TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MƠI TRƯỜNG
HỒNG THỊ HÀ
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NHIỆT ĐỘ,
LƯỢNG MƯA VỚI ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG (MẬT
ĐỘ, ĐƯỜNG KÍNH, CHIỀU CAO) CỦA RỪNG BẦN
CHUA (Sonneratia caseolaris) TRỒNG VEN BIỂN
ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
Hà Nội – Năm 2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MƠI TRƯỜNG
HỒNG THỊ HÀ
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA NHIỆT ĐỘ,
LƯỢNG MƯA VỚI ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG (MẬT
ĐỘ, ĐƯỜNG KÍNH, CHIỀU CAO) CỦA RỪNG BẦN
CHUA (Sonneratia caseolaris) TRỒNG VEN BIỂN
ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
Chuyên ngành
: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã ngành
: 785 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Ths. LÊ ĐẮC TRƯỜNG
Hà Nội – Năm 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan q trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này tồn bộ do tơi
thực hiện. Mọi thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung
thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ tại bất kì hội đồng nào hoặc đăng tải trên
các tạp chí hoặc trang báo nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài khóa luận
này đã được cảm ơn và các thơng tin, số liệu được đưa vào trong khóa luận đều được
trích dẫn rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2020
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Hà
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện đề tài này trong suốt q trình thực hiện và hồn thành đồ khóa
luận, tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo Ths. Lê Đắc Trường - Giảng
viên hướng dẫn, người đã ln tận tình hướng dẫn, sát sao trong suốt q trình thực
hiện khóa luận.
Tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô Nguyễn Thị Hồng Hạnh, thầy Phạm Hồng
Tính và các thầy cơ trong khoa Mơi trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội. Nhờ quá trình giảng dạy và những kiến thức thực tế trong q trình thực địa
giúp tơi có thể hồn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Trân trọng cảm ơn đề tài “Nghiên cứu xây dựng mơ hình dự báo xu hướng thay
đổi hệ sinh thái rừng ngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở các tỉnh ven biển Bắc
Bộ”, mã số TNMT.2018.05.06 đã hỗ trợ kinh phí thực địa, điều tra và phân tích mẫu.
Tơi xin gửi lời cảm ơn trân thành nhất tới các cán bộ xã tại các địa phương mà
tôi thực hiện chuyến thực địa đã luôn sẵn lịng giúp đỡ trong cơng tác thu thập tài
liệu. Cảm ơn các hộ dân sống tại các vùng ven đê biển đã nhiệt tình giúp đỡ trong
việc chỉ đường và cung cấp các thông tin về đời sống, cũng như các hoạt động phát
triển kinh tế xã hội vùng ven biển.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè và người thân
đã ln động viên và cổ vũ tình thần cho tơi để có thể hồn thành q trình thực hiện
đồ án và hồn thiện báo cáo khóa luận này.
Tơi xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng
năm 2020
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Hà
i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................. i
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề .................................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................... 2
3. Nội dung nghiên cứu.................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................... 3
1.1. Tổng quan về rừng ngập mặn ................................................................................... 3
1.1.1. Các khái niệm liên quan ......................................................................................... 3
1.1.2. Diện tích và sự phân bố rừng ngập mặn tại Việt Nam........................................... 3
1.1.3. Vai trò của rừng ngập mặn..................................................................................... 6
1.2. Tổng quan về rừng Bần Chua ................................................................................... 9
1.2.1. Đặc điểm sinh thái của rừng Bần Chua ................................................................. 9
1.2.2. Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của rừng Bần chua ............... 11
1.3. Nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH tới rừng ngập mặn ..................................... 13
1.3.1. Nghiên cứu trong nước ........................................................................................ 13
1.3.2. Nghiên cứu ngoài nước ........................................................................................ 15
1.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu .......................................................................... 16
1.4.1. Vị trí địa lý ........................................................................................................... 16
1.4.2. Địa hình ................................................................................................................ 18
1.4.3. Điều kiện khí hậu ................................................................................................. 18
1.4.4. Điều kiện kinh tế xã hội ....................................................................................... 18
1.5. Tổng quan rừng ngập mặn ven biển đồng bằng Bắc bộ ......................................... 19
1.5.1. Phân bố và biến động diện tích rừng ngập mặn ................................................... 19
1.5.2. Đa dạng thành phần loài thực vật ngập mặn tại các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc
bộ.......................................................................................................................................21
1.5.3. Tình hình trồng rừng ngập mặn tại các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc bộ ............ 22
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .. 25
ii
2.1. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu .......................................................... 25
2.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 25
2.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu .............................................................................. 25
2.2.2. Phương pháp xác định đặc điểm sinh trưởng (Mật độ, đường kính, chiều cao) của
rừng Bần chua trồng ven biển miền đồng bằng Bắc bộ ................................................. 26
