Tải bản đầy đủ (.docx) (93 trang)

0045 giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ bảo lãnh tại NH hàng hải việt nam chi nhánh đống đa luận văn thạc sĩ kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (820.53 KB, 93 trang )


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

BÙI THỊ THU TRANG

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH
TẠI NGÂN HÀNG HÀNG HẢI VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA

Chuyên ngành : Kinh tế tài chính - ngân hàng
Mã số

: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI TÍN NGHỊ

Hà Nội - Năm 2011


2.2.7.
2.2.8.

Biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh.
Quy trình phát hành thư bảo lãnh tại MSB Đống Đa.

5
35


4

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN 3
HÀNG THƯƠNG MẠI

1

1.1.
Những vấn đề chung về bảo lãnh ngânhàng
1.1.1
Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
1.1.2
Chức năng của bảo lãnh
1.1.3
Vai trò của hoạt động bão lãnh
1.2.
Nội dung nghiệp vụ bảo lãnh
1.2.1.
Nội dung bảo lãnh.
1.2.2.
Các loại hình bảo lãnh ngân hàng
1.2.3.
Các nhân tố tác động tới nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
1.3Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân
hàng
1.3.1
Rủi ro bất khả kháng
1.3.2

Rủi ro với người thụ hưởng bảo lãnh
1.3.3
Rủi ro với bên được bảo lãnh
1.4
Kinh nghiệm nghiệp vụ bảo lãnh củangânhàng các nước 29
1.4.1
Kinh nghiệm của Indonesia
1.4.2
Kinh nghiệm của Singapore
1.4.3
Kinh nghiệm của Thái Lan
1.4.4
Bài học kinh nghiệm

3
3
7
9
12
12
12
14
28
28
28
29

Kết luận chương 1
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGHIỆP VỤ BẢO
LÃNH TẠI NGÂN

HÀNG HÀNG HẢI ViỆT NAM - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA

32
33

2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.
2.2.5.
2.2.6.

Giới thiệu về MSB Đống Đa
Quá trình ra đời và phát triển
Tình hình hoạt động kinh doanh
Thực trạng nghiệp vụ bảo lãnh tại MSB Đống Đa
Văn bản áp dụng
Đối tượng được ngân hàng bảo lãnh
Điều kiện xét phát hành thư bảo lãnh cho khách hàng.
Hồ sơ đề nghị phát hành bảo lãnh của khách hàng.
Điều kiện được bảo lãnh.
Phạm vi, thời hạn, phí bảo lãnh.

29
30
30

30

33
33
37
49
49
50
50
51
51
52


2.2.9.
2.2.10.
2.3
2.3.1.
2.3.2.
2.4
2.4.1.
2.4.2.
2.5
2.5.1.
2.5.2.
2.6.
2.6.1.
2.6.2.

Hình thức bảo lãnh.

Nội dung của cam kết bảo lãnh.
Kêt quả nghiệp vụ bảo lãnh tại MSB Đống Đa
Vị thế hiện tại của hoạt động bảo lãnh tại MSB Đống Đa
Quy mô hoạt động bảo lãnh
Cơ cấu hoạt động bảo lãnh
Cơ cấu các loại hình bảo lãnh
Cơ cấu bảo lãnh theo mục đích bảo lãnh
Các nhân tố ảnh hưởng nghiệp vụ bảo lãnh MSB Đống
ĐaCác nhân tố chủ quan
Các nhân tố khách quan
Đánh giá thực trạng nghiệp vụ bảo lãnh tại MSB Đống
ĐaThành cơng
Hạn chế

Kêt luận chương 2
CHƯƠNG
GIẢI PHÁP HỒN THIỆN NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH
3
NGÂN HÀNG HÀNG HẢI VIỆT NAM - CN ĐỐNG ĐA
3.1.
3.1.1
3.1.2
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.
3.2.4.
3.2.5.

Định hướng hoàn thiện hoạt động bảo lãnh ngân hàng

Phương hướng hoạt động chung của chi nhánh
Định hướng trong hoạt động bảo lãnh
Giải pháp hoàn thiện hoạt động bảo lãnh MSB Đống Đa
Giải pháp đối với công tác thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh
Giải pháp về nguồn nhân lực của ngân hàng
Giải pháp phát triển quan hệ khách hàng
Giải pháp phát triển công nghệ ngân hàng
Phát triển dịch vụ marketing nghiệp vụ bảo lãnh

3.3.
3.3.1.
3.3.2.
3.3.3.

