Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

Ngành ngân hàng trong đại dịch covid 19

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (304.94 KB, 29 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-------***-------

BÀI TẬP LỚN
MÔN: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI: NGÀNH NGÂN HÀNG TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
Họ và tên sinh viên:
1. Nguyễn Quỳnh Như - 11194020
2. Nguyễn Thị Thuý Quỳnh - 11194498
3. Nguyễn Ngọc Hà Vy - 11195838
4. Đinh Vân Chi - 11196156
5. Nguyễn Khánh Linh - 11192910
6. Trần Thanh Hiền - 11171602
Lớp tín chỉ: Quản trị Kinh Doanh Quốc Tế CLC 61B
GVHD: Thầy Phùng Thanh Quang

HÀ NỘI, NĂM 2021

MỤC LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2
2

ST
T

Ký hiệu


Nguyên nghĩa

1

NHNN

Ngân hàng nhà nước

2

NHTM

Ngân hàng thương mại

3

CSTT

Chính sách tiền tệ

4

DTNHNN

Dự trữ ngoại hối nhà nước

5

TCTD


Tổ chức tín dụng

6

TTKDTM

Thanh tốn khơng dùng tiền mặt


LỜI MỞ ĐẦU
Đại dịch COVID - 19 ập đến, mang theo rất nhiều dự định của chúng ta bay
theo cơn gió. Đối với mỗi bản thân, cá thể thì việc đại dịch xuất hiện có thể ảnh
hưởng ít hoặc nhiều, nhưng đối với một ngành nghề nào đó thì lại là thiệt hại và
thách thức vô cùng to lớn mà chính những ơng lớn trong ngành cũng phải lao
đao. Nếu như học sinh chỉ không phải đi đến trường, hoặc tạm thời khơng được
đi du lịch như mọi năm thì đối với ngành nghề cụ thể lại là nhiều nỗi trăn trở.
Loay hoay trong việc đổi mới sáng tạo, dựa vào những khó khăn để làm địn
bẩy cho sự phát triển thì khơng phải bất cứ cơng ty nào, lĩnh vực nào cũng có
thể làm được. Vì thế, thời COVID cũng như một bức tranh toàn cảnh sẽ bộc lộ
một cách rõ ràng nhất, cho ta thấy sự yếu ớt hay mạnh mẽ của từng ngành nghề
khi phải đương đầu với nền thị trường phức tạp. Vậy nên, chúng ta có thể thấy
rằng COVID - 19 khơng chỉ là lồi virus thách thức sức đề kháng của con
người, mà chính nó cũng là lồi virus thử nghiệm cho cách vận hành và khả
năng chuẩn bị tình huống, kịch bản phù hợp nhất của từng ngành nghề với diễn
biến đầy phức tạp của nền kinh tế.
Chính vì vậy, dựa vào đề bài do thầy Phùng Thanh Quang đề xuất, nhóm
chúng em xin được trình bày những hiểu biết cũng như nghiên cứu của nhóm về
“Ngành Ngân Hàng Việt Nam trong Đại dịch COVID - 19”, qua đó để biết rằng
dưới áp lực thay đổi của cả một nền thị trường thì những gì mà ngành Ngân
Hàng đã, đang và sẽ làm liệu có thực sự hiệu quả?


3
3


I. TỔNG QUAN
1. Bối cảnh chung của nền kinh tế
Về bối cảnh thế giới, trong năm 2020 đã chứng kiến xu hướng suy giảm
mạnh mẽ của hầu hết các nền kinh tế, khu vực kinh tế trên toàn cầu. Xu
hướng lao dốc mạnh nhất xuất hiện vào tháng 3 và tháng 4 khi các nước
đồng loạt thực hiện biện pháp đóng cửa lần đầu tiên trong nhiều năm trước
ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 bắt đầu từ Vũ Hán (Trung Quốc). Các
chuyên gia đánh giá, tình hình kinh tế thế giới tiếp tục ảm đạm trong 2 quý
đầu năm 2021 do tình hình dịch bệnh vẫn diễn ra vơ cùng phức tạp.
Cụ thể, kinh tế trong hai quý đầu năm 2020 phần lớn là tăng trưởng âm.
Sau đó, các hoạt động kinh tế trên toàn cầu đã dần phục hồi trở lại vào tháng
5, tháng 6, giúp cho kinh tế của các nước, khối nước lấy lại được đà tăng
trưởng dương. Đáng chú ý, các nền kinh tế lớn đã đạt tốc độ tăng cao, dao
động từ 12 – hơn 30% trong quý III/2020. Tuy nhiên, xu hướng tích cực này
có phần chững lại, diễn biến khơng đồng đều giữa các khu vực và nền kinh
tế khi đợt bùng phát dịch lần thứ hai diễn ra mạnh mẽ tại các nước như Mỹ,
khu vực EU, Nhật Bản và một số nước lớn tại khu vực châu Á,… Trong khi
đó, các gói hỗ trợ kích thích kinh tế mới chưa được thông qua hoặc chưa
được triển khai rộng rãi. Cùng với sự phục hồi chậm của tổng cầu, xu hướng
tiết kiệm chi tiêu nhiều hơn trong bối cảnh bất ổn chưa được kiểm sốt, các
quyết định đóng cửa hoạt động kinh tế có thể có hiệu lực bất cứ lúc nào,…
cũng có ảnh hưởng nhất định lên diễn biến tăng trong quý IV/2020, cho dù
giải pháp ngăn chặn dịch bệnh - sản xuất vắc xin với kết quả thử nghiệm cao
vượt kỳ vọng tại nhiều nước đã xuất hiện vào thời điểm cuối cùng của năm.
Tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2020 theo dự báo của IMF đạt

khoảng -4.4%, cịn theo dự báo của OECD thì ở mức -4.2%.
Đồ thị tăng trưởng kinh tế toàn cầu của một số nước

4
4


Nguồn: OECD

Về bối cảnh Việt Nam, Việt Nam nằm trong số hiếm hoi các nước vẫn giữ
được mức tăng trưởng GDP dương (2.91%) trong tình hình dịch bệnh, được coi
là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới và phục hồi kinh tế
nhanh hình chữ V, với mức tăng trưởng dự báo từ hơn 6% tới 11.2% trong năm
2021. Việt Nam là một trong số ít các nước kiểm soát tốt dịch Covid-19, nhưng
vẫn bị ảnh hưởng nghiêm trọng đối với nền kinh tế, sau 9 tháng đã có dấu hiệu
phục hồi rõ nét, sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát qua 2 lần bùng phát
(tháng 3 và tháng 7). Quý I năm 2020, tốc độ tăng trưởng đạt 3.82%, q II
giảm cịn 0.39%, q III tăng trở lại đạt 2.62%, đưa con số tăng trưởng của 9
tháng năm 2020 lên 2.12%. Mặc dù tăng trưởng vẫn là một con số dương,
nhưng đây là mức tăng thấp nhất so với cùng kỳ của các năm trong giai đoạn
2011-2020 và là một trong số ít các quốc gia có tăng trưởng dương.
Dịch vụ, du lịch là ngành phản ánh rõ nét nhất các ảnh hưởng từ đại dịch
Covid-19. Các lĩnh vực như: du lịch, vận tải (nhất là vận tải hàng khơng) có
mức sụt giảm mạnh, chủ yếu do việc hạn chế đi lại và giãn cách xã hội. Trong 6
tháng đầu năm 2020, lượng khách quốc tế giảm tới -55.8% so với cùng kỳ năm
trước (quý 1 giảm -18%); khách du lịch trong nước cũng giảm tới -27.3% (quý
1 giảm 6%). Doanh thu toàn ngành giảm -77.8%, cao hơn nhiều so với mức
giảm -11% của quý 1/2020. Theo Hiệp hội Vận tải hàng không Quốc tế (IATA),
đại dịch Covid-19 khiến doanh thu ngành hàng không giảm 80% trong nửa đầu
năm 2020, trong khi vẫn phải trang trải các chi phí liên quan đến phi hành đồn,

hoạt động bảo trì, nhiên liệu, phí sân bay và bảo quản máy bay. Theo dự báo của
IATA, các hãng tại Việt Nam mất đi doanh thu khoảng 4 tỷ USD, Vietnam
Airlines giảm doanh thu 50.000 tỷ đồng, dự kiến lỗ 29.000 tỷ đồng, thâm hụt
16.000 tỷ đồng, sẽ rơi vào trạng thái mất thanh khoản nếu khơng có hỗ trợ của
Chính phủ. Tuy nhiên, trong quý 3, các khu vực kinh tế đều có dấu hiệu phục
hồi và khởi sắc hơn, bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện bình thường
mới. Theo Tổng cục Thống kê, tính chung 9 tháng năm 2020, GDP ước tăng
5
5