2.2.3. Phương pháp thống kê xử lý số liệu..................................................................... 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 33
3.1. Đặc điểm khí hậu (Nhiệt độ, lượng mưa) và đặc điểm sinh trưởng (đường kính,
chiều cao và mật độ) khu vực nghiên cứu ..................................................................... 33
3.1.1. Đặc điểm khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa) của khu vực nghiên cứu...................... 34
3.1.2. Đặc điểm sinh trưởng rừng Bần chua tại các địa điểm nghiên cứu ..................... 38
3.2. Mối quan hệ giữa nhiệt độ, lượng mưa và đặc điểm sinh trưởng của rừng Bần
chua....................................................................................................................................46
3.2.1. Mối quan hệ giữa đường kính thân và các yếu tố khí hậu ................................... 47
3.2.2. Mối quan hệ giữa chiều cao cây và các yếu tố khí hậu........................................ 50
3.2.3. Mối quan hệ giữa mật độ cây và các yếu tố khí hậu ............................................ 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 59
PHỤ LỤC...................................................................................................................... 62
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ANOVA
Phân tích phương sai
BĐKH
Biến đổi khí hậu
Bộ CHQS
Bộ Chỉ huy Quân sự
CTV
Cộng tác viên
ĐVPD
Động vật phù du
HST
Hệ sinh thái
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NBD
Nước biển dâng
GPS
Hệ thống định vị toàn cầu
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
RNM
Rừng ngập mặn
UBND
Uỷ ban nhân dân
VQG
Vườn quốc gia
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích rừng các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc bộ năm 2017 ............... 20
Bảng 2.1: Vị trí tọa độ các ơ tiêu chuẩn ................................................................. 27
Bảng 3.1:Thống kê mô tả: Các biến được đo tại khu vực nghiên cứu………...…...33
Bảng 3.2: Sự khác biệt về nhiệt độ trung bình năm giữa các địa điểm nghiên cứu..38
Bảng 3.3: Đường kính thân, chiều cao và mật độ cây Bần chua tại khu vực nghiên
cứu ........................................................................................................................ 40
Bảng 3.4: Sự khác biệt về chiều cao và mật độ giữa các địa điểm nghiên cứu ........ 44
Bảng 3.6: Đặc điểm cấu trúc rừng Bần trong từng ô tiêu chuẩn ............................. 46
v
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Diễn biến rừng ngập mặn nước ta qua từng giai đoạn............................... 5
Hình 1.2: Đặc điểm hình thái của Bần chua ........................................................... 10
Hình 1.3: Các vị trí nghiên cứu và tuyến điều tra ................................................... 17
Hình 2.1: Vị trí các trạm quan trắc của bốn tỉnh ven biển đồng bằng Bắc bộ……..26
Hình 2.2: Thiết lập tuyến điều tra .......................................................................... 27
Hình 2.3: Lập ơ tiêu chuẩn tại rừng Bần Chua ....................................................... 29
Hình 2.4: Đo đường kính thân, chiều cao............................................................... 30
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện nhiệt độ và lượng mưa giai đoạn 2005 – 2019………..35
Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện đường kính thân cây ........................................................... 41
Hình 3.3: Biểu đồ thể hiện chiều cao của cây………...............................................41
Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện mật độ cây ................................................................... 41
Hình 3.5: Đặc điểm rừng trồng Bần chua tại Nam Thịnh (Tiền Hải) ...................... 42
Hình 3.6: Mối quan hệ giữa đường kính thân và nhiệt độ TB năm (oC).................. 48
Hình 3.7: Mối quan hệ giữa đường kính thân và nhiệt độ TB tháng 1 (oC) ............. 48
Hình 3.8: Mối quan hệ giữa đường kính thân và lượng mưa TB (mm) ................... 49
Hình 3.9: Mối quan hệ giữa chiều cao cây và nhiệt độ TB năm (oC) ...................... 50
Hình 3.10: Mối quan hệ giữa chiều cao cây và nhiệt độ TB tháng 1 (oC) ............... 51
Hình 3.11: Mối quan hệ giữa chiều cao cây và lượng mưa TB (oC) ....................... 52
Hình 3.12: Mối quan hệ giữa mật độ cây và nhiệt độ TB năm (oC) ........................ 53
Hình 3.13: Mối quan hệ giữa mật độ cây và nhiệt độ TB tháng 1 (oC) ................... 54
Hình 3.14: Mối quan hệ giữa mật độ cây và lượng mưa TB (mm) ......................... 55
vi
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam với tổng chiều dài đường bờ biển kéo dài tới hơn 3000 km trải dài từ
Bắc vào nam, với hệ sinh thái vô cùng đa dạng và phong phú. Trong đó, hệ sinh thái
rừng ngập mặn chiếm diện tích khá lớn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tuy nhiên
rừng ngập mặn ở vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ đóng vái trị vơ cùng lớn đối với
vai trò rừng phòng hộ. Ở vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ, rừng ngập mặn gây trồng
chiếm tỉ lệ lớn, bao gồm chủ yếu rừng Trang, Bần chua và rừng Hỗn giao. Trong đó
Bần chua được trồng thử nghiệm trên cả các điều kiện lập địa khó khăn nhằm khơi
phục và phát triển rừng ngập mặn [12].
Là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng ấm và mưa nhiều, hàng năm
nước ta phải hứng chịu nhiều cơn bão, lốc từ biển Đông đổ bộ vào đất liền gây thiệt
hại nặng nề, đặc biệt là các vùng ven biển. Trong đó rừng phịng hộ mơi trường của
dải rừng ngập mặn phịng hộ ven biển đóng vai trò rất lớn trong việc giảm thiểu tác
động từ thiên tai, đồng thời tạo nguồn sinh kế bền vững cho người dân vùng biển
nước ta. Rừng ngập mặn đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm
(lâm sản, nguồn lợi thủy sản) và dịch vụ môi trường cho cả môi trường biển và con
người. Đặc biệt, rừng ngập mặn có khả năng tích lũy các bon rất hiệu quả, theo
Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2014) [5], hàm lượng các bon tích lũy trong đất đạt giá trị
cao nhất ở rừng Bần chua 4 tuổi (85,80 tấn/ha) thấp nhất ở rừng 2 tuổi (72,86 tấn/ha).
đây là cơ sở khoa học góp phần giảm thiểu khí thải gây hiệu ứng nhà kính, ứng phó
với biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các vùng rừng ngập mặn
nói chung và rừng Bần chua nói riêng đang bị đe dọa bởi sức ép của phát triển kinh
tế và biến đổi khí hậu.