Kiên nghị
Kiến nghị đối với MSB Đống Đa
Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Kiến nghị đối với chính phủ

KẾT LUẬN

5
55
65
65
65
76
06
06
16

36
36
46
46
46
5
6
86
9
6
96
97
07
27
37
78
08
18
28
48
48
68
68
8



BL

Bảo lãnh


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG - SƠ ĐÒ - BIÊU ĐÒ
Danh mục

Trang

1. Bảng:
Bảng 2.1: Phân theo đối tượng huy độngvốn

38

Bảng 2.2: Phân theo cơ cấu tiền gửi

40

Bảng 2.3: Phân theo đối tượng cho vay

41

Bảng 2.4: Phân theo ngành nghề kinh doanh

42

Bảng 2.5: Phân theo thời hạn cho vay

45

Bảng 2.6: Kết quả kinh doanh


48

Bảng 2.7: Qui mô bảo lãnh MSB Đống Đa

57

Bảng 2.8. Phí thu từ các dịch vụ của ngân hàng

59

Bảng 2.9: Cơ cấu bảo lãnh theo loại hình

61

Bảng 2.10: Cơ cấu bảo lãnh theo mục đích

62

2. Sơ đồ:
Sơ đồ 1.1. Quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng

5

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp

13

Sơ đồ 1.3: Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp

14


Sơ đồ 1.4: Sơ đồ đồng bảo lãnh

16

Sơ đồ 1.5: Sơ đồ tái bảo lãnh

17

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức MSB Đống Đa

35

Sơ đồ 2.2: Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh tại MSB Đống Đa

54

3. Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1. Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ

45

Biểu đồ 2.2: Số lượng món bảo lãnh

57

Biểu đồ 2.3: Doanh số và dư nợ bảo lãnhqua cácnăm

58


Biểu đồ 2.4: Phí thu từ các dịch vụ của ngân hàng

60


BLNH

Bảo lãnh ngân hàng

DN

Doanh nghiệp

DNQD

Doanh nghiệp quốc doanh

DNNQD

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

KH

Khách hàng

KHDN

Khách hàng doanh nghiệp

L/C


Letter Credit

MSB

Ngân hàng Hàng hải Việt Nam

MSB Đống Đa

Ngân hàng Hàng hải Việt Nam - chi nhánh Đống
Đa

NHTM

Ngân hàng thương mại

NHTW

Ngân hàng Trung ương

NH

Ngân hàng

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

TCKT


Tổ chức kinh tế

TMCP

Thương mại cổ phần

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn



1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, tại Việt Nam, nghiệp vụ bảo lãnh được các ngân hàng
thương mại rất quan tâm và đẩy mạnh, nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế
và xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu. Với việc áp dụng nghiệp vụ bảo lãnh
của ngân hàng giúp các doanh nghiệp và bản thân ngân hàng phát triển hoạt
động kinh doanh, giảm thiểu được rủi ro, đa dạng hoá sản phẩm dịchvụ, tăng
doanh thu.
Tuy nhiên, mức độ hoàn thiện của bảo lãnh ngân hàng trong những
năm gần đây còn rất nhỏ so với đòi hỏi của nền kinh tế Việt Nam. Do vậy
ngành ngân hàng nói chung và Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh
Đống Đa (MSB Đống Đa) nói riêng cần phải vận dụng và hoàn thiện nghiệp
vụ bảo lãnh ngân hàng tốt hơn để đáp ứng kịp thời nhu cầu của các doanh
nghiệp trước sự tiến triển của nền kinh tế thế giới.
Từ lý do trên, sau thời gian học tập và nghiên cứu tôi lựa chọn đề tài:
“Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam

- Chi nhánh Đống Đa ”cho luận văn của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.
Đánh giá thực trạng của hoạt động bảo lãnh ngân hàng tại tại Ngân
hàng Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa để thấy được những mặt đã
đạt được, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó.
Đưa ra hệ thống các giải pháp để hoàn thiện nghiệp vụ bảo lãnh tại
Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
• Đối tượng nghiên cứu


2

Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng tại Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam Chi nhánh Đống Đa.
• Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu về hoạt động phát hành thư bảo lãnh tại NHTM
nói chung và Ngân hàng Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa nói
riêng.
Thời gian: Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện
chứng, tổng hợp, phân tích,...
5. Kết cấu đề tài
Ngồi phần lời mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương.


Chương 1: Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại




Chương 2. Thực trạng nghiệp vụ bảo lãnh tại Ngân hàng Hàng Hải Việt
Nam - Chi nhánh Đống Đa



Chương 3: Giải pháp phát triển và hồn thiện nghiệp vụ bảo lãnh tại
Ngân
hàng Hàng Hải Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa.

CHƯƠNG 1


3

TỎNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.
1.1.

