Tải bản đầy đủ (.docx) (111 trang)

Hội nhập quốc tế ngành NH công tác phòng chống rửa tiền. Thực trạng và giải pháp - Khoá luận tốt nghiệp 273

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 111 trang )

Lớp

: NHTM A

Khóa
Khoa

: 14
: Ngân hàng

GVHD

: TH.S NGUYỄN THANH NHÀN

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HỘI NHẬP QUỐC TẾ NGÀNH NGÂN HÀNG
CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Sinh viên thực hiện : PHẠM NGỌC MAI


Hà Nội, Tháng 5/2015


DANHLỜI
MỤC
TỪ ƠN
VIẾT TẮT
CẢM


Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Nguyễn Thanh Nhàn trong
thời gian vừa qua, mặc dù cô rất bận với công việc của mình, nhưng đã dành thời gian
trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em tận tình, giúp em có được những kiến thức quý báu,
biết cách nghiên cứu vấn đề và khắc phục sửa chữa những sai sót. Với những lời chỉ
dẫn và sự động viên của cô, em đã vượt qua nhiều khó khăn để có thể hồn thành bài
khóa luận tốt nghiệp của mình một cách tốt nhất.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc cùng các thầy, cô giáo
trường Học Viện Ngân Hàng, đặc biệt là các thầy, cô giáo khoa Ngân Hàng đã truyền
thụ cho em rất nhiều những kiến thức hữu ích trong quá trình em học tập ở trường.
Em xin chân thành cảm ơn!
STT

TỪ VIẾT TẮT

NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ

ĩ

ADB

Ngân hàng phát triển Châu Á

2

ALM

Anti- Money- Laundering: phịng chống rửa tiền

3


APG

Nhóm Châu Á- Thái Bình Dương về chống rửa tiền.

4

CFT

Chống khủng bố

5

FATF

Lực lượng đặc nhiệm tài chính quốc tế

6

IMF

Quỹ tiền tệ quốc tế

7

MOU

Bản ghi nhớ trao đổi thông tin

8


NHNN

Ngân hàng nhà nước

9
ĩõ

NHTM
NHTMCP

ĩĩ

NHTW

Ngân hàng trung ương

ĩ2

TCTD

Tổ chức tín dụng

ĩ3

WB

Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thế giới




HỆ THỐNG BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP 2006- 2014.........................................................35
Bảng 2.2: Thống kê tình hình tội phạm qua các năm 2006- 2008...............................38
Bảng 2.3: Thống kê tội phạm.......................................................................................38
Bảng 2.4: Số lượng báo cáo giao dịch đáng ngờ được thống kê theo biểu hiện rửa tiền
..................................................................................................................................... 42
Bảng 2.5: Số lượng yêu cầu tương trợ tư pháp để điều tra và đối phó với hoạt động
rửa tiền........................................................................................................................ 56
Biểu đồ 2.1: Số lượng NHTM Việt Nam, 2006- 2014.................................................32
Biểu đồ 2.2: Luồng vốn vào ròng giai đoạn 2000- 2011..............................................35
Biểu đồ 2.3: Lượng kiều hối bình quân qua các thời kỳ..............................................41
Sơ đồ 2.1: Quy trình phịng, chống rửa tiền của HSBC Việt Nam...............................53


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ NGÀNH NGÂN
HÀNG VÀ PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN................................................................. 2
1.1. Cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế ngành ngân hàng..........................................2
1.1.1...............................................Khái niệm về hội nhập quốc tế ngành ngân hàng
............................................................................................................................ 2
1.1.2....................................Hệ quả của quá trình hội nhập quốc tế ngành ngân hàng
............................................................................................................................ 3
1.2 Rửa tiền- phòng chống rửa tiền...................................................................... 5
1.2.1........................................................................................................................ R
ửa tiền................................................................................................................ 5

1.2.2..........................................................................................Phòng chống rửa tiền
.......................................................................................................................... 16
1.3 Rửa tiền- phòng chống rửa tiền trong bối cảnh hội nhập............................22
1.3.1..........................................Nguy cơ hoạt động rửa tiền trong bối cảnh hội nhập
.......................................................................................................................... 22
1.3.2....................................Cơng tác phịng chống rửa tiền trong bối cảnh hội nhập
.......................................................................................................................... 23
1.4 Kinh nghiệm phòng chống rửa tiền của các quốc gia...................................24
1.4.1..............................................................................Phòng chống rửa tiền tại Mỹ
.......................................................................................................................... 24
1.4.2....................................................................Phòng chống rửa tiền tại Singapore
.......................................................................................................................... 26
1.4.3..................Kinh nghiệm phòng chống rửa tiền ở một số ngân hàng nước ngoài
.......................................................................................................................... 26
1.4.4....................................................................Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
.......................................................................................................................... 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.......................................................................................... 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ NGÀNH NGÂN HÀNG VÀ
CƠNG TÁC PHỊNG CHỐNG RỬA TIỀN TẠI VIỆT NAM...............................30
2.1 Hội nhập quốc tế ngành ngân hàng tại Việt Nam......................................... 30


2.3.2....................................................................................................Hạn chế
............................................................................................................... 57
2.3.3..............................................................................Nguyên nhân hạn chế
...............................................................................................................59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .......................................................................................... 62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ............................................................63
3.1 Định hướng phát triển ngành ngân hàng giai đoạn 2015- 2020 và chiến lược
Phòng chống rửa tiền.................................................................................................63

3.1.1........................................................................................................................ Đị
nh hướng phát triển ngành ngân hàng giai đoạn 2015- 2020............................63
3.1.2................................................Chiến lược Phòng chống rửa tiền đến năm 2020
......................................................................................................................... 65
3.2Kiến nghị giải pháp......................................................................................... 66
3.2.1..................................Nhóm giải pháp thuộc về Nhà nước và NHNN Việt Nam