Việc bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn nói chung và rừng Bần chua nói riêng
là một trong các nội dung chính trong chiến lược lâm nghiệp vài thập kỉ qua. Đặc
biệt, trong những năm gần đây BĐKH đang diễn ra ngày càng gay gắt, gây tác động
nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Theo nghiên
cứu của Trần Thị Thúy Vân và công sự [6], thực vật ngập mặn trong khu vực ven
biển đồng bằng Bắc bộ chịu một số tác động bất lợi của điều kiện sinh khí hậu như:
1
thời kỳ khô hạn; thời tiết lạnh; bão và áp thấp nhiệt đới. Tuy nhiên, các nghiên cứu
về rừng ngập mặn thường phân tích chung các lồi cây hỗn giao, chưa phân tích sâu
từng yếu tố về khí hậu đối với sự sinh trưởng của rừng Bần chua để đánh giá một
cách kĩ lưỡng các yếu tố về khí hậu có mối quan hệ mật thiết đối với sự sinh trưởng
của rừng Bần chua. Xuất phát từ những luận điểm trên sinh viên đã quyết định chọn
đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ, lượng mưa với đặc điểm sinh trưởng
(mật độ, đường kính, chiều cao) của rừng Bần Chua (Sonneratia caseolaris ) trồng
ven biển đồng bằng Bắc bộ” nhằm mục đích góp phần giải quyết các vấn đề cịn
thiếu hụt và phân tích được mối quan hệ giữa các điệu kiện khí hậu và sự sinh trưởng
của rừng Bần chua một cách hệ thống, đồng thời việc nghiên cứu và làm rõ mối quan
hệ giữa đặc điểm sinh trưởng của Bần chua với điều kiện khí hậu là rất cần thiết. Mối
quan hệ đó là nền tảng cho dự báo sự biến đổi của hệ sinh thái rừng ngập mặn trong
bối cảnh biến đổi khi hậu, đồng thời góp phần vào cơng tác lập quy hoạch, kế hoạch
bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được mối quan hệ giữa nhiệt độ, lượng mưa với đặc điểm sinh trưởng
(mật độ, đường kính, chiều cao) của rừng Bần chua trồng ven biển đồng bằng Bắc bộ.
3. Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm khí hậu (Nhiệt độ, lượng mưa) khu vực nghiên cứu;
- Đặc điểm sinh trưởng của rừng ngập mặn Bần Chua tại khu vực nghiên cứu:
+ Đặc điểm về chiều cao, đường kính, mật độ của rừng Bần chua trồng ven biển
huyện Tiên Lãng, tỉnh Hải Phòng;
+ Đặc điểm về chiều cao, đường kính, mật độ của rừng Bần chua trồng ven biển
huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
+ Đặc điểm về chiều cao, đường kính, mật độ của rừng Bần chua trồng ven biển
huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định;
+ Đặc điểm về chiều cao, đường kính, mật độ của rừng Bần chua trồng ven biển
huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
- Mối quan hệ giữa nhiệt độ và lượng mưa với đặc điểm sinh trưởng (mật độ,
đường kính, chiều cao) của rừng Bần chua trồng ven biển miền đồng bằng Bắc bộ.
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về rừng ngập mặn
1.1.1. Các khái niệm liên quan
Rừng ngập mặn là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và cửa
sông những nơi bị tác động của thủy triều ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Trên thế
giới có rất nhiều tên gọi khác nhau về rừng ngập mặn như “rừng ven biển”, “rừng ở
vùng thủy triều” và “rừng ngập mặn”. Tuy nhiên, ở Việt Nam, phần lớn các nhà khoa
học đều thống nhất với tên gọi là “Rừng ngập mặn”.
Theo tác giả Vũ Đoàn Thái, RNM là thảm thực vật đặc biệt, bao gồm những
loài cây gỗ hoặc cây bụi, cùng sinh trưởng tạo ra cộng đồng cây sống ưu thế trong
vùng ngập mặn. Tuy các loài cây ngập mặn sống trong cùng mơi trường nhưng mỗi
lồi lại có đặc điểm chịu mặn khác nhau. Nhìn chung, cây ngập mặn phân bố có giới
hạn, phụ thuộc vào độ mặn, nhiệt độ và không có khả năng chịu được lạnh cao [16].
Thực vật ngập mặn hay còn gọi cây ngập mặn là các loại cây gỗ và cây bụi sống
trong các vùng nước mặn ven biển trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu
giữa vĩ độ 25° Bắc và 25° Nam. Các độ mặn khác nhau tạo ra nhiều loài thay đổi từ
nước lợ đến nước mặn (30 đến 40 ppt), đến các mơi trường có độ mặn lớn hơn gấp 2
lần độ mặn nước biển (đến 90 ppt), tại đây hàm lượng muối cô đặc bởi sự bốc hơi.
Tại vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ, rừng ngập mặn phân bố ở vùng cửa sông
hoặc ven biển, bị ngập bởi thủy triều lên trong ngày hoặc trong tháng, đất mặn và bão
hịa nước. Vì vậy các lồi cây ngập mặn đều có cấu tạo và hình thái thích nghi với
điều kiện sống. Trong đó, các cây ngập mặn thường có rễ khí sinh phát triển, hạt
thường nảy mầm trên cây trước khi quả rụng, lá có nhiều tuyến muối. Tại các vùng
cửa sơng đồng bằng Bắc bộ, nơi có sự giao thoa giữa nguồn nước ngọt, nước lợ từ
sông đổ ra biển, hiện tượng ngập thủy triều lên xuống trung bình trong các ngày và
tháng, các lồi cây điển hình ở vùng này là Bần chua (Sonneratia caseolaris) hoặc
Bần trắng (S. Alba), rừng Trang (Kandelia obovata) và rừng Hỗn Giao.