Những vấn đề chung về bảo lãnh ngân hàng
1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng

a. Định nghĩa bảo lãnh
Bảo lãnh là một dạng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại đã xuất hiện vào giữa
những năm 60 trong thị trường nội địa nước Mỹ. Sau này bảo lãnh được sử
dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế. Các quốc gia thịnh vượng mau
chóng áp dụng vì sản xuất dầu mỏ ở Trung Đông liên tục ký kết những hợp
đồng kinh tế lớn với những nước phương tây để thực hiện các dự án cải tạo cơ
sở hạ tầng, dự án canh tân cơng, quốc phịng,.... Giá trị rất lớn của các hợp

đồng và thế mạnh tài chính của các quốc gia Trung Đơng đã cho phép họ phải
có một sự đảm bảo chắc chắn về phía đối tác khi tham gia vào các thương vụ
giao dịch. Những bảo lãnh độc lập do ngân hàng của các nước phương Tây
phát hành đã thực sự đáp ứng được yêu cầu về sự thuận lợi và an toàn cho các
quốc gia nhập khẩu. Kể từ đó đến nay với khả năng ứng dụng rộng rãi trong
các loại giao dịch (kể cả tài chính lẫn phi tài chính, thương mại lẫn phi thương
mại) vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được củng cố một cách chắc
chắn. Có thể khẳng định rằng hầu hết những giao dịch lớn trong phạm vi quốc
tế cũng như trong nội địa đều có sự hỗ trợ bảo lãnh của ngân hàng. Doanh số
các nghiệp vụ này ngày càng gia tăng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Tại Việt Nam, vào đầu những năm 90, khi nền kinh tế nước ta đang dần
hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, các hoạt động ngân hàng cũng trở
nên đa dạng và phong phú, trong đó nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh được
phát triển như một tất yếu khách quan. Nhưng do thiếu sự chỉ đạo thống nhất
bằng những văn bản pháp lý chặt chẽ nên các hoạt động bảo lãnh trong thời
kỳ này còn tùy tiện và thiếu hiệu quả. Để khắc phục tình trạng đó, ngày
19/09/1992 Thống đốc Ngân hàng ban hành quyết định số 192/NH-QĐ về bảo


4

lãnh, tái bảo lãnh, vay vốn nước ngoài nhằm đưa hoạt động bảo lãnh vào kỷ
cương thống nhất.
Ngày 16/09/1994 Thống đốc ngân hàng ban hành quyết định số 196/QĐNH14 về quy chế nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Với văn bản này NHNN đã
tạo được một cơ chế pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho nghiệp vụ bảo lãnh
ngân hàng. Những năm sau đó, bảo lãnh ngân hàng nhanh chóng phát triển
cùng xu hướng mở rộng các quan hệ kinh tế trong và ngồi nước. Các hình
thức bảo lãnh ngân hàng được áp dụng áp dụng ngày càng đa dạng với doanh
số ngày càng cao cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ này trong điều kiện
nền kinh tế nước ta là rất lớn.

Ngày 25/08/2000 Thống đốc NHNN Việt Nam đã ra quyết định số
283/2000/QĐ-NHNN14 về việc ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng để thay
thế cho các quy chế trước đây. Theo điều 361 luật dân sự việt nam “ bảo lãnh
là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền
(sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có
nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bên
được bảo lãnh thực hiện hoặc thực hiện khơng đúng nghĩa vụ. Các bên cũng
có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên
được bảo lãnh khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”. Vậy bảo
lãnh ngân hàng được hiểu như thế nào?
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Bảo lãnh ngân hàng là hình
thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về
việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi
khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam
kết; khách hàng phải nhận nợ và hồn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa
thuận.
Sơ đồ 1.1. Quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng


5

b. Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh
Bảo lãnh là mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lân nhau
Trong nghiệp vụ bảo lãnh thường có sự kết hợp giữa 3 hợp đồng độc lập:
Hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, hợp đồng giữa bên được
bảo lãnh và bên bảo lãnh, hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo
lãnh.
Tuy có sự phân chia, nhưng ba mối quan hệ này vẫn liên hệ và có ảnh
hưởng lẫn nhau. Mỗi bên có trách nhiệm thực hiện hợp đồng với hai bên cịn
lại.

