khoa học, du lịch thăm quan, ....Thông qua du lịch đem đến sự
thỏa mãn cho du khách về nhu cầu giải trí, cân bằng trạng thái tinh thần, thể
lực sau những ngày lao động mệt nhọc, nhất là lao động của nếp sống công
nghiệp. Du lịch ngày nay trở thành ngành kinh tế có sự tăng trưởng và
phát triển mạnh mẽ, đem lại lợi nhuận cao cũng như góp phần giải quyết được
nhiều cơng ăn việc làm cho người lao động. Du lịch được đánh giá là
“Ngành cơng nghiệp khơng khói “ góp phần tích cực đẩy nhanh sự phát triển
của nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, đối với Việt Nam du lịch được

xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, quan trọng nhất trong
tương lai.
Tuy nhiên để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, quan trọng đem
lại lợi nhuận cao thì địi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn cho ngành du lịch:
trước hết là đầu tư vốn phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực,
đa dạng hóa các sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ, du lịch. Nếu vốn
đầu tư chỉ có nguồn vốn ngân sách Nhà nước và sự hoạt động của các
doanh nghiệp mà khơng có sự đầu tư vốn tín dụng của Ngân hàng thì chắc
chắn du lịch sẽ khơng thể phát triển mạnh được. Do đó, vốn tín dụng
Ngân hàng có một vị trí vai trị rất quan trọng trong việc đầu tư phát triển
du lịch.


5

Hà Nội - thủ đơ của Việt Nam có tiềm năng du lịch phong phú và
đa dạng. Trong những năm qua, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực
và thành công nhất định trong phát triển du lịch, nhưng du lịch Hà Nội vẫn
chưa đủ mạnh để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trọng điểm của thành phố,
chưa đem lại thu nhập cao và giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho
người lao động. Vấn đề đặt ra cấp thiết đối với Thành phố Hà Nội đó chính là
vốn đầu tư. Nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịch của thành phố trong
thời gian qua còn thấp, chưa khai thác và tận dụng được hết lợi thế so sánh
của địa phương vào phát triển du lịch. Cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực phục vụ
du lịch còn hạn chế. Để du lịch Hà Nội phát triển và trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn, trọng điểm của thành phố địi hỏi phải có sự đầu tư vốn rất lớn,
trong đó: vốn tín dụng của Ngân hàng giữ một vai trị, vị trí hết sức
quan trọng. Việc đầu tư vốn và giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng của
Ngân hàng đối với phát triển du lịch Hà Nội đang là một vấn đề bức xúc
hiện nay.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “ Giải pháp
tín dụng Ngân hàng đối với phát triển du lịch Thành phố Hà Nội “ làm
mục tiêu nghiên cứu, góp phần giải quyết vấn đề bức xúc thực tiễn; đồng thời
mang ý nghĩa chiến lược lâu dài.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận về vai trò của ngành du lịch và
mối quan hệ của nguồn vốn đầu tư, vốn tín dụng Ngân hàng đối với phát triển
du lịch. Luận văn nghiên cứu thực trạng của nguồn vốn đầu tư, vốn tín dụng
Ngân hàng và tác động của nguồn vốn đầu tư, vốn tín dụng Ngân hàng vào sự
phát triển của ngành du lịch Thành phố Hà Nội. Từ đó, đề xuất những giải
pháp hiệu quả nhằm tăng cường đầu tư tín dụng Ngân hàng đối với phát triển
du lịch Thành phố Hà Nội.


6

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề đầu tư vốn phát triển du lịch,
vai trị của đầu tư tín dụng Ngân hàng đối với phát triển của ngành du lịch.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về vốn đầu tư, vốn tín dụng
Ngân hàng đối với phát triển du lịch trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Với
giới hạn là các vấn đề về vốn đầu tư, vốn tín dụng Ngân hàng trong việc
phát triển sản phẩm du lịch, cơ sở hạ tầng trực tiếp phục vụ cho du lịch
(bao gồm: đầu tư tín dụng phát triển hệ thống khách sạn, cơ sở vui chơi
giải trí, tàu, xe du lịch, bảo vệ tơn tạo các di tích, danh lam thắng cảnh...) trên
địa bàn Thành phố Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp so sánh, phương pháp logic, các
phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu, thống kê và một số phương pháp
khoa học khác để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.

5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu, nội dung của
luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về phát triển du lịch và tín dụng
Ngân hàng đối với phát triển du lịch.
Chương 2: Thực trạng tín dụng Ngân hàng đối với phát triển du lịch
Thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp tín dụng Ngân hàng đối với phát triển du lịch
Thành phố Hà Nội.