2.12% so với cùng kỳ năm 2019, là mức tăng thấp nhất so cùng kỳ trong giai
đoạn 2011-2020. Trong mức tăng chung của tồn nền kinh tế, nơng lâm nghiệp
và thủy sản tăng 1.84%, đóng góp 13.62% vào mức tăng trưởng chung; cơng
nghiệp và xây dựng tăng 3.08%, đóng góp 58.35%; khu vực dịch vụ tăng
1.37%, đóng góp 28.03%. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do dịch Covid-19, làm
đứt gãy thương mại toàn cầu, nhưng cán cân thương mại tháng 9 tiếp tục thặng
dư 3.5 tỷ USD, đưa giá trị xuất siêu 9 tháng đạt gần 17 tỷ USD, tăng gần gấp
đôi so cùng kỳ năm 2019. Kinh tế trong nước đã trở thành động lực tăng trưởng
xuất khẩu với kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 9 tháng tăng 20.2% và chiếm
35.4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Hoạt động thương mại, vận tải
trong nước cũng có dấu hiệu tăng trở lại ngay khi đợt bùng phát thứ hai được
khống chế (tháng 7/2020).
Nhìn tổng thể, năm 2020, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng đáng ghi nhận
và tự hào về khả năng tự chủ, tự cường, thành cơng trong kiểm sốt sự lây lan
của dịch Covid-19; linh hoạt và hiệu quả trong phản ứng chính sách và phản
ứng thị trường hỗ trợ doanh nghiệp; chủ động tham gia tham gia các hiệp định
thương mại song phương và đa phương; khai thác các cơ hội từ sự dịch chuyển
và tái định vị các các chuỗi cung ứng khu vực và quốc tế, thúc đẩy tái cơ cấu về
tổ chức và công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi mô hình, tham gia sâu hơn vào

các chuỗi giá trị tồn cầu và; hướng tới tăng trưởng nhanh, bền vững.
2. Ngành ngân hàng có những thay đổi gì lớn?
Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 còn diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn
cầu, ảnh hưởng tiêu cực đến tới kinh tế thế giới và Việt Nam, ngành ngân hàng
đang đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số để sẵn sàng “biến nguy thành cơ”, sẵn
sàng nắm bắt cơ hội tăng trưởng nhanh thời kỳ hậu Covid-19. Sự chuyển đổi
sang kỹ thuật số được ngành ngân hàng đẩy mạnh trong thời kỳ nhiều gián đoạn
và biến động này.
Thực tế, năm 2020, đại dịch Covid-19 cùng với những yếu tố bất định như
tình hình bão lụt ở miền Trung đã có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của toàn hệ
thống ngân hàng. Tuy nhiên, tính đến tháng 11/2020, có thể nói ngành ngân
hàng đã từng bước vượt qua khó khăn, “biến nguy thành cơ” và đảm bảo an
toàn hệ thống trước những rủi ro, bất định của kinh tế vĩ mơ. Tính đến tháng
11/2020, tăng trưởng tín dụng tồn hệ thống tăng 7.26% so với cùng kỳ năm
2019, nợ xấu tồn hệ thống tính đến hết 9/2020 được kiểm soát ở mức 1.77%,
lợi nhuận của nhiều ngân hàng vẫn đạt mức cao với mức tăng trưởng lợi nhuận
6
6


bình qn đạt 6.6% tính đến hết q 3 năm 2020 (báo cáo nghiên cứu 13 ngân
hàng Việt Nam của cơng ty chứng khốn SSI, 10/2020).
Trong bối cảnh cịn có diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19 và những
biến động vĩ mô, hệ thống ngân hàng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, khi ảnh hưởng
của đại dịch Covid-19 có độ trễ nhất định tới kết quả kinh doanh của hệ thống
ngân hàng, nhiều Ngân hàng đã lựa chọn chiến lược “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”
khi tăng mạnh trích lập dự phòng trong quý III/2020 và 9 tháng năm 2020, chấp
nhận giảm lợi nhuận để đảm bảo an toàn hệ thống. GS.TS Trần Thọ Đạt, Chủ
tịch Hội đồng trường ĐHKTQD, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Chính phủ
nhấn mạnh: Chuyển đổi số trong ngân hàng hiện nay là xu thế tất yếu, trong đó,

ngân hàng số là đích đến cịn chuyển đổi số là q trình thực hiện với nhiều cấp
độ nhằm hướng tới ngân hàng số đích thực. Bên cạnh đó, GS.TS Trần Thọ Đạt
cũng khẳng định: “Xác định đích đến ln là điều kiện, tiền đề quan trọng
nhưng con đường đi đến đích cịn quan trọng hơn. Hội thảo là cơ hội để chúng
ta cùng nhau phân tích những vấn đề thể chế, pháp lý, kinh nghiệm thực tiễn
chuyển đổi số của ngân hàng, trong đó có VietinBank và đào tạo nguồn nhân lực
cho quá trình chuyển đổi số ngân hàng. Có thể nói, chưa lúc nào lĩnh vực tài
chính ngân hàng lại hội tụ đủ các yếu tố: chính sách, cơng nghệ, thị trường để
bứt phá trong chuyển đổi số hiện nay. Việc tăng tốc quá trình chuyển đổi số lấy
khách hàng làm trung tâm là giải pháp quan trọng để an toàn vượt qua Covid19 cũng là cơ hội vươn lên, bứt phá, biến nguy thành cơ trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt hiện nay”.
II. NGÀNH NGÂN HÀNG TRƯỚC ĐẠI DỊCH COVID-19 (SỐ LIỆU
NĂM 2018)
1. Kinh tế Việt Nam
Tiếp tục cắt giảm điều kiện kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho việc
thành lập và hoạt động của doanh nghiệp. Tổ chức nhiều hội nghị chuyên đề,
kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất của
các ngành, các địa phương. Đẩy mạnh triển khai các hiệp định thương mại tự do
thế hệ mới nhằm tìm kiếm thị trường, thúc đẩy sản xuất trong nước, nỗ lực phấn
đấu hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra. Nhờ đó, kinh tế Việt Nam có mức tăng
trưởng cao nhất trong vòng 11 năm qua, lạm phát tiếp tục được kiểm sốt dưới
mục tiêu của Quốc hội. Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo,
dịch vụ, xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, dự trữ ngoại hối... đều tăng cao.
Kinh tế vĩ mô ổn định và triển vọng tăng trưởng khả quan là cơ sở để Moody’s
7
7


và Fitch Ratings nâng mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam (Moody’s nâng từ
B1 lên Ba3; Fitch Ratings nâng từ BB- lên BB với triển vọng ổn định).