1.1.2. Diện tích và sự phân bố rừng ngập mặn tại Việt Nam
Nhờ vào vị trí thuận lợi với đường bờ biển kéo dài, nước ta có 29 tỉnh và thành
phố có rừng và đất ngập mặn ven biển chạy suốt từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Dựa
3
vào các yếu tố địa lý, RNM Việt Nam có thể chia ra làm 4 khu vực và 12 tiểu khu
(theo Phan Nguyên Hồng, 1999) như sau: Khu vực 1: Ven biển Đông Bắc, từ mũi
Ngọc đến mũi Đồ Sơn; Khu vực 2: Ven biển đồng bằng Bắc bộ, từ mũi Đồ Sơn đến
mũi Lạch Trường; Khu vực 3: Ven biển Trung bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng
Tàu; Khu vực 4: Ven biển Nam bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải – Hà Tiên. Mỗi
khu vực có các điều kiện tự nhiên khác nhau chính vì vậy RNM ở mỗi khu vực cũng
có một số thực vật ngập mặn đặc trưng riêng.
Rừng ngập mặn chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích rừng của cả nước (14,4
triệu ha) [20], nhưng có vai trị quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ
bờ biển, và đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu. Xét
về tính đa dạng hệ thực vật, rừng ngập mặn Việt Nam có 36 lồi cây ngập mặn thực
thụ thuộc 20 chi và 14 họ, diện tích RNM chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích rừng
của cả nước (14,4 triệu ha). Theo kết quả kiểm kê rừng tồn quốc (Quyết định số
03/2001/QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 5/1/2001), diện tích RNM Việt
Nam tính đến ngày 21/12/1999 là 156.608 ha. Trong đó diện tích RNM tự nhiên là
59.732 ha chiếm 38,1% và diện tích RNM trồng là 96.876 ha chiếm 61,95%. Trong
số diện tích RNM trồng ở Việt Nam, rừng Đước (Rhizophora apiculata) trồng chiếm
80.000 ha (82,6%), còn lại 16.876 ha là rừng trồng trang (Kandelia obovata), Bần
chua (Sonneratia caseolaris) [22]. Tuy nhiên được sự quan tâm của địa phương và
các tổ chức quốc tế thì diện tích RNM đã tăng lên đáng kể, trong cơng bố hiện trạng
rừng tính đến năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2019 cho
biết diện tích RNM trong cả nước tính đến ngày 31/12/2018 là 225.802 ha, rừng sử
dụng cho phòng hộ là 119.245 ha và sản xuất là 71.868 ha.
4
Hình 1.1: Diễn biến rừng ngập mặn nước ta qua từng giai đoạn
(Nguồn: Viện tài nguyên và Môi trường, 2013)
Diện tích rừng ngập mặn đã liên tục giảm trong hơn nửa thế kỷ qua. Các nguyên
nhân gây mất rừng ngập mặn: Phá rừng ngập mặn và đắp bờ kè làm đầm nuôi trồng
thủy sản; Khai thác gỗ, củi rừng ngập mặn và tài nguyên thuỷ sản lạm dụng quá mức;
Do tác động từ gió bão, sóng biển làm sụt lở đất và ơ nhiễm mơi trường.
Diện tích rừng ngập mặn kể cả rừng trồng và rừng tự nhiên của Việt Nam hiện
nay đều có mật độ thấp và đơn lồi do vậy cần phải có các giải pháp trồng bổ sung
để tạo ra các lơ rừng ngập mặn phịng hộ đa lồi, đa tầng. Hiện có 36.370 ha (32.870
ha thuộc khu vực rất xung yếu) bao gồm rừng tự nhiên phục hồi và rừng trồng chất
lượng kém cần phải tiến hành trồng bổ sung.
Công tác trồng rừng ngập mặn tại miền ven biển đồng bằng Bắc bộ chủ yếu
được thực hiện bằng nguồn vốn của các dự án 327, 661 và của các tổ chức quốc tế
như Hội chữ thập đỏ, Nhật Bản, Đan Mạnh…
Cây ngập mặn được trồng chủ yếu ở vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ là:
- Nơi bãi triều gần cửa sông là: Bần chua, Bần chua và Trang hoặc Bần chua và Sú.
- Nơi bãi biển xa cửa sông (vùng nước lợi mặn) là: Trang, Đước vịi hoặc Mắm
biển (nơi có độ mặn cao và đất có hàm lượng cát cao). Nhìn chung, tỷ lệ thành rừng
từ các phong trào và các dự án trồng rừng ngập mặn khơng cao, xấp xỉ 50%, với lồi
5
Trang là chủ yếu. Nguyên nhân là do rừng ngập mặn thường được gây trồng trên diện
tích tương đối rộng, kỹ thuật trồng đơn giản (bằng quả) và không phân biệt các dạng
lập địa trồng rừng đặc biệt là những lập địa khó khăn [7].