7

CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÀ
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1.

TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1.1.

Khái niệm, đặc điểm và các loại hình du lịch

a/ Khái niệm
Về khái niệm du lịch, trên thế giới đã có nhiều khái niệm khác nhau bởi
đi từ những góc độ tiếp cận khác nhau.
Trên góc độ người đi du lịch: Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú
tạm thời ở ngồi nơi cư trú thường xuyên của cá thể nhằm thỏa mãn những
nhu cầu khác nhau với những mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm cơng

và nhận thù lao ở nơi đến.
Trên góc độ nhà kinh doanh du lịch: Du lịch là quá trình tổ chức các
hoạt động tạo ra những dịch vụ và hàng hóa để thỏa mãn những nhu cầu của
khách du lịch nhằm mục đích thu lợi nhuận. Các doanh nghiệp kinh doanh
trên lĩnh vực du lịch coi du lịch như là một cơ hội để bán các sản phẩm mà họ
sản xuất ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch đồng thời đạt được
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Trên góc độ của chính quyền địa phương: Du lịch là việc tổ chức các
điều kiện về hành chính, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ
du khách. Du lịch là một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu
ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp,
đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân địa phương.
Trên góc độ ngành kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp
quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và


8

xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí,
nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí,
tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
b/ Đặc điểm của ngành du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, do đó ngành du lịch có những
đặc điểm riêng biệt mà khơng một ngành kinh tế nào có được.
Thứ nhất: Du lịch là ngành phụ thuộc vào tài nguyên du lịch, đây chính
là điều kiện cần, điều kiện khách quan để hình thành nên du lịch. Khi có
tài ngun du lịch thì ngành du lịch sẽ được hình thành và phát triển.
Thứ hai: Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp, phục vụ nhu cầu
đa dạng của khách du lịch. Du khách đến địa điểm du lịch không chỉ để ngắm

cảnh mà còn phát sinh một loạt nhu cầu thiết yếu khác như nghỉ ngơi,
ăn uống, vui chơi giải trí khác....
Thứ ba: Du lịch là ngành, ngồi kinh doanh cịn phải đảm bảo nhu cầu
về an ninh, chính trị và trật tự xã hội cho du khách và cho địa điểm đón,
nhận khách.
Thứ tư. Sản phẩm của ngành du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các
hàng hóa bổ sung, đồ lưu niệm. Đặc điểm của sản phẩm du lịch rất khác biệt
so với các ngành khác. Sản phẩm du lịch về cơ bản không cụ thể, không có
dạng hiện hữu trước người mua, cho nên nó rất độc đáo, thường thể hiện tính
đặc trưng khác biệt để thu hút, hấp dẫn du khách. Sản phẩm du lịch thường ở
cách xa nơi cư trú của du khách do đó nó được tạo bởi sự tổng hợp các ngành
kinh doanh khác nhau như vận chuyển, khách sạn, điểm vui chơi,
giải trí.nên các ngành này có sự phụ thuộc lẫn nhau, việc sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm du lịch được thực hiện đồng thời, không mang trưng bày và
tiêu thụ nơi khác. Sản phẩm hàng hóa trên thị trường du lịch khá đa dạng vượt
khỏi khuôn khổ khái niệm hàng hóa thơng thường. Những hàng hóa này tuy


9

bán nhưng không thể tồn đọng lưu kho, nếu không được tiêu dùng sẽ khơng
cịn giá trị, tiêu dùng càng nhiều giá trị càng nhiều.
c/ Các loại hình du lịch
Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau có thể phân du lịch thành
các loại hình du lịch khác nhau:
❖ Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch: theo tiêu thức này,
du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa.
Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm
đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Ở hình thức
du lịch này, du khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch.

Bản thân du lịch quốc tê, lại được phân thành du lịch quốc tế chủ động (là
hình thức du lịch của những người từ nước ngồi đến một quốc gia nào đó và
tiêu ngoại tệ ở đó) và du lịch quốc tế thụ động (là hình thức du lịch của
cơng dân của một quốc gia đó đi ra nước khác du lịch và trong chuyến đi ấy
họ đã tiêu tiền kiếm ra được tại đất nước đang cư trú).
Du lịch nội địa: là hình thức mà điểm xuất phát và điểm đến của du lịch
cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia.
❖ Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch. Theo tiêu thức này,
du lịch được phân thành những loại hình sau:
Du lịch chữa bệnh: ở loại hình này, khách du lịch do nhu cầu điều trị
các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ, Du lịch chữa bệnh lại được phân
thành: chữa bệnh bằng khí hậu (khí hậu núi, khí hậu biển), chữa bệnh bằng
nước khoáng (tắm nước khoáng, uống nước khoáng), chữa bệnh bằng bùn....
Du lịch nghỉ ngơi, giải trí: Nhu cầu chính làm nảy sinh hình thức du
lịch này là sự cần thiết phải nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần cho con
người. Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, làm cuộc sống thêm đa
dạng và giải thốt con người khỏi cơng việc hàng ngày.