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế cịn một số tồn tại, thách
thức như quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mơ hình tăng trưởng
có chuyển biến nhưng cịn chậm; năng suất lao động còn thấp, năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế chưa cao, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh
diễn biến phức tạp có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của
nhân dân.
2. Điều hành chính sách tiền tệ
Một số cách điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) mà ngành ngân hàng Việt
Nam áp dụng như sau:
Thứ nhất, ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt, thận
trọng nghiệp vụ thị trường mở nhằm kiểm sốt tiền tệ, góp phần hỗ trợ ổn định
thị trường tiền tệ và tỷ giá;
Thứ hai, điều chỉnh giảm lãi suất chào mua OMO góp phần hỗ trợ ổn định
mặt bằng lãi suất;
Thứ ba, giữ ổn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc VND và ngoại tệ;
Thứ tư, tiếp tục thực hiện tái cấp vốn để hỗ trợ nguồn vốn trong quá trình xử
lý nợ xấu và các mục tiêu khác theo chủ trương của Chính phủ;
Thứ năm, thực hiện điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt hàng ngày, kết hợp
với điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT;
Thứ sáu, điều hành các giải pháp tín dụng đi đơi với an tồn, nâng cao hiệu
quả, chất lượng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng
của nền kinh tế.
3. Kết quả của chính sách tiền tệ 2018
Đầu tiên, mặt bằng lãi suất, tỷ giá ổn định - tín dụng tăng trưởng hiệu quả:
Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã điều hành chính sách lãi suất một cách một
cách linh hoạt, phù hợp với các cân đối vĩ mô và diễn biến thị trường, giữ mặt
bằng lãi suất tương đối ổn định để tạo điều kiện đảm bảo nguồn vốn cho kinh
8
8



doanh sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngay từ đầu năm, một số
ngân hàng thương mại (NHTM) đã giảm 0.5%/năm lãi suất cho vay đối với các
lĩnh vực ưu tiên. Từ đó đến cuối năm, NHNN đã điều hành để giữ mặt bằng lãi
suất trong nước tương đối ổn định trong bối cảnh Mỹ tăng lãi suất, mặt bằng lãi
suất thế giới tăng lên do các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục thắt chặt chính
sách tiền tệ. Các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng tăng phù hợp với mục tiêu, cơ cấu tín
dụng theo đồng tiền diễn biến phù hợp với chủ trương chống Đô-la hóa của
Chính phủ, chuyển dần từ quan hệ gửi-vay sang quan hệ mua-bán ngoại tệ, tín
dụng đối với hầu hết các lĩnh vực ưu tiên tăng cao hơn tín dụng chung và tín
dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro có xu hướng chậm lại.
Trên thị trường ngoại tệ, dù có nhiều áp lực từ thị trường quốc tế nhưng tỷ giá
trong nước vẫn tương đối ổn định, đặc biệt khi so với mức độ mất giá của các
đồng tiền mới nổi và đang phát triển, thanh khoản thị trường vẫn đảm bảo, các
giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt, các nhu cầu mua ngoại tệ hợp pháp được
đáp ứng đầy đủ, kịp thời và NHNN mua ròng ngoại tệ, bổ sung dự trữ ngoại hối
Nhà nước (DTNHNN). Về giải pháp điều hành tỷ giá, cụ thể, những tháng đầu
năm, khi cung cầu ngoại tệ khá thuận lợi, NHNN tranh thủ mua ngoại tệ bổ
sung DTNHNN. Đặc biệt, từ 7/2/2018, NHNN bắt đầu niêm yết tỷ giá mua kỳ
hạn 3 tháng để trì hỗn việc đưa tiền đồng ra mua ngoại tệ, góp phần kiểm sốt
nguồn tiền cung ứng, hỗ trợ kiểm soát lạm phát, trong khi vẫn mua được ngoại
tệ bổ sung dự trữ ngoại hối, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng các sản
phẩm phái sinh ngoại tệ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Từ tháng 6, thị trường
ngoại tệ chịu các áp lực từ diễn biến tiêu cực trên thế giới và tâm lý nhà đầu tư
trong nước. NHNN đã kịp thời điều hành đồng bộ các giải pháp nhằm ổn định
thị trường, đảm bảo các giao dịch ngoại tệ diễn ra thông suốt.
Về điều hành tín dụng, NHNN đã có nhiều chỉ đạo, giải pháp để tháo gỡ khó
khăn cho sản xuất kinh doanh (SXKD), tăng cung ứng vốn tín dụng cho nền
kinh tế như chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng ngay từ đầu năm; mở rộng
tín dụng đi đơi với an toàn, hiệu quả, tập trung vốn vào các lĩnh vực SXKD, lĩnh

vực ưu tiên; kiểm sốt chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro;
kiên định các giải pháp chính sách để giảm dần tín dụng ngoại tệ phù hợp với
chủ trương chống Đơ-la hóa của Chính phủ, chuyển dần từ quan hệ gửi – vay
ngoại tệ sang quan hệ mua – bán ngoại tệ.
Nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng, trong công tác cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện
9
9


kinh doanh. Kết quả xếp hạng chỉ số cải cách hành chính (Par Index) trong 3
năm liên tiếp (2015, 2016, 2017), NHNN tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trong số 19
Bộ, ngành.
Lãi suất ổn định cùng các chính sách hỗ trợ về vốn, việc cắt giảm thủ tục
hành chính đã tạo điều kiện cho người dân doanh nghiệp tiếp cận các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng, trong đó có vốn tín dụng. Nhờ đó đảm bảo nguồn vốn cho
kinh doanh sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Với những nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc cải thiện tích cực mơi
trường kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đóng góp quan trọng vào
việc cải thiện mơi trường kinh doanh nói chung, hỗ trợ doanh nghiệp, người dân
trong tiếp cận vốn và các dịch vụ ngân hàng, chỉ số “Tiếp cận tín dụng” của Việt
Nam trong những năm qua được đánh giá cao, đặc biệt trong năm 2018 đã được
Ngân hàng Thế giới (WB) xếp hạng 29/190, tăng 3 bậc và đứng thứ 4 trong
ASEAN.
Tiếp theo, có chuyển biến tích cực trong tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng
(TCTD) gắn với xử lý nợ xấu:
Qua hơn 1 năm triển khai Quyết định 1058 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án Tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu và triển khai
Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu, với sự quan tâm của
Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, sự chỉ đạo quyết liệt của NHNN, nỗ lực

của các TCTD, công tác tái cơ cấu hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu có
những chuyển biến tích cực.
Năng lực tài chính của các TCTD được củng cố, vốn điều lệ tăng dần; chất
lượng quản trị điều hành của các TCTD từng bước được nâng cao để tiệm cận
với thông lệ quốc tế; hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ, đảm bảo an ninh, an
toàn hoạt động được chú trọng, tăng cường. Việc phân cấp, ủy quyền được thực
hiện minh bạch, độc lập với trách nhiệm rõ ràng; công tác quản trị rủi ro tập
trung vào các rủi ro trọng yếu bước đầu đem lại hiệu quả, chiến lược kinh doanh
bước đầu phù hợp với văn hóa rủi ro và khẩu vị rủi ro; vai trò kiểm tra, đánh giá
độc lập của Ban kiểm soát, kiểm toán nội bộ được phát huy, coi trọng. Tính
minh bạch trong hoạt động tín dụng cùng với các biện pháp kiểm sốt, phịng
ngừa nợ xấu mới phát sinh đã góp phần quan trọng giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ
thống các TCTD. Công tác thanh tra, giám sát được tăng cường đã góp phần
ngăn chặn, phát hiện và xử lý kiên quyết các rủi ro, tồn tại và sai phạm của
10
10


TCTD, thúc đẩy các TCTD triển khai tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu nghiêm
túc, có hiệu quả. Tỷ lệ nợ xấu giảm so với cuối năm 2017.
Cuối cùng, thanh tốn khơng dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển:
Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2018, ngành Ngân hàng
là một trong những ngành chủ động đi đầu trong ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ trong quản lý và kinh doanh. Sự chủ động này đã tạo ra một nền tảng
vững chắc và những lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh mới, khi kinh tế số phát
triển, xu thế thanh toán điện tử tăng nhanh, trung tâm kinh tế thế giới dịch
chuyển dần từ Tây sang Đông.
Để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức từ Cách mạng cơng nghiệp 4.0
nhằm thích ứng, phát triển bền vững trong kỷ nguyên 4.0, ngành ngân hàng Việt
Nam đã và đang tăng cường đổi mới sáng tạo trong nội bộ tổ chức và thúc đẩy