Tính độc lập của bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng có một đặc tính quan trọng là tính độc lập với hợp
đồng. Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho người thụ
hưởng vì thiệt hại từ việc khơng thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh
trong quan hệ hợp đồng, những việc thanh tốn cho bảo lãnh lại hồn tồn căn
cứ vào các điều khoản và điều kiện như được quy định trong bảo lãnh và ngân
hàng không thể dựa vào quyền kháng nghị có được từ quan hệ hợp đồng. Có
nghĩa là khi các điều khoản, điều kiện của bảo lãnh được đáp ứng thì về mặt
pháp lý người thụ hưởng có quyền u cầu thanh tốn tiền mà không cần thiết
phải chứng minh việc vi phạm của người được bảo lãnh mà chỉ cần lập chứng
từ theo yêu cầu của bảo lãnh. Tuy nhiên tính phụ thuộc của bảo lãnh còn phụ
thuộc vào các điều kiện của bảo lãnh. Nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán


6

dựa theo văn bản yêu cầu của người thụ hưởng thì người thụ hưởng có quyền
u cầu thanh tốn mà khơng cần điều kiện nào ngồi viêc tạo thành văn bản
yêu cầu. Ngân hàng sau khi nhận được văn bản yêu cầu phải thanh toán ngay
cho người thụ hưởng và buộc người bảo lãnh phải hoàn trả cho ngân hàng bảo
lãnh. Ngược lại, nếu bảo lãnh yêu cầu một chứng từ như phán quyết của tòa
án, một quyết định của trọng tài kinh tế hay văn bản của người được bảo lãnh
thừa nhận sự vi phạm của mình thì tính độc lập của bảo lãnh giảm đi nhiều.
Tính độc lập cịn thể hiện ở trách nhiệm thanh tốn của ngân hàng phát
hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng
phát hành với người được bảo lãnh. Ngân hàng phát hành không thể viện lý
do giữa ngân hàng bảo lãnh với người được bảo lãnh như: người được bảo
lãnh vẫn còn khoản nợ với ngân hàng, người được bảo lãnh và người được
thụ hưởng vẫn cịn đang tranh chấp về hình thức vi phạm và mức độ thiệt
hại... để trì hỗn thanh tốn nếu chứng từ đã hồn tồn phù hợp.

Tính phù hợp của bảo lãnh:
Trong một thương vụ bảo lãnh, khi người thụ hưởng bảo lãnh đến u cầu
ngân hàng thanh tốn thì ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm tra các chứng
từ do người thụ hưởng xuất trình có phù hợp với điều khoản và điều kiện của
bảo lãnh không. Ngân hàng phát hành có quyền từ chối thanh tốn nếu chứng
từ có dấu hiệu bất hợp lệ hay những điều khoản và điều kiện của bảo lãnh
không được đáp ứng. Nếu ngân hàng không thực hiện đúng trách nhiệm kiểm
tra chứng từ của mình thì ngân hàng phát hành sẽ khơng được bồi hồn từ
người được bảo lãnh. Do đó việc kiểm tra chứng từ phải nghiêm túc, chính
xác, trung thực, và khách quan bởi đó chính là lợi ích của ngân hàng.
Bảo lãnh NH là một hoạt động ngoại bảng
Bảo lãnh NH là hình thức tài trợ thơng qua uy tín. NH khơng phải xuất
tiền ngay khi bảo lãnh do đó bảo lãnh được coi là một tài sản ngoại bảng.


7

Bảo lãnh NH chỉ được xếp vào nội bảng khi NH phải thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh cho bên nhận bảo lãnh. Lúc này nó được xếp vào loại tài sản xấu cấu
thành nợ quá hạn. Như vậy bảo lãnh cũng chứa đựng rủi ro như một khoản
cho vay đòi hỏi NH phải phân tích kỹ khách hàng trước khi nhận bảo lãnh.
Bảo lãnh có tính hiệu lực tức thời
Bảo lãnh ngân hàng nhằm ngăn chặn những rủi ro phát sinh trong những
hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời bù đắp những thiệt hại về mặt tài
chính cho người thụ hưởng một cách mau chóng và chính xác. Do đó trong
nội dung của thư bảo lãnh có quy định về thực hiện ngay (tức là khi làm rõ
những bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng) một khi phát sinh yêu cầu
thực hiện bảo lãnh.
1.1.2.


Chức năng của bảo lãnh

a. Bảo lãnh được dùng như công cụ bảo đảm
Chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh là cung cấp cho người thụ
hưởng bảo lãnh một sự bảo đảm chắc chắn với quyền lợi của họ. Mục đích
của bảo lãnh là cung cấp cho người thụ hưởng một khoản bồi hồn tài chính
cho những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng của người xin bảo lãnh gây
ra. Mặc dù trên thực tế, khi địi hỏi phải có hoạt động bảo lãnh, người nhận
bảo lãnh hồn tồn khơng mong đợi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng để
được bồi hồn từ bên bảo lãnh. Họ chỉ coi đó là một cơng cụ có tính chất đảm
bảo an tồn cho mình khi có biến cố vi phạm hợp đồng của bên được bảo
lãnh.
b. Bảo lãnh được dùng như là công cụ tài trợ
Nhu cầu về vốn luôn là một vấn đề cần thiết đối với mọi chủ thể khi
tham gia vào các hoạt động kinh tế. Đặc biệt là trong các hợp đồng xây dựng
hoặc hợp đồng mua bán có giá trị lớn, thời gian thực hiện kéo dài thì vấn đề
tìm nguồn tài trợ càng trở nên bức xúc. Trong điều kiện các cơng ty khó tiếp