10

Du lịch thể thao: Có hai loại.
- Du lịch thể thao chủ động: là loại hình du lịch mà khách đi du lịch để
tham gia trực tiếp và hoạt động thể thao. Du lịch thể thao chủ động bao
gồm:
du lịch leo núi, du lịch săn bắn, du lịch câu cá, du lịch tham gia các loại
thể
thao: đá bóng, bóng chuyền, bóng rổ, trượt tuyết,.
- Du lịch thể thao thụ động: là những cuộc hành trình đi du lịch để xem
các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, thế vận hội Olympic.

Du lịch văn hóa: Mục đích chính nhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân
về mọi lĩnh vực như: lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội,
cuộc sống của người dân cùng các phong tục, tập quán của đất nước du lịch.
- Du lịch văn hóa với mục đích cụ thể: khách du lịch thuộc thể loại này
thường đi với mục đích đã định sẵn, họ thường là các cán bộ khoa học,
sinh viên và các chun gia.
- Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: gồm đơng đảo những người
ham thích mở mang kiến thức về thế giới và thỏa mãn những tò mò của
mình.
Du lịch cơng vụ: Mục đích chính của loại hình du lịch này, du khách đi
tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo, kỷ niệm các ngày lễ lớn, các cuộc gặp
gỡ, các cuộc triển lãm, hội chợ.
Du lịch thương gia: Mục đích của loại hình này là đi tìm hiểu
thị trường, nghiên cứu dự án đầu tư, ký kết hợp đồng.
Du lịch tơn giáo: Loại hình du lịch này nhằm thỏa mãn nhu cầu
tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo giáo khác nhau.
Du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương: Loại hình du lịch này phần lớn
nảy sinh do nhu cầu của những người xa quê hương đi thăm hỏi bà con
họ hàng, bạn bè thân quen, đi dự lễ cưới, lễ tang.


11

❖ Căn cứ vào vị trí địa lý của nơi đến du lịch.
Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành: Du lịch nghỉ núi, du lịch
nghỉ biển, du lịch trên đảo, vịnh, sông hồ, du lịch thành phố, du lịch đồng quê.
1.1.2.

Vai trò của du lịch đối với phát triển nền kinh tế


a/ Phát triển du lịch góp phần nâng cao vị thế của khu vực dịch vụ
trong nền kinh tế
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện
nay có xu hướng là: giá trị ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong
tổng sản phầm xã hội. Ngay từ cuối thế kỷ 19, nhà kinh tế học người Đức
E.Engel đã rút ra kết luận là khi nền kinh tế phát triển thì tỷ trọng của ngành
cơng nghiệp và ngành dịch vụ sẽ tăng lên. Qua quá trình nghiên cứu, các nhà
kinh tế phát hiện ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu
cho hàng tiêu dùng lâu bền cũng tăng phù hợp với tăng thu nhập, còn chi tiêu
cho tiêu dùng cao cấp tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập. Du lịch là một
bộ phận của khu vực dịch vụ nên khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho
lĩnh vực dịch vụ nói chung và cho du lịch nói riêng khơng ngừng tăng lên.
Do đó, phát triển du lịch cũng chính là góp phần nâng cao vị thế của ng ành
dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. Đó chính là quy luật phát triển chung
trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới.
b/ Du lịch là hoạt động đem lại hiệu quả cao hơn so với các hoạt
động kinh tế khác
Du lịch là hoạt động đem lại hiệu quả cao hơn so với các hoạt động
kinh tế khác, bởi các lý do sau:
Thứ nhất, du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất. Tính đến
hiệu quả cao trong kinh doanh du lịch thể hiện trước nhất ở chỗ, du lịch là
một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa cơng nghiệp hàng tiêu dùng,
thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chế, nông lâm sản... theo giá bán lẻ cao hơn