đổi mới từ bên ngồi thơng qua tăng cường hợp tác Fintech, tạo dựng hệ sinh
thái số theo hướng mở, tăng cường thu thập, khai thác dữ liệu khách hàng, đồng
thời hoàn thiện về hành lang pháp lý cho sự phát triển ngân hàng số...
Trong thời gian qua, hoạt động TTKDTM trong nền kinh tế chuyển biến theo
chiều hướng tích cực, cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ TTKDTM, nhất là
thanh toán điện tử, tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát
huy hiệu quả; công tác đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống TTKDTM tiếp tục
được chú trọng và tăng cường; các dịch vụ, phương tiện thanh toán điện tử được
phát triển mạnh và đa dạng với nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, an
toàn, tiện lợi, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và thích ứng với
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, cơng tác truyền thông được NHNN đặc biệt chú trọng, với việc
phối hợp sản xuất các chương trình truyền hình, chương trình giáo dục tài chính
như “Tiền khéo tiền khơn”, “Những đưa trẻ thơng thái”... qua đó nâng cao kiến
thức, giảm thiểu rủi ro cho khách hàng khi tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài
chính ngân hàng, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận các sản phẩm dịch vụ tài
chính ngân hàng, thúc đẩy TTKDTM.
Có thể nói, với những kết quả trong điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng
năm 2018, cùng các yếu tố vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm sốt chặt chẽ,
mơi trường kinh doanh được cải thiện mà Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế
uy tín nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, cải thiện hình ảnh trong mắt các nhà
11
11


đầu tư quốc tế. Moody’s nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từ B1
lên Ba3 với triển vọng thay đổi từ ổn định sang tích cực vào ngày 11/8/2018.
Fitch nâng xếp hạng nhà phát hành nợ dài hạn bằng ngoại tệ (IDR) của Việt
Nam từ mức BB- lên mức BB với triển vọng ổn định.
III. NGÀNH NGÂN HÀNG TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19

COVID-19 mang những thay đổi lớn đến nền kinh tế và xã hội, và dẫn tới
thay đổi trong suy nghĩ và hành động của con người và các tổ chức. COVID-19
tạo ra những thử thách lớn, đồng thời là cơ hội để ngành dịch vụ tài chính
chuyển đổi để đáp ứng các thay đổi của kinh tế vĩ mô, thị trường và khách hàng.
Việt Nam là một trong số ít quốc gia thực hiện được nhiệm vụ kép: vừa kiểm
soát dịch bệnh, đồng thời vẫn duy trì sự phát triển kinh tế. Dù vậy, vẫn cịn quá
sớm để khẳng định Việt Nam đã chiến thắng COVID-19. Trong bối cảnh đó, các
chính sách hỗ trợ và sự đồng hành của Chính phủ trong bối cảnh COVID-19
được các doanh nghiệp đánh giá cao, nhất là các chính sách tài khóa như việc
giãn, hỗn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập, tiền thuê đất, chính sách nới lỏng
về tín dụng của các ngân hàng. Chính sách cho vay với lãi suất bằng 0% để trả
lương cho người lao động được cho là khó tiếp cận, nhưng các doanh nghiệp
vẫn đánh giá cao sự cần thiết của chính sách này. 75% doanh nghiệp cho rằng,
các chính sách hỗ trợ của Chính phủ là hữu ích.
1. Hoạt động tác nghiệp hàng ngày
Mức độ lây lan nhanh chóng theo cấp lũy thừa của dịch bệnh khiến cho các
hoạt động tác nghiệp cũng như cơ cấu vận hành của tất cả các ngân hàng từ Hội
sở đến các chi nhánh/phòng giao dịch đều bị ảnh hưởng.
Khi ngân hàng có nhân viên nhiễm Covid-19 hoặc bị cách ly, công việc và
hoạt động nghiệp vụ của cá nhân bị đình trệ ngay lập tức, từ đó, ảnh hưởng đến
chuỗi các cơng việc khác của ngân hàng, ảnh hưởng đến đến tâm lý và hiệu quả
làm việc của những nhân viên khác và cả hệ thống. Mặc khác, khi thơng tin
ngân hàng có nhân viên nhiễm Covid-19 hoặc bị cách ly bị lan truyền ra bên
ngoài, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của khách hàng giao dịch tại
ngân hàng, đặc biệt là khách hàng cá nhân, họ sẽ e ngại khi phải đến tiếp xúc
trực tiếp tại ngân hàng, từ đó, các hoạt động nhận gửi tiền/mở tài khoản/mở
thẻ/cho vay vốn/và các dịch vụ ngân hàng khác chắc chắn bị ảnh hưởng.
12
12



2. Tăng trưởng tín dụng
Thống kê của Ngân hàng Nhà nước (NHNN, 2020) cho biết tín dụng đến
16/3/2020 tăng 0.43% so với 31/12/2019, thấp hơn mức tăng 1.52% cùng kỳ
năm trước. Cũng là mức tăng trưởng thấp nhất trong 6 năm trở lại đây. Cầu tín
dụng giảm do nhu cầu tín dụng của hộ gia đình thấp hơn. Tính đến giữa tháng
3/2020, tồn hệ thống các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho
khách hàng với tổng dư nợ 21.753 tỷ đồng, đồng thời miễn giảm lãi cho khoảng
8000 khách hàng với số tiền trên 350 tỷ đồng. Các ngân hàng cũng đang xem
xét miễn giảm lãi cho vay đối với 34.350 khách hàng với dư nợ 185.000 tỷ
đồng; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hồ sơ mới, cho vay mới cho khoảng 5.493
khách hàng với doanh số cho vay khoảng 24.000 tỷ đồng.
Năm 2021, nền kinh tế thế giới và trong nước được dự báo sẽ dần được phục
hồi, phát triển do dịch bệnh Covid-19 đang từng bước được kiểm soát ở một số
nước, vắc-xin Covid-19 đã được sản xuất thành công và đang trong giai đoạn
thử nghiệm, Ngân hàng Nhà nước định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng
khoảng 12%; mức tăng trưởng tín dụng khoảng 12% và sẽ được điều chỉnh phù
hợp với diễn biến, tình hình thực tế. Trên cơ sở định hướng và chính sách tiền tệ
được dự báo “nới lỏng” của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng chủ động xây
dựng kế hoạch kinh doanh năm 2021 cho phù hợp với tình hình kinh tế trong
nước và thế giới, trong đó tăng trưởng tín dụng hợp lý gắn với nâng cao chất
lượng tín dụng, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, kiểm sốt
chặt tín dụng trong lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Ngân hàng tiếp tục hỗ trợ các doanh
nghiệp, người dân bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh Covid-19 để tháo gỡ khó
khăn, tạo điều kiện cho họ được tiếp cận nguồn vốn vay giá rẻ, kịp thời nhằm
tận dụng được cơ hội kinh doanh, phát triển sản xuất và đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng. Ngoài ra, một giải pháp cần thiết để hạn chế nợ xấu gia tăng
được đánh giá phù hợp trong giai đoạn hiện nay là việc các ngân hàng cần nỗ
lực đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng trong ngắn hạn và điều chỉnh danh mục cho
vay, thậm chí hướng tới điều chỉnh danh mục tài sản tiến tới giảm tỷ trọng tài

sản tín dụng, tăng tài sản phi tín dụng trong dài hạn.
3. Nợ xấu
Bên cạnh việc mở rộng và tăng trưởng tín dụng gắn với kiểm soát chất lượng,
các ngân hàng cần quyết liệt, chủ động hơn nữa trong công tác xử lý thu hồi nợ
xấu để tạo nguồn bổ sung cung cấp vốn cho nền kinh tế và dự phòng nợ xấu
13
13


phát sinh thêm trong năm 2021. Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng doanh
nghiệp tạm ngừng kinh doanh và chờ giải thể tăng vọt so với cùng kỳ năm
ngoái, dẫn đến khách hàng khơng có khả năng trả nợ đúng hạn, và từ đó gia
tăng tỷ lệ nợ quá hạn, gia tăng nợ xấu. Nhiều ngành như nông, lâm nghiệp &
thủy sản, doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ lưu trú, ăn uống,
thực phẩm, đồ uống, vận tải, dệt may, da giầy, điện tử, điện lạnh, dầu khí, du
lịch, giáo dục, cùng các doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu và nguồn nguyên
liệu nhập khẩu chính từ Trung Quốc… đều là những nhóm chịu ảnh hưởng nặng
nề từ dịch bệnh. Những doanh nghiệp trong các lĩnh vực này chiếm lượng khá
lớn trong số các khách hàng của các ngân hàng, do đó, nguy cơ gia tăng nợ xấu
là khó tránh khỏi.
Thơng tư số 01/2020/TT-NHNN đang giúp các ngân hàng hoãn, giãn việc ghi
nhận nợ xấu và các thiệt hại từ dịch bệnh Covid-19 trong ngắn hạn có thể đẩy
các khó khăn, chất lượng tín dụng khơng tốt cho ngân hàng trong tương lai
thông qua cách ghi nhận từ từ theo một lộ trình giãn ra nhất định, thay vì dồn lại
trong một thời điểm gây sức ép lên kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực lên nền kinh tế. Nếu tình hình tài chính và hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp không sớm được phục hồi, các khoản nợ
được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ trong năm 2020 sẽ trở
thành nợ xấu thực sự vào một thời điểm nào đó trong thời gian tới.
Không chỉ đến cuối năm 2020, thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng mới