8

cận được với nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng chấp nhận phát hành bảo lãnh cho công ty xây dựng cũng là
một phương thức tài trợ. Ngân hàng phát hành cam kết bảo lãnh cho công ty
xây dựng để thanh toán cho người thụ hưởng trong trường hợp công ty xây
dựng vi phạm nghĩa vụ quy định trong bảo lãnh. Rõ ràng ngân hàng không
đứng ra cho vay mà chỉ tài trợ trên danh nghĩa để nhà thầu (cơng ty xây dựng)
có thể nhận được vốn ứng trước của chủ thầu, giải quyết khó khăn về vốn.
Đó là một minh chứng cho vai trị tài trợ của bảo lãnh ngân hàng. Đây
cũng là một chức năng khác so với bảo hiểm bởi ở bảo lãnh người hưởng lợi

là bên ký kết một hợp đồng thương mại với bên xin mở bảo lãnh, cịn trong
bảo hiểm thì người hưởng lợi là người mua bảo hiểm.
c. Bảo lãnh được dùng như cơng cụ đơn đốc hồn thành hợp đồng
Đối với bảo lãnh ngân hàng thì việc thanh tốn được thực hiện dựa trên
sự vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh. Trong suốt thời hạn hiệu lực của
bảo lãnh, người thụ hưởng ln có quyền u cầu ngân hàng phát hành thanh
toán bảo lãnh nếu như người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng. Do đó, ngân
hàng luôn phải theo dõi kiểm tra giám sát và đôn đốc việc thực hiện hợp đồng
của bên được bảo lãnh.
Người được bảo lãnh luôn bị một áp lực cho việc bồi hồn bảo lãnh. Như
vậy, bảo lãnh có chức năng đơn đốc người được bảo lãnh thực hiện hồn tất
hợp đồng đã ký kết. Điều này càng làm tăng thêm tính bảo đảm cho người thụ
hưởng và có mối liên quan chặt chẽ giữa chức năng bảo đảm và chức năng
đơn đốc hồn thành hợp đồng. Mặc dù vậy, khi ký kết hợp đồng và thụ hưởng
bảo lãnh, người thụ hưởng vẫn mong muốn người được bảo lãnh thực hiện
hợp đồng chứ khơng mong chờ ở khoản bồi hồn tài chính từ bảo lãnh.
d. Bảo lãnh có chức năng là công cụ đánh giá
Bất kỳ một ngân hàng nào trước khi phát hành thư bảo lãnh đều cần phải


9

kiểm tra một cách toàn diện về bên được bảo lãnh như : Khả năng tài chính,
uy tín, khả năng thực hiện hợp đồng. Mà đây là một vấn đề mà bên thụ hưởng
khơng có khả năng thực hiện. Vì vậy điều này cũng sẽ giúp cho bên nhận bảo
lãnh có thể đánh giá tốt hơn về đối tác của mình, phục vụ cho mối quan hệ
giữa hai bên.
1.1.3.

Vai trị của hoạt động bảo lãnh


a. Đối với doanh nghiệp
Thúc đẩy cạnh tranh, mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh.
- Với bên hưởng bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng giúp các doanh nghiệp
thực hiện tốt, yên tâm hơn khi ký kết và thực hiện hợp đồng mà không
tốn
nhiều thời gian và chi phí. Mặt khác bảo lãnh ngân hàng cịn giúp cho
các
doanh nghiệp chọn được bạn hàng tốt nhất và giảm rủi ro trong kinh
doanh.
Hơn nữa khi có rủi ro xảy ra, bên nhận bảo lãnh vẫn được đảm bảo bù
đắp
mọi thiệt hại do đối tác vi phạm hợp đồng một cách nhanh chóng và
thuận

lợi

nhất để tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình.
- Với bên được bảo lãnh:
Bảo lãnh ngân hàng giúp các doanh nghiệp có thể ký kết và thực hiện
hợp đồng ngay cả khi chưa đủ uy tín và lịng tin đối với bên đối tác. Bảo lãnh
cũng giúp các doanh nghiệp nhận được nguồn tài trợ từ đối tác (đối với bảo
lãnh tiền ứng trước), hoặc từ các tổ chức tín dụng khác (bảo lãnh vay vốn),
lúc đó sẽ giúp các doanh nghiệp có đủ khả năng tài chính để thực hiện hợp
đồng, tham gia giao dịch và ký kết hợp đồng.
Với chức năng đôn đốc hồn thành hợp đồng thì bảo lãnh thúc đẩy các