1.1.3. Vai trị của rừng ngập mặn
a) RNM có vai trị bảo vệ vùng ven biển chống sóng, xói lở bờ biển, hạn chế
gió và thúc đẩy q trình bồi tụ
RNM có vai trị to lớn trong việc bảo vệ vùng ven biển, đặc biệt tại ven biển
đồng bằng bắc Bộ là khu vực nằm trong phạm vi bồi tụ chính của sơng Hồng, sơng
Thái Bình và các phụ lưu. Hình dạng và xu thế phát triển của khu vực không đồng
nhất do xuất hiện cả hai q trình bồi tụ và xói lở. Ven biển đồng bằng Bắc bộ chịu
tác động lớn nhất của chế độ gió, do nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của
bão, khơng có các đảo che chắn ở ngồi, chính vì vậy thường xun xảy ra sóng lớn
và tác động không nhỏ tới hệ thống đê biển. Tại vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ
quần xã cây ngập mặn chủ yếu là những loài cây ưa nước lợ, trong đó lồi cây chiếm
ưu thế nhất là Bần chua, dưới tán Bần là Súa và Ơ rơ, tạo thành tầng cây bụi. Chính
vì vậy để bảo vệ đê, nhân dân ven biển Đồ Sơn (Hải Phòng), Thái Thụy, Tiền Hải
(Thái Bình), Giao Thủy (Nam Định) đã tích cực trồng được những dải rừng Bần chua,
Trang như thuần loại ở ngồi đê nhằm nhiều mục đích bảo vệ đê biển, trong đó
- Rừng ngập mặn có vai trị giảm thiểu tác hại của sóng: RNM có vai trị chống
lại sự tàn phá của sóng thần nhờ các cây ngập mặn mọc đan xen lẫn nhau, rễ cây phát
triển cả trên và dưới mặt nước cộng với thân và tán lá cây cùng kết hợp để phân tán
sức mạnh của sóng. Theo Vũ Duy Vĩnh (2015) [24], trong các điều kiện thời tiết bình
thường, độ cao sóng lớn nhất sau rừng ngập mặn chỉ còn dưới 0,1 m (ở khu vực ven
bờ Bàng La - Đại Hợp) và dưới 0,3 m (Ngọc Hải - Tân Thành). Hệ số suy giảm độ
cao sóng ở các khu vực này dao động trong khoảng 0,15-0,6. Trong điều kiện bão
nhỏ, độ cao sóng lớn nhất sau rừng ngập mặn đã giảm chỉ còn 0,5 - 0,8 m, tương ứng
với hệ số suy giảm độ cao sóng trung bình khoảng 0,4 (Bàng La - Đại Hợp) và 0,32
(Ngọc Hải - Tân Thành). Đối với bão lớn, độ cao sóng sau rừng ngập mặn lớn nhất
chỉ cịn 0,8 - 1,1 m, với hệ số suy giảm độ cao sóng trung bình khoảng 0,28 (Bàng La
- Đại Hợp) và 0,25 (Ngọc Hải - Tân Thành).
6
- Rừng ngập mặn có vai trị bảo vệ đê biển: Tại ven biển đồng bằng Bắc bộ,
nhân dân các tỉnh đã trồng các loài cây ngập mặn như Bần và Trang để chắn sóng bảo
vệ đê biển và vùng cửa sông. Đặc biệt là khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của
bão (từ cấp 6-8). Ở một số địa phương thực hiện nghiêm túc chương trình trồng rừng
327 của Chính phủ thì đê điều, đồng ruộng được bảo vệ tốt. Một số địa phương có
RNM phịng hộ ngun vẹn như các xã ở Đồ Sơn - Hải Phòng, Giao Thuỷ - Nam
Định, Hậu Lộc – Thanh Hoá, ở những nơi này đê biển hầu như không bị sạt lở trong
các cơn bão số 2, 6, 7 năm 2005.
- Rừng ngập mặn có vai trị trong việc bảo vệ đất bồi, chống xói lở, hạn chế xâm
nhập mặn: Nhờ những đặc điểm sinh học đặc trưng của các loài cây ngập mặn, đặc
biệt là bộ rễ với khả năng bám chắc trong đất, cây mọc dày đặc làm giảm vận tốc
dịng chảy tạo điều kiện cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn ở vùng cửa sông ven biển.
Nhờ vậy chúng vừa ngăn chặn hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng
thời tạo điều kiện cho trầm tích lắng đọng. Ở vùng cửa sông của hệ thống sông Hồng
phù sa thường ngưng đọng trên lịng sơng và ngồi cửa sơng tạo nên những hịn đảo
nổi. Nếu điều kiện thuận lợi thì chỉ sau một thời gian, các lồi cây ngập mặn tiên
phong sẽ đến cư trú tạo môi trường cho những loài cây đến sau và đất bồi được nâng
dần lên, như Cồn Ngạn, Cồn Lu ở Giao Thủy, Nam Định, Cồn Vành ở Thái Bình...
Đặc biệt, để bảo vệ đê khơng bị sói lở và thiệt hại thiên tai ở mức thấp thì việc trồng
và bảo vệ RNM là rất quan trọng. Cụ thể ở đoạn bờ Bằng La, Đại Hợp (Hải Phịng)
khi khơng có RNM thường xuyên bị sói lở mạnh. Tuy nhiên khi thực hiện dự án trồng
rừng do Hội chữ thập đỏ Nhật Bản hỗ trợ (1997- 2005) thì khơng những khơng bị xói
lở mà trong các cơn bão lớn năm 2005 đã bảo vệ tồn vẹn đê quốc gia. Đồng thời nhờ
có RNM mà quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và trên phạm vi hẹp, bảo vệ quá
trình canh tác và phát triển các ngành nghề khác bên trong ven biển.
b) RNM là nguồn dinh dưỡng của rất nhiều loài sinh vật ở vùng cửa sông
Tại các vùng cửa sông ven biển, các bãi biển ngập chiều không chỉ phát triển
các loài cây ngập mặn mà hệ sinh thái sinh vật cũng vô cùng phong phú và đa dạng,
bởi lẽ các vùng này được coi là những bãi kiếm ăn vô cùng lý tưởng cho nhiều sinh
vật, đặc biệt là các loài chim. Nguồn thức ăn phong phú và đa dạng cung cấp cho các
7
loài động vật, vi sinh vật hay thủy sản là xác hữu cơ thực vật dạng hạt, hoặc còn gọi
là mùn bã hữu cơ, đó là sản phẩm của quá trình phân hủy xác thực vật của cây ngập
mặn. Ngồi ra RNM cịn là nơi ni dưỡng các ấu trùng, ấu thể của các thủy sản có
giá trị như tơm sú, tôm biển xuất khẩu.