12

(nếu như bán qua xuất khẩu sẽ theo giá bán buôn). Được trao đổi thông qua
con đường du lịch, các hàng hóa được xuất khẩu mà khơng phải chịu hàng r ào
thuế quan, mậu dịch quốc tế. Du lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ”

mà còn là ngành “xuất khẩu vơ hình” hàng hóa du lịch. Đó là các cảnh quan
thiên nhiên, khí hậu, những giá trị của những di tích lịch sử - văn hóa,
tính độc đáo trong truyền thống, phong tục tập quán.. .mà không bị mất đi qua
mỗi lần bán, thậm chí giá trị và uy tín của nó càng tăng lên qua mỗi lần đưa ra
thị trường nếu như chất lượng phục vụ du lịch cao. Sở dĩ có hiện tượng trên là
do chúng ta bán cho khách du lịch không phải là bản thân tài nguyên du lịch,
mà chỉ là giá trị các khả năng thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của khách du lịch
được chứa đựng trong tài nguyên du lịch. Với hai hình thức xuất khẩu trên
cho thấy hàng hóa và dịch vụ bán thông qua du lịch đem lại lợi nhuận kinh tế
cao hơn, do tiết kiệm được đáng kề các chi phí đóng gói bao bì, bảo quản và
thuế xuất nhập khẩu có khả năng thu hồi vốn nhanh và lãi suất cao do nhu cầu
du lịch là nhu cầu cao cấp có khả năng thanh tốn.
Thứ hai, du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngồi.
Vì giá trị của ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm
xã hội. Do vậy, các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn thì du lịch là
một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác. Du lịch
đem lại tỷ suất lợi nhuận cao vì vốn đầu tư vào du lịch tương đối ít so với
ngành cơng nghiệp nặng, giao thông vận tải.mà khả năng thu hồi vốn lại
nhanh, kỹ thuật không phức tạp. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ
bổ sung thì nhu cầu về vốn đầu tư lại càng ít hơn (so với lĩnh vực kinh doanh
dịch vụ cơ bản) mà lại thu hút lao động nhiều hơn, thu hút vốn nhanh hơn.
Du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch.
Hoạt động du lịch phát triển, tạo nguồn thu ngân sách cho các địa phương từ
các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực


13

tiếp của địa phương và từ các khoàn thuế phải nộp của doanh nghiệp du lịch
kinh doanh trên địa bàn.

Thứ ba, du lịch góp phần giải quyết cơng ăn việc làm cho người
lao động. Theo thống kê năm 2000 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm
quan trọng. Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm
10.7% tổng số lao động toàn cầu. Cứ 2.5 giây du lịch tạo ra được một việc
làm mới, đến 2005 cứ 8 lao động thì có 1 người làm trong ngành du lịch.
Một buồng khách sạn từ 1 đến 3 sao trên thế giới hiện nay thu hút khoảng 1.3
lao động trong các dịch vụ chính và khoảng 5 lao động trong các dịch vụ
bổ sung. Số lao động cần thiết trong dịch vụ bổ sung có thể tăng lên nhiều lần
nếu các dịch vụ này được nâng cao về chất lượng và phong phú về chủng loại.
Theo dự báo của WTO ngành du lịch sẽ tạo thêm 150 triệu việc làm, chủ yếu
tập trung ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
c/Du lịch góp phần quảng bá hình ảnh đất nước
Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho các
nước chủ nhà. Về mặt kinh tế: du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo
hữu hiệu cho hàng hóa nội địa ra nước ngồi thơng qua du lịch du khách.
Khách du lịch được làm quen tại chỗ với các mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp v.v... Một số mặt hàng làm cho du khách hài lòng cả về
chất lượng, giá cả lẫn mẫu mã.. .Khi về nước, khách du lịch tuyên truyền cho
bạn bè, người thân v.v.biết về các mặt hàng đó và bằng con đường làm
du lịch nước chủ nhà có điều kiện xuất khẩu nhiều hơn hàng hóa của nước
mình. Về mặt xã hội: du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo hữu hiệu
cho các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giới thiệu về con người,
phong tục tập quán. của nước chủ nhà. Du lịch đánh thức các nghề thủ công
mỹ nghệ cổ truyền của dân tộc bởi khách du lịch rất thích mua các đồ
lưu niệm mang tính dân tộc, đó là sản phẩm của các nghề thủ công mỹ nghệ


14

cổ truyền. Nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền dân tộc phục vụ cho các

mục đích có điều kiện phục hồi và phát triển hơn (nghề khảm, khắc, sơn mài,
đẽo, tạc tượng, làm tranh lụa...). Mặt khác, khách du lịch văn hóa ngày một
đơng, họ thường đi tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,
văn hóa dân tộc. Du lịch làm tăng thêm tầm hiều biết chung về xã hội của
người dân thông qua người ở địa phương khác, khách nước ngoài (về phong
cách sống, thẩm mỹ, ngoại ngữ.) và làm tăng thêm tình đồn kết, hữu nghị,
mối quan hệ hiểu biết của nhân dân giữa các vùng với nhau và của người dân
giữa các quốc gia với nhau.
1.1.3.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch

1.1.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch
Có nhiều nhân tố tác động đến cầu về dịch vụ du lịch như mức thu
nhập, trình độ văn hóa, quỹ thời gian nghỉ ngơi, động cơ của người tiêu dùng.
Thứ nhất, nhân tố thu nhập: Thu nhập của người dân là chỉ tiêu
quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia du lịch. Qua thực tế
đã xác lập được rằng khi thu nhập của người dân tăng thì sự tiêu dùng du lịch
cũng tăng theo, đồng thời có sự thay đổi về cơ cấu của tiêu dùng du lịch.
Thứ hai, trình độ văn hóa: Nếu trình độ văn hóa chung của một dân tộc
được nâng cao thì động cơ đi du lịch của người dân ở đó tăng lên rõ rệt.
Mặt khác, khi trình độ văn hóa chung của một đất nước đạt mức cao thì
đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách
văn minh và làm hài lòng khách du lịch tới du lịch nơi đó.
Thứ ba, quỹ thời gian nghỉ ngơi, giải trí: Muốn thực hiện một cuộc
hành trình du lịch địi hỏi con người phải có thời gian. Do vậy, quỹ thời gian
nghỉ ngơi, giải trí của người dân là điều kiện tất yếu cần thiết phải có để
con người tham gia vào hoạt động du lịch.



15

Thứ tư, động cơ của người tiêu dùng.
Các chuyên gia về du lịch đã phân loại các nhóm động cơ đi du lịch gắn
với các mục đích cụ thể như sau:
Nhóm I - Động cơ nghỉ ngơi: khách đi tham quan du lịch với mục đích
nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi tâm sinh lý, tiếp cận gần gũi với thiên nhiên,
thay đổi mơi trường sống.
Nhóm II - Động cơ nghề nghiệp: khách đi du lịch với mục đích
tìm hiểu cơ hội kinh doanh kết hợp với giải trí, đi du lịch với mục đích
thăm viếng ngoại giao và đi du lịch với mục đích cơng tác.
Nhóm III - Các động cơ khác.
Như vậy, nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu đặc biệt bởi nó khác với
những nhu cầu hàng ngày của con người, khi đi du lịch du khách thường
chi tiêu nhiều hơn, đòi hỏi được phục vụ với chất lượng cao và thỏa mãn được
nhiều nhu cầu tốt hơn.
1.1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cung ứng dịch vụ du
lịch
Thứ nhất, tài nguyên du lịch:
Theo Luật Du lịch Việt Nam, năm 2005 thì “ Tài nguyên du lịch là
cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, cơng trình
lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được
sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các
khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch “.
Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để hình thành và
phát triển hoạt động du lịch. Tài nguyên du lịch có những đặc điểm sau:
+ Tài nguyên du lịch rất phong phú, đa dạng.
+ Tài nguyên du lịch là những tài nguyên khơng chỉ có giá trị hữu hình
mà cịn có những giá trị vơ hình.



16

+ Tài nguyên du lịch thường dễ khai thác và có thời gian khai thác khác
nhau: có những tài nguyên khai thác quanh năm, nhưng lại có những
tài nguyên khai thác theo mùa vụ.
+ Tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra sản phẩm du lịch.
Tài nguyên du lịch được xem như nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với
sự phát triển du lịch. Nó đóng vai trị cơ bản để hình thành nên các sản phẩm
du lịch, các loại hình du lịch. Đây là cơ sở để hình thành lên các điểm du lịch,
khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn để có thể khai thác một cách có hiệu quả
nhất các tiềm năng của du lịch. Tài nguyên du lịch được chia thành hai nhóm:
tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
Nhóm tài nguyên du lịch tự nhiên: bao gồm các yếu tố vật chất,
địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên
có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Nhóm tài nguyên du lịch nhân văn: bao gồm truyền thống văn hóa, các
yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ,
kiến trúc, các cơng trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn
hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Thứ hai, cơ sở hạ tầng phục vụ khách du lịch:
Mạng lưới giao thơng vận tải có vai trị rất quan trọng trong việc
thực hiện hành trình du lịch của con người cũng như khai thác tiềm năng
du lịch. Nếu mạng lưới giao thông vận tải thuận tiện nhanh chóng thì du lịch
mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội. Ngày nay, du khách có thể
di chuyển bằng các phương tiện giao thông vân tải hiện đại như: ơ tơ, tàu hỏa,
máy bay ...do đó thời gian di chuyển nhanh, điều này đã làm tăng thời gian
du lịch và nghỉ ngơi của du khách.
Ngày nay, nhu cầu thông tin liên lạc trở nên hết sức cần thiết trong
đời sống kinh tế - xã hội. Trong hoạt động kinh doanh du lịch, mạng lưới