1
LỜI MỞ ĐẦU
Trước xu thế hội nhập quốc tế, ngành Ngân hàng Việt Nam khơng đứng ngồi
cuộc, và ngày càng hội nhập sâu rộng với nền tài chính thế giới. Trong bối cảnh hội
nhập, bên cạnh những thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế nói chung và sự phát
triển của hệ thống ngân hàng nói riêng, hệ thống NHTM Việt Nam phải đối mặt với
nhiều rủi ro, thách thức, đặc biệt là tội phạm tài chính, trong đó có tội phạm rửa tiền.
Vấn nạn rửa tiền phát triển rộng khắp thế giới và gây ra nhiều tác động nguy hại đến
nền kinh tế các quốc gia cũng như đời sống xã hội. Ngồi việc phải đối phó với các
luồng “tiền bẩn” trong nước, hiện nay hệ thống NHTM Việt Nam cịn phải đối phó với
các nguy cơ tội phạm có tổ chức quốc tế lợi dụng Việt Nam để thực hiện hành vi rửa
tiền của chúng.
Với những khó khăn, thách thức cũng như những hạn chế trong công tác phòng
chống rửa tiền tại Việt Nam, nếu chúng ta khơng có những giải pháp để đối phó triệt
để với vấn nạn rửa tiền và thực hiện phòng, chống rửa tiền hiệu quả thì Việt Nam sẽ là
“nơi trú ẩn an toàn” cho tội phạm rửa tiền, mà hệ thống ngân hàng được cho là công cụ
thực hiện hành vi này. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hội nhập
quốc tế ngành ngân hàng; Rửa tiền- Phòng chống rửa tiền; Thực trạng và giải
pháp” nhằm đưa ra các giải pháp khuyến nghị với mong muốn góp phàn đẩy lùi nạn
rửa tiền, làm lành mạnh hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Nội dung bài viết gồm 3 chương:
-


Chương 1: Cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế ngành Ngân hàng và phòng
chống rửa tiền.

-

Chương 2: Thực trạng hội nhập ngành Ngân hàng và cơng tác phịng chống
rửa tiền tại Việt Nam.

-

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị


2
HỘI NHẬP QUỐC TẾ NGÀNH NGÂN HÀNG
CƠNG TÁC PHỊNG CHỐNG RỬA TIỀN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ NGÀNH NGÂN
HÀNG VÀ PHÒNG CHỐNG RỬA TIỀN
1.1 Cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế ngành ngân hàng
1.1.1

Khái niệm về hội nhập quốc tế ngành ngân hàng

Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội
của lao động và quan hệ giữa con người. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường
cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở
thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và
sự phát triển kinh tế cũng như đời sống xã hội của từng quốc gia.

Hội nhập quốc tế về tài chính- tiền tệ là một nội dung quan trọng của quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia, được hiểu là quá trình mà các nước, các
khu vực thực hiện mở cửa cho sự tham gia của các yếu tố bên ngồi vào lĩnh vực tài
chính- tiền tệ, bao gồm cơng nghệ, vốn đầu tư, tín dụng và lao động có trình độ
chun mơn cao. Hội nhập quốc tế về tài chính- tiền tệ là thực hiện q trình tự do hóa
tài chính. Tự do hóa tài chính là việc xóa bỏ các định hướng, các hạn chế, hay ràng
buộc trong việc phân bổ nguồn lực tài chính, bao gồm tự do hóa tỷ giá hối đối, tự do
hóa lãi suất, xóa bỏ bao cấp vốn thơng qua chỉ định tín dụng, giảm thiểu tỷ lệ dự trữ
bắt buộc, tự do hóa các hoạt động của các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế trên
nền tảng của tự do hóa các tài khoản vãng lai và tài khoản vốn. Tự do hóa tài chính
cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh của các định chế tài chính, cùng với
việc chấm dứt phân biệt đối xử về pháp lý giữa các loại hoạt động khác nhau.
Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, có thể được hiểu: “Hội nhập
quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng là quá trình chủ động gắn kết hoạt động ngân hàng
của mỗi nước với hoạt động của hệ thống ngân hàng trong khu vực và thế giới, thông
qua những nỗ lực mở cửa và tự do hóa hoạt động ngân hàng trong nước với điều
kiện các hoạt động đó phải phù hợp với thông lệ, với luật pháp quốc tế. Hoạt động
ngân hàng phải tuân thủ theo quy luật thị trường và các nguyên tắc kinh doanh
quốc tế, hoạt động ngân hàng được thực hiện theo tín hiệu thị trường do thị trường


3
quyết định mà không bị ngăn chặn bởi các biện pháp quản lý hành chính, lãi suất, tỷ
giá, hoạt động tín dung”.1
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hệ thống tài chính - ngân hàng cạnh tranh và mở
cửa là những hệ thống hỗ trợ hiệu quả cho phát triển và tăng trưởng kinh tế. Cạnh
tranh sẽ làm cho hệ thống ngân hàng vững mạnh, hiệu quả và lành mạnh hơn. Do vậy,
các nước đang phát triển nói chung mong muốn hội nhập quốc tế, phát triển và cải
cách hệ thống ngân hàng nhằm nâng cao khả năng thu hút và phân bổ các nguồn lực,
tạo thuận lợi cho các tổ chức kinh tế có thể tiếp cận các dịch vụ ngân hàng có chất

lượng cao hơn nhưng với chi phí thấp hơn. Mức độ hội nhập quốc tế đạt được trên
thực tế tuỳ thuộc vào sự phản hồi của các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng
trong nước đối với các cơ hội do sự thay đổi chính sách tạo ra. Hội nhập quốc tế trong
lĩnh vực ngân hàng được thể hiện thông qua: Mức độ sở hữu nước ngoài trong các
ngân hàng trong nước; thị phần dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng nước ngoài;
Phạm vi áp dụng các tiêu chuẩn, quy chế và quy định theo thông lệ quốc tế; và Phạm
vi dịch vụ ngân hàng cung cấp cho các hộ gia đình và doanh nghiệp là người cư trú.
1.1.2

Hệ quả của quá trình hội nhập quốc tế ngành ngân hàng

Hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng đồng nghĩa với việc từng bước thực hiện tự
do hóa và mở rộng thị trường ngân hàng theo các cam kết quốc tế. Điều này đã và
đang tạo ra cho các NHTM Việt Nam những cơ hội để phát triển nhưng cũng đặt ra
khơng ít những thách thức khó khăn phải vượt qua.
• Cơ hội

Thứ nhất, việc mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng ngoài việc cho
phép các NHTM trong và ngoài nước được hoạt động kinh doanh, cạnh tranh và lớn
mạnh trong một sân chơi cơng bằng và bình đẳng hơn cịn tạo điều kiện thuận lợi cho
các NHTM trong nước thâm nhập thị trường quốc tế và mở rộng hoạt động kinh
doanh. Hội nhập còn đem lại cho ngành ngân hàng những cơ hội trao đổi, hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực hoạch định chính sách tài chính, tiền tệ, quản lý ngoại hối, thanh tra,
giám sát phịng ngừa rủi ro và thanh tốn, từ đó nâng cao vị thế và uy tín của các
NHTM trong các giao dịch tài chính ngân hàng quốc tế.