Theo Nguyễn Thị Thu (2006) [19] Số loài của động vật phù du ở vùng nước
ven bờ phía Bắc có xu thế tăng dần từ bờ ra khơi: cửa sơng (Tiên n, Nam Triệu,
Ba Lạt) có 90 lồi, vịnh Hạ Long có 87 lồi ĐVPD, vùng biển Cát Bà có 115 lồi ....
ĐVPD khu vực cửa Lạch Huyện (bao gồm cả RNM Phù Long) có số lượng ở mức
cao và khá cao trong cả hai mùa.
c) RNM cung cấp một lượng lớn hàng hóa dịch vụ
Hệ sinh thái rừng ngập mặn được biết đến với nhiều vai trò lớn trong việc cung
cấp cung cấp một lượng lớn hàng hoá và dịch vụ cho con người. Nhiều lồi cây ngập
mặn đã được chứng minh cơng dụng hữu ích với số lượng lồi khá lớn, trong đó có:
30 loài cây cung cấp gỗ, than và củi; 24 loài cây cho phân xanh, cải tạo đất; 14 loài
cây cho tannin; 21 loài cây dùng làm thuốc; 9 loài cây chủ thả cánh kiến đỏ; 21 loài
cây cho mật ong; 1 loài cây cho nhựa để sản xuất thuốc giải khát, đường. Ở vùng ven
biển đồng bằng Bắc bộ, Các lồi cây cho gỗ lớn và kích thước gỗ tăng trưởng nhanh
đó là các lồi Bần chua, trang…được sử dụng để làm nhà cửa như: Cột, kèo, róng,
nóng, cọc gỗ, giữ đáy đều được làm bằng cây đước có kích thước dài tới hàng chục
mét và đường kính cũng từ vài chục cm. Đặc biệt qủa Bần Chua đã được nhiều quốc
gia sử dụng làm nước hoa quả, làm si rô. Mới đây nghiên cứu về lĩnh vực này ở Việt
Nam cũng đang được phát triển, với việc bắt đầu nghiên cứu quy trình sản xuất rượu
Brandy sử dụng quả Bần Chua của nhóm tác giả Đồn Văn Thược & cs (2017) [22].
d) Hệ sinh thái RNM là nơi du lịch, giải trí và phát triển nghiên cứu khoa học
Ven biển vùng đồng bằng Bắc bộ nơi có cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, hùng
vĩ, cùng với những dải RNM đang phát triển là địa điểm lý tưởng cho việc vui chơi
giải trí và trải nghiệm bản thân. Trong đó nổi tiếng ở vùng ven biển Bắc bộ là các địa
điểm du lịch sinh thái được nhiều du khách quan tâm như VQG Xuân Thủy (Nam
Định); Kim Sơn (Ninh Bình); Tiên Yên, Móng Cái, Vân Đồn (Quảng Ninh); Tiền
Hải (Thái Bình); Phù Long, Tiên Lãng (Hải Phịng). Ngồi ra, các khu vực RNM còn
8
là nơi lưu trữ nguồn tri thức vô cùng lớn lôi quấn sự đam mê các nhà khoa học, các
sinh viên trong quá trình nghiên cứu và sáng tạo.
e) Bảo tồn các giá trị văn hóa và giá trị của thiên nhiên
Các khu rừng ngập mặn tại ven biển vùng đồng bằng sơng Hồng có giá trị vơ
cùng quan trọng đối với việc bảo tồn tính hoang sơ nguyên thủy của nhiều vùng đất
ngập nước ven biển. Đồng thời hỗ trợ các q trình sinh tháo ở vùng của sơng ven
biển. Duy trì quá trình diễn thế tự nhiên của HST rừng ngập mặn ở vùng cửa sông
Hồng. Đặc biệt nguồn lợi thủy sản của rừng trồng Bần Chua rất phong phú và và có
trữ lượng ổn định. Nguồn lợi thủy sản này góp phần phát triển sinh kế cho ngư dân
ven biển, ổn định đời sống. Những dải rừng Bần Chua phịng hộ góp phần tạo nên
mơi trường sinh thái thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản vùng đệm. Ngồi ra, hệ thống
rừng Bần Chua cịn đóng vai trị như một máy lọc nước, góp phần làm sạch nước khu
bơm vào ao ni thủy sản.
f) Rừng ngập mặn có vai trị sinh thái- Mơi trường vơ cùng to lớn
Rừng ngập mặn ven biển có vai trị lớn trong việc làm sạch nước của các dòng
chảy từ nội địa ra biển, nơi mà những dòng chảy mang nhiều chất thải sinh hoạt, rác
thải công nghiệp và các hoạt động khác được hệ rễ cây ngập mặn phân hủy, và biến
chúng thành thức ăn cho hệ sinh vật ở đây. Với nhiều vai trị to lớn trong việc điều
hịa khí hậu, hạn chế sự bốc hơi nước vùng đất RNM, đặc biệt RNM còn là nơi lưu
giữ nguồn các bon khổng lồ. Chính vì vậy việc trồng và phát triển rừng Bần Chua là
một trong những chiến lược quan trọng trong việc giảm thiểu hiệu ứng nhà kính và
ứng phó với biển đổi khí hậu.
1.2. Tổng quan về rừng Bần Chua
1.2.1. Đặc điểm sinh thái của rừng Bần Chua
Quá trình hình thành và phát triển của rừng ngập mặn ln có mối quan hệ mật
thiết đối với các yếu tố về điều kiện mơi trường, vì vậy mà chỉ có một số lượng rất ít
các lồi cây có thể chịu được và phát triển trong điều kiện ngập thủy triều, đất bùn
lầy và mặn, trên thế giới đã liệt kê được có 84 lồi, trong đó có 66 lồi cây gỗ, 13 loài
cây bụi, 2 loài cây họ Cau dừa, và 3 loài cây dương xỉ [7].