17

bưu chính viễn thơng khơng những đáp ứng cho nhu cầu giao lưu, liên lạc của
du khách mà còn là phương tiện để liên kết các doanh nghiệp kinh doanh
du lịch với nhau.
Thứ ba, vốn vật chất và vốn nhân lực của ngành:
Vốn là nhân tố vô cùng quan trọng của tất cả các ngành kinh tế, đặc biệt
là ngành du lịch. Muốn tồn tại, mở rộng và phát triển du lịch địi hỏi phải có
vốn và khơng ngừng đầu tư, bổ sung vốn để mua sắm trang thiết bị, nâng cấp
cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện cần thiết...phục vụ khách hàng được
nhanh chóng thuận lợi. Trên cơ sở đó mới đáp ứng nhu cầu, thu hút được
nhiều khách đến tham quan, làm tăng thu lợi nhuận, đảm bảo hoạt động kinh
doanh du lịch phát triển và hiệu quả tốt. Ngược lại, nếu khơng có vốn, hoặc
vốn ít ngành du lịch sẽ khó khăn khơng có điều kiện để trang bị, nâng cấp cơ
sở vật chất để phục vụ du khách, do đó năng lực cạnh tranh sẽ yếu dẫn đến
hoạt động kinh doanh du lịch kém hiệu quả, dễ bị thua lỗ hoặc phá sản.
Vốn vật chất chuyên ngành du lịch là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
bao gồm tất cả trang thiết bị, phương tiện, cơ sở cần thiết để phục vụ, đón tiếp
du khách. Hệ thống này bao gồm: khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, các nơi
vui chơi giải trí, mạng lưới thương nghiệp.. .Số lượng, chủng loại, chất lượng
của các cơ sở vật chất chuyên ngành là yếu tố quan trọng để đáp ứng các
yêu cầu của du khách và đảm bảo hoạt động kinh doanh du lịch phát triển có
hiệu quả tốt.
Lao động của con người luôn là yếu tố cơ bản nhất, đảm bảo cho nền
sản xuất xã hội tồn tại và phát triển. Đối với hoạt động du lịch thì lực lượng
lao động lại càng đóng vai trị quan trọng và quyết định sự thành công.
Bên cạnh việc thực hiện chức năng phục vụ các dịch vụ, họ còn thực hiện
chức năng giao tiếp, ứng xử văn hóa - xã hội. Đối với du khách khi tiếp xúc

với một nền văn hóa mới mẻ, trước hết là họ tiếp xúc với một đội ngũ


18

nhân viên ngành du lịch. Do vậy, lao động trong ngành du lịch nói chung,
trong một tổ chức kinh doanh du lịch nói riêng sẽ quyết định chất lượng
cơng tác kinh doanh của ngành và của tổ chức du lịch đó.
1.2.

TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DU

LỊCH
1.2.1.

Tổng quan về tín dụng ngân hàng

1.2.1.1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng xuất phát từ một từ vựng trong tiếng Latinh - Creditium có
nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Tiếng Anh gọi là Credit.
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền
kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy
bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là
đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được
thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau,
tín dụng chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ. Thực chất, tín dụng là
biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với q trình tạo lập và sử dụng quỹ
tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản
xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả. Cùng với sự phát triển của nền

kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần
hình thành nên các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng
thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng.
Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên
trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng trước khơng hề
mất đi mà vẫn cịn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời của một
hình thức tín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều cịn
tồn tại và bổ sung lẫn nhau và nó có vai trị quan trọng trong sự phát triển
kinh tế.