1

Tài liệu chuyên sâu “Cơ sở lý luận về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng”http://ttbd. gov.vn/Home/Default.aspx



4
Thứ hai, sự tham gia thị trường của các NHTM nước ngồi khơng chỉ làm gia
tăng mức độ cạnh tranh mà cịn gia tăng sự lành mạnh và an tồn của tồn bộ hệ thống
NHTM. Mặt khác, thơng qua hội nhập, các NHTM có cơ hội tiếp cận với vốn, cơng
nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý của các NHTM phát triển trên thế giới. Bên
cạnh đó, để nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh và theo kịp yêu cầu phát triển
của thị trường trong và ngoài nước, các NHTM trong nước phải chủ động thực hiện cơ
cấu lại tổ chức theo hướng hợp lý và chuyên nghiệp hơn, tăng năng lực tài chính, thực
hiện chun mơn hóa sâu hơn các nghiệp vụ ngân hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn, đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ. Đó là những điều kiện quan trọng để các
NHTM hoạt động kinh doanh hiệu quả và đứng vững trong cạnh tranh.
Thứ ba, hội nhập sẽ tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và nâng cao
tính minh bạch, tính tự chịu trách nhiệm của hệ thống NHTM để đáp ứng yêu cầu của
hội nhập và thực hiện các cam kết, qua đó nâng cao hiệu quả điều hành trong lĩnh vực
tiền tệ, ngân hàng.
Thứ tư, hội nhập sẽ giúp các NHTM có cơ hội tiếp cận và phát triển đa dạng các
dịch vụ và tiện ích ngân hàng mới hiện đại, mở rộng hoạt động kinh doanh đồng thời
không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng để cạnh tranh tốt hơn. Đổi mới
sẽ tạo ra động lực cho sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của các NHTM
Việt Nam.
Thứ năm, việc hội nhập cũng địi hỏi mơi trường pháp lý phải được cải thiện
hơn để thực hiện các cam kết quốc tế, tạo mơi trường đầu tư hấp dẫn, khuyến khích
các luồng vốn chảy vào trong nước thông qua đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước
ngoài, tạo cơ hội để các NHTM cho vay và huy động vốn lớn hơn.
• Thách thức

Thứ nhất, hội nhập sẽ mang lại sự cạnh tranh gay gắt và khốc liệt cho các ngân
hàng trong nước khi thị phần của các ngân hàng nước ngồi tăng lên, đặc biệt càng
khó khăn cho các ngân hàng trẻ hoặc các ngân hàng nhỏ.

Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng các giao dịch vốn và rủi ro của hệ
thống ngân hàng, nếu cơ chế quản lý chưa hoàn thiện, nhất là cơ chế thanh tra, giám
sát, thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các bộ ngành liên quan sẽ là một thách
thức không nhỏ đối với các NHTM. Nếu như năng lực quản lý và lập pháp không theo


5
kịp và không lường trước được sự phát triển nhanh chóng của các giao dịch tài chính ngân hàng, sẽ có 2 khả năng xảy ra: Hoặc là ngành ngân hàng mất khả năng kiểm soát
dẫn tới khủng hoảng hoặc quốc gia sẽ tái áp dụng các hạn chế để duy trì kiểm sốt. Cả
2 trường hợp này đều có hại cho sự phát triển của ngành ngân hàng.
Thứ ba, hội nhập địi hỏi các NHTM trong nước phải có một nguồn nhân lực
khơng chỉ có chun mơn cao về nghiệp vụ ngân hàng mà còn phải am hiểu Luật
thương mại quốc tế và được trang bị đầy đủ những kiến thức và kỹ năng nghiên cứu,
phân tích, đánh giá và dự báo theo mơ hình và chuẩn mực quốc tế.
Thứ tư, hội nhập quốc tế ngành ngân hàng đòi hỏi các quốc gia phải điều chỉnh
thể chế, chính sách, chuẩn mực tài chính- tiền tệ; thay đổi tập quán kinh doanh sao cho
phù hợp với quy tắc, thông lệ chung để thích ứng được với cơ chế thị trường cạnh
tranh đồng nhất.
1.2 Rửa tiền- phòng chống rửa tiền
1.2.1
1.2.1.1

Rửa tiền
Khái niệm Rửa tiền

Vào những năm 70 của thế kỷ thứ XX, thuật ngữ “rửa tiền” xuất hiện lần đầu
tiên trong cáo trạng đối với một cơng ty có tên Laundromats do một tội phạm tên Al
Capon mua lại và sử dụng để hòa trộn tiền bẩn với tiền sạch tại Mỹ và bị xử về tội trốn
thuế như sau: “ Rửa tiền được gọi như vậy vì nó miêu tả một cách hồn hảo những gì
diễn ra- tiền bẩn hoặc bất hợp pháp được đưa vào một vòng các giao dịch, hoặc được

rửa sạch sao cho nó ra đằng kia như là tiền hợp pháp hay tiền sạch. Nói cách khác,
nguồn gốc của những khoản tiền kiếm được một cách bất hợp pháp được làm lu mờ đi
thông qua một chuỗi sự chuyển đổi hoặc giao dịch sao cho những khoản tiền đó có vẻ
là những khoản thu hợp pháp”2.
Thuật ngữ “Rửa tiền” xuất hiện lần đầu tiên trên tạp chí của Mỹ năm 1973 sau
vụ bê bối Watergate nổi tiếng ở Mỹ. Sau vụ bê bối này 5 năm thì thuật ngữ này chính
thức được đề cập tới trong một số văn bản pháp lý tại tòa án của Mỹ. Gần đây thuật
ngữ này càng trở nên phổ biến trên thế giới vì tính nghiêm trọng và những hệ lụy của
nó.