được xác định tăng lên so với cuối năm 2019 mà ngay từ giữa năm, ngày
27/7/2020, Ban chỉ đạo cơ cấu lại hệ thống ngân hàng đã họp đánh giá kết quả
thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí
điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (sau đây viết tắt là “Nghị quyết 42
của Quốc hội”) và Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt “Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử
lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020” (sau đây viết tắt là “Đề án 1058 của Thủ tướng
Chính phủ”). Qua đó, tồn hệ thống ngân hàng đã xử lý được 557.000 tỷ đồng
nợ xấu, trong đó các tổ chức tín dụng tự xử lý được trên 76%, giúp giảm tỷ lệ
nợ xấu nội bảng xuống còn 1,63%, tỷ lệ nợ xấu nội bảng kể cả nợ bán cho
VAMC và nợ tiềm ẩn ở mức khoảng 4,43%, giảm mạnh so với mức 10,08%
trước đây. Ban chỉ đạo cũng thừa nhận còn một số hạn chế, khó khăn, vướng
mắc trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết 42 của Quốc hội và Đề án 1058
của Thủ tướng Chính phủ như việc tăng vốn điều lệ, đặc biệt là các ngân hàng
14
14


thương mại nhà nước, tiến độ cơ cấu lại một số tổ chức tín dụng chậm, thể chế
cịn một số bất cập…
Năm 2020, mặc dù ngành Ngân hàng phải đối diện với nhiều khó khăn và
thách thức nhưng lợi nhuận của một số ngân hàng đạt được khá ấn tượng. Tuy
nhiên khi có kết quả kinh doanh tốt, các ngân hàng thường có xu hướng tận
dụng những giai đoạn lợi nhuận tăng mạnh để tăng cường trích lập dự phịng rủi
ro tín dụng và chuyển nợ xấu, nợ ngoại bảng (nợ được xử lý bằng quỹ dự phòng
rủi ro). Do đó, với dự kiến quy mơ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn trong năm
2021 (GDP được Quốc hội phê duyệt mức tăng khoảng 6%) và đóng góp tích
cực vào kết quả lợi nhuận, không loại trừ khả năng nhiều ngân hàng sẽ tận dụng
cơ hội đó để chuyển nợ xấu và trích lập dự phịng rủi ro tín dụng thực chất hơn,
từ đó kìm hãm tăng trưởng lợi nhuận.


Rủi ro nợ xấu của các ngân hàng vẫn còn hiện hữu, có thể bộc lộ rõ hơn trong
năm 2021 và ngành Ngân hàng vẫn nặng gánh nợ xấu trích lập dự phòng rủi ro
được Fitch Ratings nhận định sẽ tiếp tục tăng do ảnh hưởng, tác động của đại
dịch Covid-19 kéo dài. Mặt khác, khi lãi suất huy động của ngân hàng ngày
càng giảm thì người dân và doanh nghiệp có thể chuyển nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi sang các kênh đầu tư khác mang lại lợi ích cao hơn như đầu tư bất
động sản, kinh doanh chứng khoán, mua bán vàng… Điều này được dự báo lãi
suất cho vay của ngân hàng sẽ khó giảm sâu trong năm 2021.
Chính vì vậy, tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 07/01/2021 về tổ chức thực
hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2021, Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các giải
pháp cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, tích cực triển khai các biện pháp
xử lý nợ xấu, kiểm soát và hạn chế nợ xấu mới phát sinh, tăng cường cơng tác
kiểm tra, kiểm sốt hoạt động của tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với các lĩnh
vực tiềm ẩn rủi ro cao, đảm bảo an toàn, tuân thủ đúng các quy định của pháp
luật
4. Áp lực số hoá
Từ khi xảy ra Covid-19, khách hàng có nhu cầu mạnh mẽ về thơng tin cập
nhật nhất về tài khoản của mình, trải nghiệm các sản phẩm, dịch vụ của Ngân
hàng nhanh nhất trên nền tảng số với ứng dụng thân thiện nhất. Việc đo lường,
15
15


phân tích, quản trị hiệu quả kết hợp với cơng nghệ một cách chiến lược sẽ đưa
ra các thông tin có ý nghĩa đầy đủ và nhanh chóng.
Dịch Covid-19 cũng đem lại những điều tích cực cho sự phát triển chung, cụ
thể là đã thúc đẩy nhận thức chuyển đổi số ngành Ngân hàng sớm thêm từ 3 đến
5 năm, đặt các hệ thống ngân hàng trước yêu cầu bắt buộc phải chuyển đổi số để

tồn tại và phát triển. Điều này phù hợp với xu hướng số hóa lĩnh vực tài chính,
ngân hàng trên tồn thế giới và đây chính là cơ hội tạo bước nhảy vọt cho ngành
Ngân hàng Việt Nam.
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh từ các cơng ty cơng nghệ tài chính (Fintech) sẽ
gây áp lực đối với các ngân hàng về việc chia sẻ thị phần ở một số dịch vụ
truyền thống như thanh toán, chuyển tiền, phân phối bảo hiểm và thậm chí là
cho vay, từ đó cũng dần ảnh hưởng lên nguồn thu phí dịch vụ, thu nhập từ cho
vay của các ngân hàng. Gần đây mơ hình cho vay ngang hàng đã được các cơ
quan quản lý nhà nước đề xuất có chính sách kiểm sốt, nhưng điều đó có thể
mở đường cho việc hợp thức hóa mơ hình kinh doanh này trong giai đoạn tới.
Trong khi đó, dịch vụ thanh tốn di động (Mobile Money) với sự tham gia
của các doanh nghiệp viễn thơng, trong đó giai đoạn đầu tiên sẽ cung cấp các
dịch vụ cơ bản như chuyển tiền, rút tiền, thanh tốn,… và tương lai có thể là các
sản phẩm như thu chi hộ, cho vay, gửi tiền,… đòi hỏi các ngân hàng phải vào
cuộc với sự cạnh tranh quyết liệt hơn. Do đó, nhiều ngân hàng đã áp dụng chính
sách miễn phí chuyển khoản, quản lý tài khoản để duy trì khả năng cạnh tranh
và giữ chân khách hàng.
Trước tình thế trên, các ngân hàng khơng thể khơng áp dụng công nghệ
chuyển đổi số càng nhanh càng tốt trong các sản phẩm dịch vụ của mình nếu
khơng muốn suy giảm năng lực cạnh tranh trước các đối thủ mới, đặc biệt trong
bối cảnh các yêu cầu bảo mật dữ liệu thông tin khách hàng, bảo đảm an ninh, an
tồn các hệ thống thanh tốn và cơng nghệ thơng tin, cũng như các quy trình
quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng đòi hỏi ngày càng được nâng cao
Song song với xu hướng số hóa mạnh mẽ đó, dịch Covid-19 đã tạo bước nhảy
vọt trong hoạt động thanh tốn khơng dùng tiền mặt và các con số thống kê của
NHNN cũng đã chỉ ra điều này. Số liệu từ Vụ Thanh toán thuộc NHNN cho
thấy, trong 6 tháng đầu năm 2020 đã có 200 triệu giao dịch thanh toán qua
Internet với giá trị khoảng 12,9 triệu tỷ đồng, tăng 36% (so với cùng kỳ năm
2019).
16