10


sử dụng đồng vốn một cách tối đa từ đó sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động chung
của doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
b. Đối với Ngân hàng
Trước hết đối với ngân hàng bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân
hàng cung cấp cho nền kinh tế. Đồng thời bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp
cho ngân hàng thông qua phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận
ngân hàng một khoản khơng nhỏ, nó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch
vụ của các ngân hàng hiện nay. Một ưu điểm của bảo lãnh ngân hàng là
không phải chi phí huy động như cho vay, khơng mất chi phí cơ hội cho mục
đích kinh doanh khác. Và thực hiện bảo lãnh cho khách hàng thì chắc chắn
thu được phí bảo lãnh (phí bảo lãnh được thu ngay từ khi phát hành bảo lãnh).
Ngoài việc đem lại một khoản thu nhập thì nghiệp vụ bảo lãnh ngân
hàng cịn góp phần không nhỏ trong việc mở rộng quan hệ của ngân hàng với
khách hàng. Sự ra đời của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đã hoàn thiện khả
năng đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh
cũng như gia tăng nguồn vốn thông qua việc mở rộng các quan hệ thanh toán,
các tài khoản giao dịch. Nghiệp vụ bảo lãnh hỗ trợ các hình thức thanh toán
của ngân hàng như thanh toán quốc tế (bảo lãnh hối phiếu, bảo lãnh L/C trả
chậm...).
Bảo lãnh nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng trên thị
trường đặc biệt là thị trường quốc tế. Thông qua bảo lãnh ngân hàng tạo được
thế mạnh, uy tín giúp tăng khách hàng và lợi nhuận.
c. Đối với nền kinh tế
Hoạt động bảo lãnh ngân hàng tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất, hỗ trợ
cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các khu vực trọng điểm phát triển và ngành
kinh tế kém phát triển. Thơng qua các chính sách ngân hàng: Mở rộng bảo
lãnh cho vay vốn nước ngoài, hạn mức bảo lãnh, . có thể tăng năng lực sản


11


xuất, khuyến khích các ngành này phát triển, gia tăng đầu tư vào các lĩnh vực
then chốt trong nền kinh tế. Ngược lại với những ngành còn hạn chế, ngân
hàng có chính sách bảo lãnh khắt khe, góp phần làm cân đối cơ cấu kinh tế.
Bảo lãnh ngân hàng có vai trò như chất xúc tác đối với các hợp đồng
kinh tế. Nhờ có bảo lãnh mà các bên có thể yên tâm ký kết và có trách nhiệm
với hợp đồng mình đã ký kết.
Bảo lãnh ngân hàng cịn có vai trò rất quan trọng đối với việc đáp ứng
nhu cầu vốn cho các chủ thể kinh tế. Các đơn vị kinh tế có thể dễ dàng trong
vịêc tìm kiếm những nguồn vốn rẻ cả trong và ngoài nước khi có được sự bảo
lãnh của ngân hàng.
Điều này cịn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn đối với nền kinh tế Việt
Nam nhất là trong thời buổi hội nhập. Bảo lãnh giúp tạo dựng uy tín cho các
doanh nghiệp Việt Nam, giúp cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường ra
nước ngoài, tăng vị thế của hàng Việt Nam, đồng thời tạo được nguồn thu
ngoại tệ, giúp cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, ổn định giá trị đồng tiền.
Bảo lãnh ngân hàng cũng là một trong những giải pháp để phịng chống
rủi ro có hiệu quả và được sử dụng phố biến trong các hoạt động tín dụng, xây
dựng và thương mại. Do đó với bảo lãnh ngân hàng, nền kinh tế có điều kiện
để phát triển một cách ổn định và an toàn hơn.
Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng ngày càng mở rộng và phát triển, nó đã
chứng minh sự cần thiết cũng như vai trị và tác dụng hữu hiệu không chỉ từng
doanh nghiệp mà còn cả nền kinh tế một nước và nền kinh tế thế giới.
1.2.

Nội dung nghiệp vụ bảo lãnh

1.2.1.

Nội dung bảo lãnh


Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo lãnh của ngân hàng bao gồm: Thư bảo
lãnh và Hợp đồng bảo lãnh


12

Thư bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của ngân hàng về
việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách
hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với Bên nhận bảo lãnh.
Hợp đồng bảo lãnh là thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng, bên nhận
bảo lãnh, khách hàng và các bên liên quan (nếu có) về việc ngân hàng sẽ thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
1.2.2.