2

/>

6
về tổng quát, rửa tiền là một tập hợp những hành động nhằm che giấu nguồn
gốc đồng tiền có được nhờ những hành vị bất hợp pháp như phạm tội, tham những,
buôn lậu, trốn thuế... và chuyển thành những khoản tiền hợp pháp.
Đa số các nước trên thế giới tán thành với định nghĩa rửa tiền được sử dụng
trong Công ước của Liên Hợp Quốc về chống buôn bán bất hợp pháp ma túy và các
chất hướng thần (năm 1988) (Công ước Viên) và Công ước của Liên Hợp Quốc về
chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (năm 2000) (Cơng ước Palécmơ):
-

Sự chuyển hốn hoặc chuyển nhượng tài sản khi biết tài sản đó có nguồn
gốc từ bất cứ hành vi phạm tội nào hoặc từ việc tham gia vào hành vi phạm
tội đó nhằm mục đích giấu giếm hoặc che đậy nguồn gốc phi pháp của tài
sản hoặc tiếp tay cho bất kỳ cá nhân nào có dính líu đến việc thực hiện
hành vi phạm tội nói trên để tránh cho người đó phải chịu những hậu quả
pháp lý do hành động của mình;


-

Việc giấu giếm hoặc che đậy bản chất thực, nguồn gốc, địa điểm, việc định
đoạt, sự chuyển dịch, các quyền liên quan đến tài sản hoặc quyền sở hữu tài
sản khi biết rằng tài sản đó có được từ hành vi phạm tội hoặc từ việc tham
gia vào hành vi phạm tội đó và;

-

Việc có được, chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản khi tại thời điểm tiếp nhận
nó đã biết rằng tài sản này có được từ hành vi phạm tội hoặc từ việc tham
gia vào hành vi phạm tội đó.
Theo Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền- FATF: rửa tiền là toàn

bộ những hoạt động được tiến hành nhằm cố ý hợp thức hóa những khoản tiền, tài sản
có nguồn gốc từ phạm tội mà có nhằm che đậy nguồn gốc bất hợp pháp của chúng.
Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 tuy chưa sử dụng thuật ngữ “rửa tiền”
nhưng đã đề cập đến trách nhiệm của các tổ chức tín dụng đối với các khoản tiền có
nguồn gốc bất hợp pháp: “1. Tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân
hàng khơng được che giấu, thực hiện bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến khoản tiền đã
có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp. 2. Trong trường hợp phát hiện các khoản
tiền có dấu hiệu bất hợp pháp, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động
ngân hàng phải thơng báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền”3
3Luật

Các tổ chức tín dụng 2007- Điều 19.


7

Ngày 07/6/2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 74/2005/NĐ-CP
về phòng chống rửa tiền. Trong nghị định này đã nêu: “Rửa tiền là hành vi của cá
nhân, tổ chức tìm cách hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có thơng qua các
hoạt động cụ thể sau đây
a) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền,
tài sản do phạm tội mà có;
b) Thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận
chuyển, sử dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có;
c) Đầu tư vào một dự án, một cơng trình, góp vốn vào một doanh nghiệp
hoặc tìm cách khác che đậy, ngụy trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc,
bản
chất thật hoặc vị trí, q trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản
do
phạm tội mà có”4 5.
Năm 2012, để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã thơng qua Luật phịng, chống rửa tiền; theo đó: “Rửa
tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do
phạm tội mà có, bao gồm:
a) Hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự;
b) Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh
trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà
có;
c) Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do
phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản. ”5
Thực chất quy định về rửa tiền qua hệ thống ngân hàng đã có từ năm 1997,
nhưng đến năm 2005 mới được quy định cụ thể trong Nghị định 74/2005/NĐ-CP, và
cho đến nay thuật ngữ “rửa tiền” được sử dụng rộng rãi trên nhiều văn bản pháp luật
và các tài liệu, báo chí.
1.2.1.2


Kỹ thuật rửa tiền

Rửa tiền có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên về cơ bản
4
5

Khoản 1- Điều 3- NĐ 74/2005/NĐ-CP.
Khoản 1- Điều 4- Luật Phòng, chống rửa tiền 2012.


8


Giai đoạn sắp đặt (place ment):
Sắp đặt là giai đoạn đầu tiên trong quy trình rửa tiền, nhằm mục tiêu đưa những

khoản tiền có nguồn gốc phi pháp vào trong hệ thống tài chính- ngân hàng trong hoặc
ngồi nước bằng cách mở tài khoản ngân hàng và gửi tiền vào tài khoản. Để tránh bị
phát hiện thì lượng tiền lớn thường được chia thành khoản tiền nhỏ dưới định mức quy
định, hoặc được chuyển đổi thành đồng tiền có mênh giá lớn hơn, hoặc chuyển đổi từ
đồng tiền này sang đồng tiền khác, hoặc có thể được chuyển thành kim quý- đá quý
hoặc gửi vào nhiều tài khoản khác nhau, gửi tại nhiều thời điểm, nhiều phòng giao
dịch khác nhau của một hoặc nhiều tổ chức tài chính. Bên cạnh đó các khoản tiền phi
pháp có thể được chuyển thành các cơng cụ tài chính khác như lệnh chuyển tiền, séc...
và được gộp cùng với các khoản tiền hợp pháp để tránh sự chú ý.


Giai đoạn sắp lớp, phân tán (layering):
Giai đoạn sắp lớp, phân tán (layering) được thực hiện ngay sau khi các khoản


tiền này được đưa vào hệ thống tài chính nhằm tách chúng ra khỏi nguồn gốc phi pháp.
Lúc này các khoản tiền sẽ được chuyển dịch khắp nơi, quay vòng nhiều lần từ tài
khoản này sang tài khoản khác cùng hoặc khác ngân hàng, hoặc từ quốc gia này sang
quốc gia khác, hoặc có thể chuyển đổi tiền “bẩn” thành các loại tài sản lớn (bất động
sản, ơ tơ, chứng khốn, séc.) đề tránh bị nghi ngờ và ngày càng tách xa nguồn gốc
phạm tội.


Giai đoạn hòa nhập, hợp nhất (integration):
Ở giai đoạn này các khoản tiền “bẩn” sẽ được hịa nhập, đưa vào lưu thơng

trong nền kinh tế chính thống bằng cách đầu tư hợp pháp vào các hoạt động sản xuất
kinh doanh như: đầu tư vốn vào các doanh nghiệp, mua cổ phần, bất động sản. Việc
đầu tư này không những làm tăng giá trị đồng tiền “bẩn” mà còn làm cho những đồng
tiền có nguồn gốc phi pháp trộn lẫn vào các đồng tiền hợp pháp, như vậy sẽ có xác
định hành vi cấu thành tội phạm.