16


Một kết quả khảo sát tại các NHTM ở Việt Nam cho thấy, số hóa giúp các
ngân hàng tiết kiệm đến 60-70% chi phí và một khi đã tiếp cận với số hóa, các
ngân hàng có xu hướng tiếp cận ngày càng sâu hơn với dịch vụ ngân hàng số,
tích hợp đa chiều trong cung ứng dịch vụ tài chính trọn gói. Ơng Morisset cho
rằng, trước khủng hoảng, Việt Nam đang chậm hơn so với các nước khác về quá
trình số hóa. Sau một năm dịch COVID-19, q trình chuyển đổi, số hóa của
Việt Nam đã tăng tốc với việc nhiều cơng cụ số hóa được áp dụng. Đặc biệt,
Chính phủ cũng đã rất chủ động bằng việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành
chính, thực hiện thủ tục đối với doanh nghiệp thơng qua con đường số hóa. Như
vậy, đối với khủng hoảng, tác động tiêu cực luôn đi cùng với nhiều cơ hội.
Trước đây, Việt Nam cũng đã nhiều lần chứng tỏ được khả năng là nắm bắt
được “cơ trong nguy”.

IV. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
1. Cơ hội
1.1. Môi trường vĩ mô
a. Nhân tố công nghệ
Khi các ngân hàng phải giới hạn nghiêm ngặt giờ làm việc của họ trong thời
gian đóng cửa, ngân hàng kỹ thuật số đã giải quyết vấn đề này để đáp ứng nhu
cầu tài chính của khách hàng tại nhà. Do đó, đây là bước ngoặt cho sự phát triển
của thị trường thanh tốn kỹ thuật số.
Cơng ty kiểm tốn tồn cầu PwC ghi nhận Việt Nam là thị trường tăng trưởng
nhanh nhất về thanh toán di động trong năm 2018 với tỷ lệ người tiêu dùng sử
dụng thiết bị di động để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tăng từ 37% lên 61%.
Theo Ngân hàng Nhà nước, tới cuối năm 2020, số lượng và giá trị giao dịch
thanh toán qua di động tăng tới hơn 1111.2% và 4049.1% so với cùng kỳ năm
2016. Riêng năm 2020, số lượng giao dịch thanh toán qua Internet đạt gần 374

triệu giao dịch với giá trị đạt hơn 22,4 triệu tỷ đồng (tăng 8.3% về số lượng và
25.5% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ năm 2019); số lượng giao dịch thanh
toán qua điện thoại di động đạt gần 918,8 triệu giao dịch với giá trị đạt gần 9,6
triệu tỷ đồng (tăng 123.9% về số lượng và 125.4% về giá trị so với cùng kỳ năm
2019).
17
17


Đây thực sự là bước tiến lớn cho ngành ngân hàng truyền thống trong việc
nhanh chóng bắt kịp cũng như thích ứng được với mơi trường, đáp ứng nhanh
nhu cầu và đem lại trải nghiệm tốt cho người sử dụng.
b. Nhân tố văn hoá - xã hội
Dịch bệnh Covid-19 cũng đã làm thay đổi nhận thức và hành vi sử dụng cơng
nghệ. Chẳng hạn như, hạn chế thói quen sử dụng tiền mặt của người dân. Đây
cũng là cơ hội để NHTM triển khai và đẩy mạnh các dịch vụ ngân hàng điện tử,
góp phần giúp các NHTM tăng tỷ trọng, lợi nhuận từ hoạt động phi tín dụng và
giảm thiểu nguồn nhân lực.
1.2. Môi trường ngành
a. Thương hiệu, danh tiếng được cải thiện
Đầu tiên là khả năng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, khi các ngân
hàng có các trang web riêng để cung cấp thông tin cần thiết cho khách hàng hay
các ứng dụng giao dịch phục vụ, tiếp cận khách hàng một cách nhanh chóng.
Tiếp theo là kinh doanh có đạo đức, bền vững: trong tình hình dịch bệnh, với
chỉ thị của Chính phủ thì các ngân hàng cũng quan tâm đến kinh tế và người
tiêu dùng khi có những chính sách linh hoạt trong việc giảm lãi suất cho vay, gia
tăng thời hạn vay nợ của khách hàng,...để khuyến khích doanh nghiệp hay cá
nhân có thể tiếp tục việc kinh doanh của họ.
b. Sự kết hợp với các dịch vụ thay thế
Hiện nay, các ngân hàng truyền thống đã liên kết với các ví điện tử như

Airpay, Viettelpay,... giúp khách hàng thuận tiện thanh toán, cũng như giúp
người sử dụng hưởng các khuyến mãi khi liên kết với tài khoản ngân hàng.
2. Thách thức
2.1. Môi trường vĩ mơ
a. Nhân tố kinh tế
Thứ nhất, do tình hình dịch bệnh phức tạp, tình hình tài chính của cá nhân
cũng như doanh nghiệp bị ảnh hưởng đáng kể. Đặc biệt, là các lĩnh vực kinh
doanh dịch vụ như du lịch, nhà hàng, quán ăn,... đều gặp hạn chế hoặc có khi
18
18


phải đóng cửa hồn tồn vì dịch bệnh phức tạp. Vì thế, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp
gia tăng mạnh trên cả nước so với các năm trước. Vậy nên, cũng là nguyên nhân
các khoản vay ngân hàng không được trả đúng hạn hoặc có thể trở thành nợ xấu
cho các ngân hàng.
Trên thực tế, báo cáo tài chính 9 tháng đầu năm 2020 của hầu hết các ngân
hàng đều ghi nhận nợ xấu tăng khá mạnh. Báo cáo chiến lược tháng 11 của
Cơng ty Chứng khốn Rồng Việt (VDSC) cho thấy: Quý III/2020 nợ xấu tại 17
ngân hàng niêm yết ở mức hơn 97.280 tỷ đồng, tăng 31% so với cuối năm 2019
và tỷ lệ nợ xấu tương đương 1.8% tổng tài sản. Số liệu thống kê của NHNN
cũng cho thấy, đến cuối quý III/2020 tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống ngành
ngân hàng cũng tăng lên mức 2.14% từ mức 1.8% tại thời điểm cuối quý II:

Tỷ lệ nợ xấu (% tổng tài sản). Nguồn: FiinPro, NHNN, VDSC
Đây là yếu tố trực tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận và vốn ngân
hàng, dẫn đến việc phải trích lập dự phịng bổ sung, làm suy yếu thêm khả năng
sinh lời.
Tuy nhiên, có nhiều ngân hàng đang kiểm soát nợ xấu khá tốt trong cuối năm
2020 như ngân hàng Vietcombank, ông Nghiêm Xuân Thành - Chủ tịch Hội

đồng quản trị Vietcombank cho biết, đến cuối năm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng
giảm còn 0.61% tổng dư nợ, mức thấp nhất trong các tài chính tín dụng và cũng
thấp nhất trong lịch sử của nhà băng này. VietinBank cũng kiểm soát tỷ lệ nợ
xấu cũng giảm mạnh từ mức 1.87% tại thời điểm cuối tháng 9 về còn dưới 1%
vào cuối năm 2020.
19
19