19

1.2.1.2. Khái niệm tín dụng ngân hàng
a/ Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng với các
cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Ngân hàng là người cho vay, họ nhường
quyền sử dụng vốn cho các cá nhân, tổ chức,.. .sau một thời gian sử dụng vốn
của Ngân hàng họ phải trả cả vốn và lãi cho Ngân hàng như đã thỏa thuận.
b/ Đặc điểm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay
bằng tiền tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng
trong nền kinh tế quốc dân.
Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các
thành phần trong xã hội chứ khơng phải hồn tồn là vốn thuộc sở hữu của
chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.
Q trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương
đối với sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những
trường hợp mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và
lưu thông hàng hóa khơng tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng,

sản xuất và lưu thơng hàng hóa bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng
để chống tình trạng phá sản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh,
các doanh nghiệp mở mang sản xuất, hàng hóa lưu chuyển tăng mạnh nhưng
tín dụng ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là một hiện tượng rất
bình thường của nền kinh tế.
Hơn nữa tín dụng ngân hàng cịn có một số ưu điểm nổi bật so với các
hình thức khác là:
Tín dụng ngân hàng có thể thỏa mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn
của các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động
nguồn vốn bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng
lớn.


20

Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các
nguồn vốn với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.
Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp
với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.
1.2.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ
khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên các nhà kinh tế thường
phân loại theo một số tiêu thức sau:
a/ Căn cứ vào thời hạn tín dụng
❖ Tín dụng ngắn hạn: là các khoản vay mà Ngân hàng cung cấp cho
khách hàng của mình có thời gian sử dụng vốn dưới 12 tháng trở xuống.
Khoản tín dụng này chủ yếu cung cấp cho những cá nhân, tổ chức
khơng




nhu cầu sử dụng vốn thường xun, chỉ sử dụng vốn vay trong trường
hợp
đột xuất và đa số là sử dụng tài trợ cho tài sản lưu động.
❖ Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến 24
tháng, dùng cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới
kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các cơng trình nhỏ có thời hạn thu hồi
vốn nhanh.
❖ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 24 tháng,
được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản
xuất
có quy mơ lớn.
b/ Căn cứ vào tiêu chí đảm bảo khả năng hồn trả
❖ Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà nghĩa vụ trả


21

❖ Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: tài sản
hình thành từ vốn vay là tài sản của khách hàng vay mà giá trị của tài
sản
được tạo ra bởi một phần hoặc toàn bộ khoản cho vay của TCTD. Đây

hình thức mà khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm
bảo
thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với TCTD
❖ Tín dụng bằng hình thức bảo lãnh: bảo lãnh là việc bên thứ ba (bên
bảo lãnh) cam kết với bên cho vay, sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên
đi


vay

(bên được bảo lãnh) nếu khi đến hạn mà người bảo lãnh không thực
hiện

hoặc

không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
❖ Tín dụng khơng có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức tín dụng mà
trong đó nghĩa vụ hồn trả tiền vay khơng được đảm bảo bằng các tài
sản
thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay hoặc bên thứ ba.
c/ Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng
❖ Tín dụng kinh doanh: là hình thức tín dụng mà trong đó các bên đã
có cam kết là số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào mục đích thực
hiện

các

cơng việc kinh doanh của mình.
❖ Tín dụng tiêu dùng: đây thực chất là việc cho vay mà trong đó các
bên có thỏa thuận, cam kết với nhau về vấn đề số tiền vay sẽ được
khách

hàng

sử dụng vào việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và tiêu dùng.
1.2.2.


Vai trị của tín dụng Ngân hàng đối với phát triển du lịch


Tl

để khai thác được tốt các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn,
xây dựng và hình thành lên các cơ sở, loại hình du lịch ngày càng đa dạng và
phong phú để phục vụ du khách. Mặt khác, đầu tư tín dụng giúp cho ngành
du lịch có điều kiện tài chính để trang bị, cải tạo, mở rộng và nâng cao
chất lượng các cơ sở vật chất, kỹ thuật, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu
phục vụ du khách ngày càng tốt hơn. Như vậy, đầu tư tín dụng có vai trị
đặc biệt quan trọng, giúp cho du lịch khai thác được tốt các nguồn tài nguyên
du lịch - đây là cơ sở quan trọng nhất để hình thành và phát triển du lịch một
cách vững chắc.
b/ Đầu tư vốn tín dụng Ngân hàng để tăng tích lũy vốn vật chất cho
ngành du lịch
Vốn vật chất là một dạng tài sản của doanh nghiệp, của ngành và của
nền kinh tế. Việc tích lũy vốn vật chất đã làm tăng năng lực của tài sản và góp
phần tăng cung của nền kinh tế. Vốn vật chất của ngành du lịch là hệ thống
các cơ sở lưu trú, khách sạn, nhà hàng, cơ sở vui chơi giải trí v.v... khả năng
tích lũy vốn vật chất phụ thuộc vào quy mơ đầu tư. Vì vậy, muốn phát triển
du lịch địi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư khơng nhỏ cho hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật này.
c/ Đầu tư vốn tín dụng Ngân hàng để mở rộng quy mô việc làm trong
ngành du lịch
Theo lý thuyết của Keynes: đầu tư đóng vai trị quyết định đến quy mơ
việc làm, tăng quy mô đầu tư là điều kiện tăng quy mô việc làm, tăng quy mô
năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Lao động trong ngành du lịch bao gồm: lao động trực tiếp và lao động
gián tiếp. Lao động trực tiếp, là số lao động làm việc trong các khách sạn, nhà