9

Yêu cầu cơ bản để việc rửa tiền được thành cơng là phải khéo léo xóa được mọi
dấu vết giấy tờ giao dịch. Tránh khai báo hải quan, xâm nhập cài người vào hệ thống
ngân hàng, trì hỗn cung cấp chứng từ là những thủ đoạn phổ biến giúp bọn tội phạm
đạt mục đích này.
1.2.1.3

Phương thức rửa tiền

Ngày nay hoạt động rửa tiền diễn ra ngày càng tinh vi, ngày càng đa dạng về
phạm vi, quy mô và cách thức. Tùy theo mức độ pháp lý của các quốc gia mà bọn tội

phạm lựa chọn hình thức rửa tiền khác nhau như: rửa tiền qua hệ thống ngân hàng, rửa
tiền qua các công ty dịch vụ tiền tệ, rửa tiền qua hệ thống thanh tốn trực tuyến, rửa
tiền qua cơng ty bảo hiểm, qua thị trường chứng khoán, rửa tiền qua các công ty vỏ
bọc (công ty ma), buôn lậu tiền mặt với số lượng lớn hoặc qua buôn bán hàng hóa
thương mại...
Tuy nhiên trong khn khổ bài viết tác giải xin được phép đề cập đến phương
thức rửa tiền qua hệ thống ngân hàng.
Các đối tượng tội phạm thường lựa chọn hệ thống ngân hàng để tiến hành hành
vi rửa tiền bởi vì hệ thống ngân hàng ngày càng phát triển với mạng lưới rộng khắp thế
giới, cung cấp nhiều dịch vụ và phương tiện thanh toán đa dạng như séc, lệnh chuyển
tiền. Lúc này bọn tội phạm lợi dụng khe hở trong các quy định giao dịch, cho vay
của ngân hàng để tiến hành tẩy rửa nguồn gốc phi pháp của đồng tiền; nếu thực hiện
trót lọt thì mọi dấu vết, nguồn gốc “bẩn” sẽ được xóa sạch hồn tồn, sau đó sẽ được


10
đưa vào dịng tiền lưu thơng hợp pháp trong kinh tế. về cơ bản tiền “bẩn” sẽ được rửa
qua các hình thức sau:
-

Nguồn tiền được tẩy rửa và được tái đầu tư qua hệ thống tài chính của chính
nước đó.

-

Lượng tiền bẩn có nguồn gốc trong nước, được “tẩy rửa” qua hệ thống tài chính
nước khác, rồi được đem trở lại lưu thông trong nước.

-


Tiền “bẩn” được tạo ra và “rửa sạch” ở nước ngoài và được đầu tư lại vào các
nước đang phát triển.

-

Tiền được “rửa” và rút ra khỏi hệ thống tài chính ở một nước đang phát triển để
sử dụng ở một nước khác, không đầu tư trở lại nước đó nữa.

-

Số tiền sau khi rửa được chuyển vào một quốc gia đanng phát triển nhưng
không đầu tư mà được lưu thông để tiêu thụ khắp nơi.
Các thủ đoạn rửa tiền rất phong phú đa dạng, song đều có đặc điểm chung là tận

dụng những khe hở trong hệ thống pháp luật mỗi nước, nhất là pháp luật hình sự, tài
chính, ngân hàng... Đó cũng là lý do vì sao các nước đang phát triển lại được coi là
“mảnh đất màu mỡ của các loại tội phạm tài chính.
Các phương thức, thủ đoạn chủ yếu thường được sử dụng là:
-

Rửa tiền qua các giao dịch đổi tiền mặt: Đây là phương thức rửa tiền
truyền thống và chủ yếu của bọn tội phạm. Chúng thực hiện bằng cách đổi
từ đồng tiền nước này sang đồng tiền của nước khác.

-

Rửa tiền thông qua việc mua kim loại quý như vàng, bạc, kim cương... là
những tài sản gọn nhẹ, có giá trị cao, có thể mua đi bán lại ở mọi nơi, mọi thời
điểm
trên thế giới. Đây là hai phương thức được bọn tội phạm sử dụng nhiều nhất do

cách
thức đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên các phương thức này lại dễ bị cơ quan
điều

tra

phát hiện.
-

Rửa tiền thông qua đầu tư vào gửi tiết kiệm, mua tín phiếu, trái phiếu:
tiền sẽ gửi tiết kiệm vào ngân hàng hoặc mua tín phiếu, trái phiếu... làm cho
đồng

tiền


11
- Rửa tiền thông qua hệ thống ngân hàng “ngầm”: ở một số nước mà hệ

thống ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, thường tồn tại hệ thống ngân hàng khơng
chính thức gọi là ngân hàng “ngầm”. Hệ thống ngân hàng “ngầm” này hoạt động và
luân chuyển tài chính như các ngân hàng chính thức nhưng với chi phí dịch vụ rẻ hơn,
bí mật hơn các ngân hàng hợp pháp. Các ngân hàng ngầm có đại diện ở nhiều nước
khác nhau để thực hiện dịch vụ chuyển tiền từ nước này sang nước khác hoặc từ thành
phố này sang thành phố khác trong cùng một quốc gia. Sự hoạt động của ngân hàng
này chủ yếu dựa trên niềm tin giữa ngân hàng và bạn hàng nên thủ tục giấy tờ gọn nhẹ.
Bọn tội phạm lợi dụng nguyên tắc giữ bí mật của những ngân hàng này đã đem tiền
đến gửi và yêu cầu nhận lại ở một thành phố khác. Những địa chỉ cần nhận tiền tẩy rửa
thông thường là những quốc gia khao khát đầu tư tài chính nhưng ít quan tâm đến
nguồn gốc đồng tiền, việc thanh toán qua ngân hàng chưa phải là yêu cầu bắt buộc và

phổ biến, hệ thống pháp luật về phòng chống rửa tiền chưa nghiêm...


-

Các dấu hiệu nhận biết rửa tiền qua hệ thống ngân hàng

Thứ nhất, thông qua thông tin về khách hàng
Ngân hàng hồn tồn có đủ cơ sở để nghi ngờ bất cứ một khách hàng nào có

thái độ miễn cưỡng khi cung cấp các thông tin, chứng từ thông thường theo quy định
của ngân hàng trong quan hệ giao dịch với khách hàng. Đặc biệt là những khách hàng
cung cấp ít thơng tin, cung cấp thơng tin sai sự thật, hoặc khi nộp đơn xin mở tài
khoản tại ngân hàng, những khách hàng này đã cung cấp những thông tin mà nếu
muốn xác minh được những thông tin đó thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn hoặc phải trả
chi phí rất cao.
-

Thứ hai, các tài khoản giao dịch đang bị điều tra hoặc bị khởi kiện.
Nhân viên ngân hàng thường chú ý đến các chủ tài khoản đang bị điều tra, khởi

kiện hoặc liên quan đến các vụ án đang được xét xử tại tòa án, hoặc nằm trong danh
sách cảnh báo rửa tiền.
-

Thứ ba, thơng qua tính chất, đặc điểm của giao dịch.