Tuy vậy, nợ xấu sẽ thực sự thể hiện rõ hơn trong tình hình phức tạp của đại
dịch năm 2021 này và là tình trạng đáng lo ngại cho các ngân hàng. Chính vì
thế, các ngân hàng vẫn cần phải có những chính sách đề phịng cho tình trạng
rủi ro nhất.
Thứ hai, vấn đề lãi suất cho vay cũng là một yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ. Sau
Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 02/CT-NHNN của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về các giải pháp cấp bách của Ngân hàng
nhằm tăng cường phòng, chống và khắc phục khó khăn do Covid-19, nhiều
ngân hàng liên tiếp triển khai các chương trình hỗ trợ dành cho khách hàng
doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Lãi suất cho vay giảm để hỗ trợ khách
hàng vay vốn bị ảnh hưởng bởi Covid-19 trong khi tăng trưởng tín dụng ở mức
thấp làm giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng:
Các ngân hàng đã dành một lượng tín dụng khơng nhỏ để cho vay mới với lãi
suất ưu đãi nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh.
Mức giảm lãi suất thông thường là 0.5% - 1.5%/năm cho các khoản vay mới, ở
một số ngân hàng cịn có mức cắt giảm sâu hơn ở mức 2%-5% như TPBank,
HDBank, Vietcombank.
Tuy nhiên, theo Tổng cục Thống kê (2020), tăng trưởng tín dụng tồn ngành
3 tháng đầu năm vẫn ở mức khá thấp, chỉ khoảng 0.68%, trong khi cùng kỳ năm
trước tăng 1.9%. Điều này là do nhu cầu từ doanh nghiệp, cá nhân hay hộ gia
đình đã giảm đi đáng kể do gặp khó khăn về tài chính.

b. Nhân tố cơng nghệ
Việc sử dụng giao dịch, thanh tốn qua mạng Internet đôi khi cũng gặp phải
những bất cập trong đường truyền về mạng hay gia tăng tiềm ẩn của các cuộc
tấn cơng mạng đối với chính khách hàng cũng như Ngân hàng và các gian lận
do nhân viên làm việc từ xa tại nhà hay môi trường kém an tồn.
c. Nhân tố văn hố - xã hội
Do việc giao dịch thông qua công nghệ số, hạn chế đến trực tiếp ngân hàng
truyền thống, có thể gây trở ngại cho việc sử dụng giao dịch đối với những
người trung niên, lớn tuổi không rành về công nghệ. Do vậy, là nguyên nhân
gây ra sự bất tiện và sự không hài lòng đối với ngân hàng.

20
20


2.2. Môi trường ngành
a. Cạnh tranh với đối thủ hiện tại
Với sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, thì trong tình hình kinh tế căng thẳng,
các ngân hàng bị ảnh hưởng rất nhiều về sự rút vốn của khách hàng, thời hạn trả
nợ, nợ xấu của ngân hàng, giảm lãi suất cho vay khách hàng. Đây là thách thức
về tăng trưởng tín dụng cũng như dự phịng tài chính của ngân hàng trong việc
duy trì, tồn tại. Vấn đề giảm lãi suất cho vay cũng là thách thức lớn nếu ngân
hàng đối thủ có mức lãi suất cho vay thấp hơn, do đó khách hàng có thể cân
nhắc việc vay từ ngân hàng đối thủ.
Với sự cạnh tranh đối với các công ty “Fintech”, đây là sự cạnh tranh từ các
cơng ty cơng nghệ tài chính sẽ gây áp lực đối với các ngân hàng về việc chia sẻ
thị phần ở một số dịch vụ truyền thống như thanh toán, chuyển tiền, phân phối
bảo hiểm và thậm chí là cho vay; điều này sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu phí dịch
vụ, thu nhập từ cho vay của các ngân hàng.
b. Nguy cơ của dịch vụ thay thế

Trong khi đó, ngày nay dịch vụ thanh toán di động (Mobile Money) với sự
tham gia của các doanh nghiệp viễn thông: cung cấp các dịch vụ cơ bản như
chuyển tiền, rút tiền, thanh tốn và tương lai có thể là các sản phẩm như thu chi
hộ, cho vay, gửi tiền,… Momo cho phép khách hàng nạp tiền vào tài khoản
momo luôn, mà không cần thông qua ngân hàng. Đây thực sự là mối lo ngại, đòi
hỏi các ngân hàng phải vào cuộc với sự cạnh tranh quyết liệt hơn.
c. Sức ép của khách hàng
Ở đây, sự phức tạp rủi ro của ngân hàng là khả năng rút vốn tín dụng của
khách hàng. Các ngân hàng đóng vai trị quan trọng để đảm bảo nguồn vốn sẵn
có đủ để hỗ trợ các cá nhân và doanh nghiệp mà khơng làm ảnh hưởng đến tính
thanh khoản. Vì thế, điều cốt lõi là cần phải đảm bảo nguồn vốn để duy trì tài
chính cho khách hàng, phải trích lập vốn dự phịng phù hợp trong tình trạng
dịch bệnh phức tạp, có khi phải bao phủ nguồn vốn khá lớn. Các khoản lỗ tín
dụng dự kiến đã được tính tốn trước đó cũng cần được xem xét lại để tính đến
sự khơng chắc chắn và quy mơ của đại dịch.

21
21


V. CÁC XU HƯỚNG, GIẢI PHÁP VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO NGÀNH
NGÂN HÀNG
1. Các xu hướng của ngành tài chính ngân hàng trong đại dịch
1.1. Vấn đề suy giảm tài sản
Suy thoái từ Covid-19 và sự suy giảm giá trị tài sản sẽ làm giảm khả năng
chịu rủi ro do áp lực Tài sản Trọng số Rủi ro tăng cao, dẫn tới suy giảm năng
lực cho vay của ngành Tài chính Ngân hàng để hỗ trợ nền kinh tế thực trong
giai đoạn phục hồi kinh tế trong thời kỳ sắp tới. Dù trong kịch bản nào, các
doanh nghiệp đều sẽ cần chuẩn bị tìm kiếm các nguồn tài chính khác như tăng
phát hành cổ phiếu trên thị trường vốn, tiếp cận nguồn vay từ các tổ chức tài

chính phi Ngân hàng, như quỹ đầu tư tư nhân và quỹ đầu tư quốc gia.
Tại Việt Nam, vấn đề suy giảm giá trị tài sản tại các Ngân hàng và ảnh hưởng
tới năng lực cho vay đã được quản lý một cách hiệu quả và kịp thời bởi Thông
Tư 01/2020/TTNHNN, chỉ đạo các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngồi cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ, miễn, giảm lãi và phí, giữ ngun nhóm nợ nhằm
hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (Thông tư 01). Cùng với
các biện pháp hỗ trợ khác, biện pháp này đã giảm đáng kể tác động từ nợ xấu và
tăng dự phòng cho các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, quy định về thời hạn cơ cấu
lại, trong trường hợp kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ, không vượt quá
12 tháng kể từ ngày cuối cùng của thời hạn cho vay theo thỏa thuận cho vay đã
ký cũng là một điểm đáng lưu ý trong đánh giá tác động của Covid-19 tới bảng
cân đối và khả năng mở rộng cho vay của các Ngân hàng trong thời gian tới, khi
thời điểm của việc cơng bố hết dịch Covid-19 cịn chưa thể dự đốn rõ ràng.
1.2. Số hóa
Covid-19 đã thay đổi cách thức hoạt động của xã hội một cách đáng kể, ngay
cả những cá nhân trước đây ít tiếp thu công nghệ nhất trở thành những người ưa
chuộng thương mại điện tử. Những chuyển biến này ít có khả năng quay trở lại
như thời kì trước khi dịch bệnh bùng nổ, và các giải pháp kỹ thuật số sẽ trở
thành yếu tố tạo nên sự khác biệt. Điều này, cùng với xu hướng số hóa ở ngành
Ngân hàng Việt Nam nhằm đáp ứng các kỳ vọng mới của khách hàng, đã không
ngừng tạo áp lực cho việc chuyển đổi số. Trong những năm gần đây, các tổ chức
tín dụng tại Việt Nam đã tập trung vào xu hướng số hóa trong một phần chiến
lược dài hạn. Theo NHNN, Việt Nam hiện có 70 tổ chức tín dụng và tổ chức
22
22


cung ứng dịch vụ thanh tốn trung gian (như ví điện tử) đã cung cấp dịch vụ
thanh toán qua Internet. Theo Law Plus, giá trị giao dịch tài chính qua kênh
Internet đạt hơn 7 triệu tỷ đồng (300 tỷ USD) và 300 nghìn tỷ đồng (13 tỷ