Các loại hình bảo lãnh ngân hàng

a. Phân loại theo phương thức phát hành

> Bảo lãnh trực tiếp
Là loại bảo lãnh mà trong đó ngân hàng phát hành bảo lãnh chịu trách
nhiệm bảo lãnh trực tiếp cho bên được bảo lãnh. Người được bảo lãnh chịu
trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh.
Ưu điểm: Đây là loại bảo lãnh đơn giản nhất và người xin bảo lãnh thì
khơng phải mất phí hoa hồng cho bên ngân hàng đại lý. Bảo lãnh này thường
được sử dụng trong các quan hệ kinh tế trong nước và chịu sự điều chỉnh của
luật hoặc các quy định về bảo lãnh của nước mà ngân hàng bảo lãnh trực
thuộc.
Bảo lãnh trực tiếp thơng thường có ba bên tham gia: Ngân hàng phát

hành, người được bảo lãnh và người được thụ hưởng bảo lãnh. Trong trường
hợp người thụ hưởng bảo lãnh là người nước ngồi, có thể xuất hiện một ngân
hàng ở cùng quốc gia với người thụ hưởng bảo lãnh trong vai trị ngân hàng
thơng báo.
Bảo lãnh ngân hàng sẽ hết hiệu lực khi thời hạn bảo lãnh kết thúc hoặc
khi ngân hàng đã thực hiện nghĩa vụ thanh tốn của mình. Trong một số
trường hợp, xuất hiện ngân hàng thứ hai là ngân hàng thông báo, phục vụ cho
người nhận bảo lãnh.


13

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp

(1) : Hợp đồng chính ký kết giữa người được bảo lãnh và người thụ
hưởng.
(2) : Khách hàng yêu cầu phát hành bảo lãnh cam kết bồi hoàn.
(3a): Ngân hàng phát hành bảo lãnh và chuyển trực tiếp cho người thụ
hưởng( sau khi xét duyệt và chấp nhận ).
(3b): Ngân hàng phát hành có thể chuyển văn bản bảo lãnh cho người thụ
hưởng thông qua ngân hàng thông báo.

> Bảo lãnh gián tiếp
Là bảo lãnh mà trong đó ngân hàng bảo lãnh đã phát hành bảo lãnh theo
chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh dựa
trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng.
Trong bảo lãnh gián tiếp thì người thụ hưởng hồn tồn khơng có quyền
u cầu ngân hàng trung gian thanh toán bảo lãnh. Giữa ngân hàng trung gian
và người thụ hưởng hồn tồn khơng có quan hệ gì hay nói cách khác ngân
hàng trung gian khơng có nghĩa vụ thanh tốn cho người thụ hưởng. Tương tự

như vậy thì ngân hàng phát hành bảo lãnh hồn tồn khơng có quyền u cầu
người được bảo lãnh bồi hồn. Chỉ có trung gian mới có nghĩa vụ bồi hồn
cho ngân hàng phát hành theo bảo lãnh đối ứng.
Với bảo lãnh gián tiếp người được bảo lãnh thường phải chịu chi phí bảo
lãnh cao hơn so với bảo lãnh trực tiếp.


14

Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp có ít nhất bốn thành phần tham gia là
ngân hàng bảo lãnh phát hành, ngân hàng chỉ thị, người được bảo lãnh và
người thụ hưởng bảo lãnh. Trong một số trường hợp cũng có thể xuất hiện
một ngân hàng giữ vai trị thơng báo như trong bảo lãnh trực tiếp.
Bảo lãnh gián tiếp sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụ hưởng là
người nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia của người thụ
hưởng, do vậy quyền lợi của người thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn.
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp

(1) : Phát sinh quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người được
thụ hưởng bảo lãnh
(2) : Khách hàng (người được bảo lãnh) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình
giao chỉ thị cho ngân hàng phát hành bảo lãnh.
(3) : Ngân hàng chỉ thị ra chỉ thị cho ngân hàng phát hành phát hành bảo
lãnh, đồng thời cam kết bồi hoàn trên bảo lãnh đối ứng.
(4a,4b): Ngân hàng phát hành phát hành bảo lãnh và có thể chuyển trực
tiếp cho người thụ hưởng hoặc thông qua ngân hàng thông báo.

> Bảo lãnh được xác nhận
Là bảo lãnh do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc
đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng được xác

nhận bảo lãnh (bên được xác nhận bảo lãnh) đối với khách hàng.