• Các giao dịch khơng mang lợi ích về mặt kinh tế

Các giao dịch này có đặc điểm khơng phù hợp với các hoạt động thơng thường

của khách hàng. Ví dụ như việc sử dụng thư tín dụng và một số biện pháp tài chính
thương mại để chuyển tiền từ quốc gia này sang quốc gia khác. Tuy nhiên, việc chuyển


12
tiền này lại không phù hợp với các hoạt động kinh doanh thông thường của khách
hàng. Một trường hợp điển hình khác là các giao dịch qua các tài khoản mà trước đó
hầu như khơng có giao dịch nào, nhưng hiện tại lại có rất nhiều giao dịch một cách bất
thường mà chủ tài khoản này không đưa ra được sự giải thích hợp lý cho việc liên tục
sử dụng tài khoản ở mức độ cao.


Các giao dịch gồm nhiều khoản tiền mặt giá trị lớn:
Một là, mua hoặc bán ngoại tệ bằng tiền mặt với số lượng lớn cho dù khách

hàng có tài khoản trong ngân hàng.
Hai là, thường rút tiền mặt từ tài khoản với số lượng lớn, mà số tiền này dường
như không phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Ba là, rút tiền mặt với số lượng lớn từ tài khoản vừa mới bất ngờ nhận được
một khoản chuyển tiền vô cùng lớn từ nước ngoài.
Bốn là, gửi tiền mặt với số lượng lớn vào tài khoản bằng cách chia nhỏ số tiền
mặt muốn gửi thành nhiều khoản khác nhau. Tuy nhiên, nếu tính tổng số tất cả các
khoản tiền gửi đã chia nhỏ thì giá trị rất lớn.
Năm là, các khách hàng thường xuyên gửi tiền mặt với số lượng lớn vào ngân
hàng, nhưng tiền rút ra khỏi tài khoản thường bằng séc chi trả cho các cá nhân, hay
công ty không có quan hệ kinh doanh với khách hàng.


Các giao dịch liên quan đến các tài khoản trong ngân hàng có một số đặc điểm
bất thường. Sau đây là hai trường hợp tiêu biểu:

Một là, tài khoản có tốc độ chu chuyển tiền trong ngày rất cao. Điều này thể

hiện ở việc thay đổi đột biến doanh số giao dịch trên tài khoản. Doanh số giao dịch lớn
trong một thời gian ngắn nhưng số dư tài khoản nhỏ.
Hai là, các giao dịch chuyển tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khác nhau về
một tài khoản thành một khoản tiền lớn và ngược lại. Trong một thời gian rất ngắn,
tiền được chuyển lịng vịng qua nhiều tài khoản khác nhau.


Các giao dịch liên quan đến các cuộc chuyển tiền ra nước ngoài:
Trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh tồn cầu hóa, các giao

dịch liên quan đến chuyển tiền ra nước ngoài là phổ biến. Tuy nhiên trong số các giao
dịch đó, cũng có những giao dịch với mục đích bất thường. Nhân viên ngân hàng có


13
thể nhận biết được qua mục đích, tính chất của việc chuyển tiền. Sau đây là một số dấu
hiệu điển hình mà ngân hàng cần quan tâm, lưu ý:
-

Việc một khách hàng vãng lai chuyển tiền ra nước ngoài mà không đưa ra lý do
hợp pháp.

-

Một khách hàng chuyển tiền tới chi nhánh nước ngồi, cơng ty con, hoặc ngân
hàng có trụ sở tại một quốc gia nơi mà bn lậu, tham nhũng, sản xuất và buôn
bán ma túy thường xuyên diễn ra.


• Các giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư:

Một là, hoạt động mua bán chứng khoán không phù hợp với vị thế hiện tại của
khách hàng, hoặc khách hàng đầu tư chứng khoán bằng tiền mặt một cách khác thường
với số lượng lớn.
Hai là, vốn đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, có nguồn gốc từ
các nước có tỷ lệ tội phạm cao như: Ý, Nga, Macao hay từ các nước có hệ thống pháp
luật về phòng, chống rửa tiền còn yếu kém như các nước Châu Phi.
-

Thứ tư, thông qua các khoản vay có hoặc khơng có tài sản bảo đảm
Cho vay khơng bảo đảm là loại cho vay khơng có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc

sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng.
Các khoản vay được trả bằng tiền mặt, ngoại tệ hoặc các công cụ thanh tốn
khác mà người cho vay khơng được tiết lộ.
Các khoản cho vay được đảm bảo bằng tài sản của bên thứ ba mà khơng có mối
liên hệ minh bạch với khách hàng.
1.2.1.4

Ảnh hưởng của hoạt động rửa tiền với phát triển kinh tế- xã hội

Hiện nay hoạt động rửa tiền diễn ra ngày càng mạnh và lan rộng khắp thế giới,
gây ra hậu quả kinh tế, xã hội hết sức nghiêm trọng, đặc biệt đối với các nước đang
phát triển vì đây là những thị trường nhỏ, có hệ thống tài chính yếu và dễ bị tổn
thương trước tác động mạnh của vấn nạn rửa tiền. Tuy nhiên lại rất khó có thể xác
định được quy mơ của những hậu quả bất lợi đó vì khó lượng hóa được tác động đối
với nền kinh tế toàn thế giới cũng như ở mỗi quốc gia.



14


Hậu quả đối với quốc tế và đầu tư nước ngồi
Các tổ chức tài chính nước ngồi có thể quyết định hạn chế các giao dịch của

mình với những tổ chức là nơi ẩn náu an toàn cho rửa tiền; buộc những giao dịch như
vậy phải qua sự kiểm soát gắt gao hơn, khiến cho chúng thêm tốn kém hoặc chấm dứt
hoàn toàn các mối quan hệ giao dịch hay vay mượn. Ngay cả các doanh nghiệp hợp
pháp lẫn những doanh nghiệp là nơi ẩn náu an toàn cho rửa tiền cũng có thể bị
giảm khả năng tiếp cận các thị trường thế giới hoặc phải tiếp cận với chi phí cao hơn
do phải chịu sự kiểm sốt gắt gao hơn về quyền sở hữu, các hệ thống tổ chức và kiểm
sốt.