hàng, công ty du lịch, công ty lữ hành, các sở sở dịch vụ du lịch khác. Lao
động gián tiếp tham gia vào các hoạt động có liên quan đến hoạt động du lịch.


23

Ngành du lịch đòi hỏi số lượng lao động hoạt động trong ngành cao hơn một
số ngành khác vì có những hoạt động đặc thù mà khơng có loại máy móc nào
có thể thay thế cho hoạt động của con người.
d/ Đầu tư vốn tín dụng Ngân hàng để phát triển du lịch, thúc đẩy
phát triển các ngành kinh tế khác.
Du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Trước hết,
hoạt động kinh doanh du lịch địi hỏi phải có sự phối kết hợp và hỗ trợ giữa
các ngành. Yêu cầu về sự phối hợp, hỗ trợ là cơ sở cho các ngành khác (như
giao thông vận tải, tài chính, Ngân hàng, Bưu điện, cơng nghiệp, nông nghiệp,
hải quan v.v...) phát triển.
Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng
hóa lớn. Mặt khác, sự phát triển du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch
tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận
dụng được các sở sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác. Việc phát
triển du lịch sẽ mở mang hoàn thiện các cơ sở hạ tầng kinh tế như: mạng lưới
giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại
chúng v.v.Đặc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu
đi lại, vận chuyển, thông tin liên lạc v.v. của khách du lịch cũng như những
điều kiện cần thiết cho cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động nên các ngành này
phát triển. Mặt khác, khách du lịch không chỉ dừng lại ở điểm du lịch mà
trước đó và sau đó, khách du lịch đều có nhu cầu đi lại giữa các điểm du l ịch ,
trên cơ sở đó ngành giao thơng vận tải sẽ có điều kiện phát triển.
Ngồi ra, du lịch cũng đánh thức các ngành, nghề thủ công mỹ nghệ cổ
truyền của dân tộc phát triển, bởi khách du lịch rất thích mua các đồ lưu niệm

mang tính dân tộc. Nhờ có du lịch mà các nghề thủ công truyền thống, các sản
phẩm đặc trưng của dân tộc được du khách biết đến. Và đây, chính là một
cách quảng cáo sản phẩm, thương hiệu hàng hóa, dịch vụ rất hiệu quả.


24

1.3. KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á VÀ BÀI
HỌC
CHO VIỆT NAM
1.1.2.1 Kinh nghiệm đầu tư tín dụng Ngân hàng đối với phát triển du lịch
của một số nước Châu Á
1.3.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Để có một thị trường du lịch phát triển lớn và hấp dẫn như ngày nay,
Trung Quốc đã quyết tâm thực hiện rất nhiều cơ chế, chính sách theo hướng
cải thiện mơi trường đầu tư, giải pháp tín dụng Ngân hàng, khuyến khích các
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào trong nước với nhiều lĩnh vực, thực hiện
triệt để chủ trương mở cửa của nền kinh tế...Trong đó giải pháp tín dụng
Ngân hàng chiếm vị trí rất quan trọng, cụ thể:
❖ Vào tháng 04/2012, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã cho phép
những cá nhân và tổ chức tín dụng tư nhân - xưa nay hoạt động “chui” vì
khơng có tư cách pháp nhân - được đăng ký kinh doanh như những cơng
ty
đầu tư, được rót vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
nói
chung và các doanh nghiệp du lịch nói riêng. Biện pháp hợp pháp hóa tín
dụng tư nhân này là cần thiết để vừa đáp ứng nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp nhỏ, vừa hạn chế, tiến tới xóa bỏ “tín dụng đen” - một hoạt động
tài

chính có nguy cơ gây bất ổn cho xã hội.
❖ Vào tháng 03/1994, Nhà nước Trung Quốc đã quyết định thành lập
Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB). Ngân hàng cho vay và quản lý
các
dự án quy mô vừa và lớn, tài trợ cho các ngành công nghiệp và cơ sở hạ


×