15

Người thụ hưởng có thể muốn một ngân hàng trong nước của mình xác
nhận bảo lãnh do một ngân hàng nước ngồi phát hành và như vậy người thụ
hưởng có thể xuất trình những chứng từ theo yêu cầu của bảo lãnh đến ngân
hàng xác nhận và thanh toán.

> Đồng bảo lãnh
Là loại bảo lãnh do nhiều ngân hàng cùng đứng ra phát hành bảo lãnh.
Trong đó một ngân hàng sẽ được chọn làm ngân hàng phát hành chính, các
ngân hàng thành viên sẽ cam kết theo từng phần đóng góp của mình bằng các
bảo lãnh đối ứng như 1 ngân hàng trung gian.
Trong các thương vụ lớn có độ rủi ro cao hoặc do bởi những quy định
hạn chế và phân tán rủi ro của chính phủ đối với việc bảo lãnh một món lớn,
một ngân hàng riêng lẻ sẽ gặp khó khăn nếu thực hiện bảo lãnh đơn phương.
Để giải quyết vấn đề này cần có đồng bảo lãnh. Đặc thù của bảo lãnh là
thường được áp dụng cho những dự án liên doanh có vốn đầu tư lớn, việc thi
cơng địi hỏi nhiều bên tham gia.

Sơ đồ 1.4: Sơ đồ đồng bảo lãnh


16

(1) : Hợp đồng chính ký kết giữa người dược bảo lãnh và người thụ hưởng
bảo lãnh.
(2) : Người được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng phát hành phát hành bảo

lãnh.
(3) : Ngân hàng chính dàn xếp đồng bảo lãnh với các ngân hàng thành
viên.
(4a, 4b): Ngân hàng chính phát hành bảo lãnh cho người thụ hưởng
chuyển trực tiếp hoặc thông qua ngân hàng thông báo.

> Tái bảo lãnh
Trong trường hợp ngân hàng muốn chia sẻ bớt rủi ro hoặc người xin bảo
lãnh thiếu tin tưởng vào ngân hàng thì các bên có thể xin tái bảo lãnh.
Tái bảo lãnh là việc ngân hàng bảo lãnh chính cho người xin bảo lãnh yêu
cầu một ngân hàng khác đứng ra bảo lãnh cho nghĩa vụ thực hiện hợp đồng
của mình trong trường hợp hợp đồng bảo lãnh ký kết với người xin bảo lãnh
hoặc có thể do chính người xin bảo lãnh đề nghị ngân hàng khác tái bảo lãnh
cho ngân hàng mà mình đã xin bảo lãnh dưới thỏa thuận của các bên. Trong
trường hợp này ngân hàng bảo lãnh chính phải san sẻ một phần phí bảo lãnh
cho ngân hàng tái bảo lãnh.
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ tái bảo lãnh


17

(1) : Bên được bảo lãnh và bên yêu cầu bảo lãnh ký hợp đồng bảo lãnh.
(2) : Người được bảo lãnh yêu cầu ngân hàng chính phát hành thư bảo
lãnh.
(3) : Bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng bảo lãnh.
(4) : Ngân hàng tái bảo lãnh thanh toán cho người thụ hưởng bảo lãnh.
(5) : Ngân hàng tái bảo lãnh địi tiền ngân hàng bảo lãnh chính.
b. Phân loại theo hình thức sử dụng

> Bảo lãnh có điều kiện

Bảo lãnh có điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh tốn chỉ có thể được
tiến hành khi người thụ hưởng xuất trình kèm theo thư bảo lãnh một số chứng
từ hay giấy chứng nhận được quy định trước. Các yêu cầu văn bản ở mỗi bảo
lãnh cũng khác nhau có thể là thư tín dụng dự phịng, xác nhận của một
chuyên gia, tổ chức trọng tài về việc vi phạm của người được bảo lãnh.
Bảo lãnh này có ưu điểm đối với người xin bảo lãnh là tránh được việc
giả dối, lạm dụng chứng từ hàng hoá hoặc việc khiếu nại không trung thực
của người thụ hưởng.
Nhưng lại có nhược điểm đối với người thụ hưởng đó là sự chậm trễ
trong việc trả tiền bồi thường cho người thụ hưởng khi có u cầu của người
này, khơng đảm bảo lợi ích cho người thụ hưởng.

> Bảo lãnh vơ điều kiện
Bảo lãnh vô điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh toán sẽ được thực
hiện ngay khi ngân hàng nhận được yêu cầu đầu tiên bằng văn bản của người
thụ hưởng thông báo rằng người được bảo lãnh đã vi phạm hợp đồng. Xem
yêu cầu này như một mệnh lệnh thanh tốn đơn giản khơng địi hỏi phải có
chứng từ kèm theo.


×