9
Trong đó, tại vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ Việt Nam rừng trồng chủ yếu là
Bần chua, Trang và rừng hỗn giao. Trong đề tài nghiên cứu này tập chung vào rừng
trồng Bần và các đặc điểm sinh thái, đặc tính trưởng của rừng Bần chua.
Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.), thuộc họ Bần, lớp Hai lá mầm,
ngành Hạt kín. Bần chua phân bố phân bố ở vùng rừng ngập mặn nhiệt đới và á nhiệt
đới như: Bangladesh, Brunei Darussalam, Trung Quốc (đảo Hainan), Ấn Độ,
Indonesia, Malaysia, Myanmar, Philippines, Sri Lanka, Thailand, Viet Nam, bắc
Australia, quần đảo Solomon, Vanuatu, New Caledonia và Maldives. Nó phát triển ở
vùng có lượng mưa hàng năm tương đối cao, nhiệt độ trung bình từ 20 – 27oC, pH từ
6,0 - 6,5 [7]. Bần chua sống chủ yếu ở đoạn cửa sông xa biển trong vùng bãi triều
thấp. Đây cũng là loài tiên phong ở các bãi triều mới hình thành.
Hình 1.2: Đặc điểm hình thái của Bần chua
Bần là lồi thực vật thân gỗ, chiều cao trung bình từ 10 – 15m, một số cây phát
triển trong điều kiện lý tưởng có thể cao đến 25m. Là loài cây tiên phong ở vùng kênh
rạch ven vùng sông nước, thân phân chia thành nhiều cành, cành non thường phân
10
thành nhiều đốt phình to, màu đỏ. Khơng giống với các loại cây thân gỗ khác, chất gỗ
của cây bần bở và xốp nên hầu như không được sử dụng để làm vật dụng sinh hoạt.
Rễ cây phát triển mạnh thành gốc to, mọc sâu dưới bùn đất và chắc khỏe. Rễ
của cây bần mọc ra từ thân rễ thành từng khóm quanh gốc rất đặc trưng. Lá mọc đối
xứng, phiến lá có hình trái xoan hoặc hình bầu dục, dày nhưng khá giòn. Lá bần rộng
khoảng 35 – 45mm và dài 5 – 10cm, cuống lá có gân giữa nổi rõ, có chiều dài khoảng
0.5 – 1.5cm.
Lá hình bầu dục, lá non dài, cuống lá màu đỏ nhạt, lá rụng vào mùa đông lạnh.
Cây ra hoa vào tháng 3- 4, hoa mọc đơn độc ở đầu cành hay nách lá. Hoa mọc thành
cụm ở đầu cành, cuống dài từ 0.5 – 1.5 cm, cụm hoa dài 5 cm và chứa từ 2 – 3 bơng
nhỏ. Đài hoa có mặt trong màu tím hồng, mặt ngồi màu lục. Cánh hoa thuôn ở 2 đầu,
màu trắng lục, mỗi hoa gồm khoảng 6 cánh.
Quả mọng, hình cầu dẹt, khi cịn non thường giịn và cứng, khi chín mềm. Quả
có có hình trịn ở phần đầu, vỏ quả dày, chứa nhiều hạt, quả chín cao khoảng 2 – 3
cm, đường kính 5 – 10cm, bên trong chứa nhiều hạt dẹt.
Gỗ thường dùng làm bột giấy, củi; hoa nuôi ong; quả dùng nấu canh chua; rễ
hô hấp là nguyên liệu làm mũ. Hệ rễ phát triển bám chắc vào bùn. Vì vậy, cây được
trồng ở những bãi bồi mới hình thành để ổn định đất, chắn sóng, bảo vệ đê sơng, đê biển.
1.2.2. Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của rừng Bần chua
Kết quả nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái RNM Việt Nam
cho thấy, có 6 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái nhạy cảm này: (1) nhiệt độ
không khí; (2) lượng mưa; (3) gió mùa Đơng Bắc; (4) bão; (5) triều cường; và (6)
hoạt động của con người (Phan Ngun Hồng, 1993) [8].
a) Nhiệt độ khơng khí
Rừng ngập mặn trên thế giới chủ yếu phân bố ở nơi có nhiệt độ trung bình của
tháng lạnh nhất trong năm lớn hơn 20oC và biên độ dao động của nhiệt độ khơng khí
theo mùa trong năm khơng vượt q 10oC [7]. Tuy nhiên, ở vùng ven biển đồng bằng
Bắc bộ, do đặc điểm thời tiết miền bắc có tới 4 tháng lạnh, có nhiệt độ khơng khí
trung bình trong tháng dưới 20oC và tháng lạnh nhất trong năm có nhiệt độ trung bình
dao động từ 14,7- 15,8oC [12]. Chính vì thời tiết khơng có nhiều điều kiện thuận lợi,
11
lại có nhiều tháng lạnh trong năm vì vậy mà ở đây ngèo nàn về số loài và mức độ sinh
trưởng không cao bằng vùng ven biển Nam trung bộ. Tuy nhiên chưa thể đánh giá cụ
thể được mối quan hệ giữa nhiệt độ và sự sinh trưởng của từng loài tại ven biển đồng
bằng Bắc bộ.