Làm tổn hại các thị trường mới nổi
Khi các quốc gia ngày càng nỗ lực đưa ra các quy đinh, xây dựng hành lang

pháp lý ngăn ngừa hoạt động rửa tiền thì bọn tội phạm rửa tiền ln tìm kiếm các nước
có hệ thống pháp lý lỏng lẻo hoặc cịn nhiều thiếu xót, hoặc các thị trường các quốc
gia mới nổi là nơi lý tưởng để chúng thực hiện mục tiêu che giấu nguồn gốc phạm tội
của đồng tiền. do đó, những hoạt động đầu tư khơng theo quy luật, không bám chặt các
quy định sẽ khiến cho các thị trường mới nổi dễ gặp rủi ro, dễ bị tổn thương.


Làm suy yếu các tổ chức tài chính
Rửa tiền có thể làm gây hại đến sự lành mạnh tài chính của một quốc gia cũng

như làm suy yếu sự ổn định của từng định chế tài chính, đặc biệt là các tổ chức ngân

hàng sẽ chịu rủi ro về các mặt uy tín, nghiệp vụ, pháp lý, rủi ro tập trung, và các rủi ro
này có quan hệ hữu cơ với nhau. Mỗi rủi ro đều gây cho ngân hàng các chi phí xuất
phát từ việc mất đi lợi nhuận của các hoạt động kinh doanh sinh lợi, gặp phải rủi ro
thanh khoản do việc rút tiền ồ ạt của khách hàng, bị cắt đứt quan hệ ngân hàng đại lý,
bị thu giữ tài sản, tổn thất cho vay và giảm giá trị cổ phiếu.
Rủi ro về uy tín là rủi ro tiềm ẩn, gây mất niềm tin của khách hàng về các hoạt
động trong ngân hàng. Điều này sẽ làm giảm nguồn tài trợ với chi phí thấp, giảm giá
trị sinh lời của các khoản cho vay. Lúc này ngân hàng cũng không thể chỉ dựa vào các
khoản tiền “bẩn” được đưa vào hệ thống ngân hàng bởi vì lượng tiền này liên tục dịch
chuyển, liên tục quay vịng và có thể rút ra bất ngờ.


15
Rủi ro nghiệp vụ bắt nguồn từ việc thực hiện khơng đúng, khơng đủ quy trình
nội bộ làm cho việc thực hiện các giao dịch thiếu sự kiểm soát chặt chẽ, hoặc bị trì trệ,
tăng chi phí hoạt động.
Rủi ro pháp lý, rủi ro tập trung cũng là tiềm tàng, gây ra những bất lợi, tổn thất
lớn cho ngân hàng. Khi đó ngân hàng cần phải có những hệ thống, chính sách phịng
chống rửa tiền để bảo vệ chính ngân hàng cũng như khách hàng của mình.


Làm suy yếu nền kinh tế và khu vực tư nhân
Bọn tội phạm rửa tiền thường núp bóng dưới các cơng ty “bình phong” với

danh nghĩa các công ty tư nhân. Qua các công ty vỏ bọc này, chúng tiến hành trộn các
đồng tiền “bẩn” vào đồng tiền “sạch” để che giấu nguồn gốc phi pháp, tránh sự kiểm
sốt của cơ quan có thẩm quyền. Rõ ràng mục đích kinh doanh của các cơng ty này
khơng phải để sinh lời mà để xóa bỏ dấu vết “bẩn” trên những đồng tiền phi pháp. Khi
đó những doanh nghiệp hợp pháp rất khó để cạnh tranh với những cơng ty như thế
này, bởi vì chúng hoạt động khơng vì mục tiêu lợi nhuận nên sẽ dễ dàng hạ thấp giá

thành sản phẩm. Như vậy việc xuất hiện những công ty vỏ bọc sẽ gây bất ổn cho nền
kinh tế, đảo lộn thị trường, gây khó khăn cho những cơng ty hoạt động hợp pháp.


Làm tổn hại đến những nỗ lực tư nhân hóa
Hoạt động rửa tiền sẽ gây tổn hại đến những quốc gia đang nỗ lực cải cách kinh

tế theo hướng tư nhân hóa nền kinh tế. những kẻ muốn rửa tiền sẽ mua lại những
doanh nghiệp nhà nước với giá cao hơn giá đấu thầu. Khi chúng trở thành chủ sở hữu
của các doanh nghiệp, hoạt động phi pháp của chúng sẽ được thực hiện nhiều hơn,
càng ngày gây ra nhiều hệ lụy hơn cho nền kinh tế. Do đó, q trình nỗ lực tư nhân
hóa nền kinh tế vơ tình trở thành cái đích cho bọn tội phạm nhắm tới để thực hiện hành
vi rửa tiền của chúng.


Gây tổn hại đến ngân sách quốc gia
Một trong số các khoản tiền cần rửa chính là những khoản tiền có được từ việc

trốn thuế. Trong khi đó tiền thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, các
doanh nghiệp trốn thuế sẽ làm ngân sách thất thu một lượng lớn. Ngoài ra khi vấn nạn
rửa tiền xuất hiện và ngày càng lan rộng thì chính phủ phải mất một lượng lớn ngân
sách chi cho việc triển khai thực hiện cơng tác phịng chống rửa tiền và khắc phục hậu
quả do nạn rửa tiền gây ra.


16


Gây mất ổn định nền kinh tế và mất sự kiểm sốt của các chính sách
kinh tế

Bản chất của rửa tiền khơng vì mục tiêu lợi nhuận nên chúng thường đầu tư vào

các lĩnh vực ngành nghề an toàn, thuận lợi cho hoạt động rửa tiền mặc dù các ngành
này khơng có tiềm năng hoặc đã bão hịa. Điều này gây nên cơn sốt ảo, tạo nên những
bong bong trên thị trường, và khi những ngành này khơng cịn phù hợp cho mục đích
của chúng thì sẽ bị loại bỏ, gây ra sự sụp đổ, đóng băng gây thiệt hại lớn cho nền kinh
tế.
Bên cạnh đó, sự lưu chuyển các luồng tiền trong thế giới ngầm gây ra những
đột biến trong cầu tiền và bất ổn định lãi suất và tỷ giá hối đoái , điều này gây ra
những dự báo sai lầm về sự dịch chuyển tiền tệ, về cầu tiền dẫn tới các con số thống kê
bị bóp méo gây khó khăn cho việc hoạch định chính sách và giảm hiệu quả điều tiết
của chính phủ.