USD). Ngồi ra, theo thống kê từ NAPAS, thanh toán điện tử trong quý I/2020
tăng 76%, tổng giá trị giao dịch tăng 124% so với cùng kỳ năm 2019. Các giao
dịch tài chính kỹ thuật số đã bùng nổ trong quý I/ 2020. Tất nhiên, vẫn còn một
số rào cản tồn tại đối với các ngân hàng, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến
đảm bảo an ninh mạng, lòng tin của khách hàng và khung pháp lý đang được
hoàn thiện. Tuy nhiên, xu hướng số hóa vẫn sẽ là một trong những xu hướng
quan trọng đối với các tổ chức tài chính cả trong nước và tồn cầu.
1.3. Các chính sách quản lý ngành vẫn tiếp tục được thúc đẩy
Trong hệ thống Tài chính Ngân hàng tồn cầu, Covid-19 sẽ khơng trì hỗn và có thể đẩy nhanh - việc ban hành các chính sách quản lý hiện hành và đã
được lên kế hoạch ở các quốc gia và khu vực. Việc cải cách các chính sách quản
lý đã, đang và sẽ là một xu hướng quan trọng trong ngành Tài chính Ngân hàng
toàn cầu. Trên thực tế, các quy định mới sẽ tiếp tục được cân nhắc ban hàn trong
các lĩnh vực như cấm vận, phòng chống rửa tiền và nhận biết khách hàng
(Know your-customer), IFRS, và cải cách tỷ giá tham chiếu/ thay thế LIBOR,
cùng với những lĩnh vực khác. Việc áp dụng các yêu cầu mới của Basel và quy
định vốn chặt chẽ hơn sẽ tiếp tục là thách thức cho các mơ hình và thể chế kinh
doanh cho vay truyền thống trên tồn cầu. Khơng đứng ngồi xu hướng tồn
cầu này, tại Việt Nam, chương trình chuyển đổi chuẩn mực quản trị rủi ro theo
Basel II tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ. Ngày 14/01/2020, Hội đồng quản trị
(HĐQT) - bộ phận nắm quyền quyết định quan trọng nhất - tại Ngân hàng
Thanh toán Quốc tế (BIS) đã ra thơng báo chính thức mời Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam (NHNN) trở thành hội viên của BIS. Việc trở thành thành viên của
BIS sẽ giúp NHNN và hệ thống ngân hàng tiếp cận các nguyên tắc, chuẩn mực
cao nhất của hệ thống tài chính tồn cầu, góp phần đẩy nhanh việc hội nhập
quốc tế của hệ thống tài chính ngân hàng trong nước. Đồng thời, quy định về
ICAAP trong Thơng tư 13 có hiệu ngày 1 tháng 1 năm 2021 với kỳ thực hiện
báo cáo trong đầu năm 2022 là động lực mạnh mẽ về sự chuyển đổi trong
phương thức quản trị chiến lược gắn với rủi ro trong ngành Ngân hàng.
Trong bối cảnh đặt ra đầy thách thức cũng như cơ hội mới này, đâu là con
đường dẫn tới thành cơng dành cho các định chế tài chính, không những vượt

23
23


qua khủng hoảng hiện nay, mà còn đạt được thành công bền vững trong tương
lai?
2. Các giải pháp đã được áp dụng
2.1. Chia sẻ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp để đồng hành phát triển
Trước tình hình đại dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, ở châu Âu,
Mỹ và nhiều nước khác trên thế giới vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được đại
dịch Covid-19, vắc-xin Covid-19 đang trong giai đoạn thử nghiệm, ngày
26/12/2020, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2021, Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng yêu cầu các tổ chức tín dụng tiếp tục
tiết giảm chi phí hoạt động, giảm chỉ tiêu lợi nhuận để có điều kiện giảm lãi suất
cho vay, nhất là đối với khoản cho vay cũ, cho vay trung dài hạn cho doanh
nghiệp và người dân.
Kể từ đầu năm 2020 đến nay, nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế
Việt Nam nói riêng đã và đang chịu ảnh hưởng, tác động tiêu cực của đại dịch
Covid-19. Trước khó khăn chung của nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã 03 lần hạ lãi suất điều hành và ban hành Thông tư số 01/2020/TTNHNN làm cơ sở pháp lý cho các tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ,
miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh
hưởng do dịch Covid-19. Theo đó, các tổ chức tín dụng đã 03 lần đồng thuận hạ
lãi suất cho vay từ 1.5% - 2%/năm để hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại
dịch Covid-19. Nhờ đó, lãi suất cho vay giảm bình quân khoảng 1%/năm so với
cuối năm 2019; lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số
ngành, lĩnh vực ưu tiên ở mức 4.5%/năm. Tính đến cuối tháng 12/2020, các tổ
chức tín dụng đã cơ cấu thời hạn trả nợ cho khoảng 270 nghìn khách hàng với
dư nợ gần 355 nghìn tỷ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất cho khoảng 590 nghìn
khách hàng với dư nợ trên 1 triệu tỷ đồng; cho vay mới lãi suất ưu đãi với
doanh số lũy kế từ ngày 23/01/2020 đến cuối tháng 12/2020 đạt gần 2.3 triệu tỷ

đồng cho hơn 390 nghìn khách hàng. Ước tính tổng số tiền phí dịch vụ thanh
tốn mà các ngân hàng miễn, giảm cho khách hàng đến hết năm 2020 sau 02 đợt
giảm phí là khoảng 1.004 tỷ đồng.

24
24


2.2. Đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng gắn với kiểm soát chất lượng và xử lý nợ
xấu
Trên cơ sở định hướng và chính sách tiền tệ được dự báo “nới lỏng” của
Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh
năm 2021 cho phù hợp với tình hình kinh tế trong nước và thế giới, trong đó
tăng trưởng tín dụng hợp lý gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung vào
các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, kiểm sốt chặt tín dụng trong lĩnh vực
tiềm ẩn rủi ro. Ngân hàng tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp, người dân bị thiệt
hại do thiên tai, dịch bệnh Covid-19 để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho họ
được tiếp cận nguồn vốn vay giá rẻ, kịp thời nhằm tận dụng được cơ hội kinh
doanh, phát triển sản xuất và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng. Ngoài ra,
một giải pháp cần thiết để hạn chế nợ xấu gia tăng được đánh giá phù hợp trong
giai đoạn hiện nay là việc các ngân hàng cần nỗ lực đẩy mạnh tăng trưởng tín
dụng trong ngắn hạn và điều chỉnh danh mục cho vay, thậm chí hướng tới điều
chỉnh danh mục tài sản tiến tới giảm tỷ trọng tài sản tín dụng, tăng tài sản phi tín
dụng trong dài hạn.
Bên cạnh việc mở rộng và tăng trưởng tín dụng gắn với kiểm sốt chất lượng,
các ngân hàng cần quyết liệt, chủ động hơn nữa trong công tác xử lý thu hồi nợ
xấu để tạo nguồn bổ sung cung cấp vốn cho nền kinh tế và dự phòng nợ xấu
phát sinh thêm trong năm 2021. Thơng tư số 01/2020/TT-NHNN đang giúp các
ngân hàng hỗn, giãn việc ghi nhận nợ xấu và các thiệt hại từ dịch bệnh Covid19 trong ngắn hạn có thể đẩy các khó khăn, chất lượng tín dụng khơng tốt cho
ngân hàng trong tương lai thông qua cách ghi nhận từ từ theo một lộ trình giãn

ra nhất định, thay vì dồn lại trong một thời điểm gây sức ép lên kết quả hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực lên nền kinh tế. Nếu
tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp không sớm
được phục hồi, các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên
nhóm nợ trong năm 2020 sẽ trở thành nợ xấu thực sự vào một thời điểm nào đó
trong thời gian tới.
3. Các nhiệm vụ được đặt ra trong tương lai cho ngành ngân hàng
Thứ nhất, đẩy mạnh cho vay tiêu dùng hướng tới khách hàng cá nhân. Đây là
những khách hàng vay có dư nợ chiếm tỷ trọng lớn ở hầu hết các ngân hàng
trong năm 2020 nhưng tỷ lệ nợ xấu luôn ở mức thấp (dưới 1%).

25
25


×