Gây bất ổn đến đời sống xã hội
Hoạt động rửa tiền trót lọt sẽ đem lại lợi ích cho kẻ rửa tiền, tội phạm rửa tiền

phát triển đồng nghĩa có nhiều tội phạm khác sẽ phát triển như buôn bán ma túy, tham
ô tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế... Sự phát triển và mở rộng của các loại tội phạm
này sẽ gây bất ổn đến đời sống xã hội và an ninh chính trị. Sau những gì bọn tội phạm
gây ra, chính phủ lại phải đứng ra giải quyết khắc phục hậu quả do chúng để lại, gây
tổn hại về mặt tiền bạc và thời gian, ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia về nhiều
mặt.
Như vậy, vấn nạn rửa tiền dù khơng gây ra nhiều tội ác kinh hồng nhưng gây
ra nhiều hậu quả cực kỳ nghiêm trọng cho sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia
cũng như toàn thế giới; địi hỏi các quốc gia cần phải có biện pháp và hợp tác với nhau
để xóa bỏ loại tội phạm này.
1.2.2

Phòng chống rửa tiền


Tội phạm rửa tiền là một loại tội phạm đặc biệt, là hình thức tội phạm phái sinh.
Điều này có nghĩa đấu tranh chống lại tội phạm rửa tiền cần được tiến hành đồng thời
với việc đấu tranh với các tội phạm nguồn khác đã làm phát sinh loại tội phạm này.
Rửa tiền không gây ra những hậu quả nguy hiểm nhưng lại ảnh hưởng đến
nhiều mặt kinh tế- xã hội như đã trình bày ở trên, nó gây tổn hại đến sự phát triển kinh


17
tế và khu vực tư nhân, tổn hại các thị trường mới nổi, làm suy yếu các tổ chức tài
chính, tổn hại đến ngân sách quốc gia, mất ổn định nền kinh tế và mất sự kiểm sốt
của các chính sách kinh tế, gây bất ổn đến đời sống xã hội. Nhìn chung các quốc gia
khơng những khơng thu được lợi gì mà cịn chịu nhiều tổn hại từ hành vi rửa tiền.
Càng ngày hoạt động rửa tiền càng tinh vi và sảo quyệt hơn, lan tỏa ngày càng sâu và
rộng vào nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực và nhiều quốc gia hơn. Do đó, phịng
chống rửa tiền là vấn đề cần thiết mang tính tất yếu đối với mỗi quốc gia cũng như
tồn thế giới.
1.2.2.1

Khái niệm về phịng chống rửa tiền

Nói một cách chung nhất thì phịng chống rửa tiền chính là những biện pháp
được triển khai nhằm hạn chế lượng lớn tiền bẩn, không cho xâm nhập hay hòa trộn
vào các loại nguồn vốn sạch khác trong nền kinh tế, đồng thời tiến hành các thủ tục
điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, buộc tội phạm rửa tiền phải chịu hình phạt thích đáng
của pháp luật.
1.2.2.2


Cơ sở pháp lý về phịng chống rửa tiền


Cơng ước quốc tế đầu tiên, Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn
bán bất hợp pháp chất ma túy và chất hướng thần (1988) đã được thơng qua và


169

nước tham gia. Cơng ước này coi tội phạm buôn bán ma túy là tội phạm nguồn
duy
nhất của tội phạm rửa tiền, mặc dù trong công ước chưa đưa ra khái niệm rửa
tiền
nhưng đã u cầu các nước hình sự hóa hoạt động này. Đến nay có rất nhiều tội
phạm
nguy hiểm là mối lo ngại của toàn thế giới nên nhiều nước đã mở rộng phạm vi
tội
phạm nguồn của tội rửa tiền.


Năm 1989, các nước G7 đã thành lập nên Lực lượng đặc nhiệm tài
chính (FATF), là cơ quan liên chính phủ có mục tiêu phát triển và thúc đẩy các
biện


18


Các quy định của Ủy ban Basel: năm 1988 Ủy ban Basel ban hành hệ
thống luật quốc tế nhằm xây dựng những khn khổ chung để kiểm sốt rủi ro



giám

sát an toàn đối với những ngân hàng hoạt động quốc tế, điển hình là: Các yêu
cầu

chú

ý xác nhận khách hàng (CDD- tháng 10/2001), Rủi ro tuân thủ và chức năng
kiểm

soát

tuân thủ trong hoạt động ngân hàng (Compliance and the compliance function in
banktháng 4/2005).


Các ngun tắc phịng chống rửa tiền Wolfsberg: Wolfsberg là một
hiệp hội ngân hàng toàn cầu gồm 11 thành viên được thành lập năm 2000 nhằm
phát
triển các tiêu chuẩn cho ngành dịch vụ tài chính và các sản phẩm liên quan cũng
như
chính sách phịng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố.

1.2.2.3

Phương thức thực hiện

Về thời gian, công tác phòng, chống rửa tiền gồm hai giai đoạn: giai đoạn
phòng và giai đoạn chống; và mỗi giai đoạn đều có vai trị nhất định, có mối liên hệ
chặt chẽ, qua lại bổ trợ cho nhau. Giai đoạn phòng ngừa được thực hiện trước giai

đoạn chống. Cơng tác phịng ngừa hoạt động rửa tiền được thực hiện bằng cách giao
tiếp, tiếp xúc với các chủ thể có những nguồn tiền phạm tội, bao gồm cả những người
có chủ ý và tìm mọi phương thức để rửa tiền và cả những người vơ tình có hành vi rửa
tiền mà khơng hề hay biết, do sự thiếu hiểu biết về pháp luật. Một cách chung nhất thì
phịng ngừa hiệu quả hoạt động rửa tiền chính là những biện pháp được triển khai
nhằm hạn chế lượng lớn tiền bẩn, không cho “xâm nhập” hay hòa trộn vào các loại
nguồn vốn sạch khác trong nền kinh tế. Đồng nghĩa với điều này, công tác phịng ngừa
tội phạm rửa tiền sẽ góp phần bảo vệ những nhà đầu tư chân chính, đảm bảo hiệu quả
khai thác và sự cạnh tranh lành mạnh của những nguồn vốn sạch. Giai đoạn chống là
giai đoạn sau của công tác phòng, chống rửa tiền. “Chống” đồng nghĩa với việc “xử
lý” khi tiền bẩn đã nằm trong các quy trình rửa tiền nhưng bị các cơ quan chức năng
phát hiện. Việc xử lý là tiến hành các thủ tục điều tra, truy tố, xét xử tội phạm rửa tiền,


×