b) Lượng mưa hàng năm
Vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ có lượng mưa trung bình tăng dần từ ven biển
phía Bắc xuống phía Nam, điều này có thể giải thích là do ảnh hưởng trực tiếp của
bão và áp thấp nhiệt đới thường gây mưa lớn ở khu vực Bắc Trung bộ đến Trung
Trung bộ, do đó mà lượng mưa trung bình hàng năm lên tới 1.700 - 2.400 mm, năm
mưa nhiều nhất lên đến 32.83.4 mm, số ngày mưa hàng năm từ 90 - 170 ngày. Mưa
tập trung nhiều vào cuối mùa hạ (hơn 80%) nhất là các tháng 8 và 9. Mùa đơng chỉ
mưa khoảng 200 - 500 mm. Vì xuất hiện mùa khô của các tháng 12, tháng 1 trong
năm dẫn đến các điều kiện không thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loài cây ngập
mặn, hạn chế sự phân bố tự nhiên. Chính vì vậy, chủ yếu tại miền ven biển đồng bằng
Bắc bộ chủ yếu là rừng trồng ngập mặn. Vì vậy để có thể bảo vệ và phát triển rừng
trồng ngập mặn nói chung và rừng Bần chua nói riêng ở miền ven biển đồng bằng
Bắc bộ cần phải nắm được rõ mối quan hệ giữa lượng mưa và sinh trưởng của loài.
c) Hoạt động của bão và dông
Giông, bão hoạt động vào tháng 6, xảy ra nhiều vào cuối hè, ngồi ra cịn xuất
hiện nhiều tới tháng 11, tập chung chủ yếu và tháng 8. Trung bình hàng năm ở vùng
ven biển đồng bằng Bắc bộ có 4,2 cơn bão. Bão thường có gió và sóng lớn làm cho
cây ngập mặn sinh trưởng kém hoặc bị đỗ gẫy. Do đó ở những vùng nhiều bão thì
chiều cao của cây rừng ngập mặn thường khơng cao mà thấp.
d) Hoạt động của gió mùa
Vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh
hưởng chủ yếu của gió mùa Đơng Bắc, gió mùa Tây Nam và Đơng Nam. Gió mùa
Đơng bắc mang theo khơng khí lạnh từ cực Bắc tràn về, đặc biệt là ở vùng ven biển
Quảng Ninh và vùng ven biển đồng bằng Sơng Hồng. Trong một năm có khoảng từ
20 đến 25 đợt gió mùa Đơng Bắc gây ra các hiện tượng sương muối, kìm hãm sự phát
12
triển rừng ngập mặn, dẫn đến khả năng chết hàng loạt gây suy giảm rừng và khả năng
phòng hộ ven biển.
1.3. Nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH tới rừng ngập mặn
1.3.1. Nghiên cứu trong nước
Rừng ngập mặn không chỉ có vai trị rất lớn trong việc phát triển sinh kế, mà
cịn đóng vai trị quan trọng trong việc bảo vệ đê biển và các hệ sinh thái bên trong
ven bờ biển. Đặc biệt trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay, cùng với sự gia tăng
xu thế BĐKH gây ra các hiện tượng, cũng như điều kiện khí hậu bất thường thì RNM
là một trong những hệ sinh thái có sự thích ứng cao với BĐKH, tức là khả năng bị
tổn thương thấp. Chính vì vậy, HST rừng ngập mặn luôn là chủ đề mà các nhà nghiên
cứu khoa học tìm đến bởi lẽ đây là HST đầy tiềm năng ở cả hiện tại và tương lai. Tại
Việt Nam, RNM đang là một trong những đề tài được quan tâm nhiều nhất bởi các
nhà khoa học, các đối tượng nghiên cứu khác để phục vụ các hoạt động học tập và
các lĩnh vực khác để phát triển RNM.
Trong đó, các hệ sinh thái RNM tại ven biển đồng bằng Bắc Bộ của các tỉnh
Hải Phịng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình đã được tìm hiều và nghiên cứu với
nhiều đề tài khác nhau về BĐKH và nước biển dâng. Để đánh giá được sát sao hơn
và phục vụ trong việc phân tích mối quan hệ giữa nhiệt độ và lượng mưa với đặc điểm
sinh trưởng của rừng Bần chua thì đề tài tập chung tìm hiểu các nghiên cứu về tác
động của BĐKH đến sự sinh trưởng của RNM, hay những khả năng thích ứng của
RNM đối với xu hướng BĐKH hiện nay.
Với nghiên cứu của Phạm Hồng Tính & cs về tính dễ bị tổn thương đối với
BĐKH của RNM ven biển miền Bắc Việt Nam đã chỉ ra những biến đổi rõ rệt của hệ
sinh thái RNM dưới tác động của BĐKH. Với nhiệt độ tăng hàng năm khoảng 0,0130,23oC và mực nước biển dâng 1,9 mm/năm, lượng mưa lại giảm khoảng 1,122- 15,34
mm/năm là nguyên nhân tác động tới sự sinh trưởng và tồn tại của HST rừng. Tuy
nhiên, qua kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng RNM có khả năng thích ứng rất cao và
tính dễ bị tổn thương là khơng lớn, kết quả thể hiện thông qua biến động diện tích
RNM, bồi tụ trầm tích của RNM. Trong đó thể hiện ở diện tích RNM suy giảm nhiều
trong giai đoạn 1990-2000, nhưng đến năm 2013 đã tăng lên ngang bằng diện tích
13
RNM năm 1990. Ngồi ra, sự bồi tụ trầm tích tại các điểm nghiên cứu Đồng Rui,
VQG Xuân Thủy và ven biển Hậu Lộc lần lượt là 2,1; 10,4 và 5,2 mm/năm, các số
liệu này cao hơn so với tốc độ tăng nước biển là 1,9 mm/năm [13].
Tại ven biển đồng bằng Bắc bộ, ven biển Thái Bình được nhận định là vùng dễ
bị tổn thương do BĐKH và nước biển dâng. Tỉ lệ diện tích ngập do nước biển dâng
có thể lên tới 12%, các hệ sinh thái RNM, hệ sinh thái vùng cát ven biển và hệ sinh
thái ngập nước nuôi trồng thủy sản đã và đang chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố
thời tiết bất lợi. Đặc biệt là HST ven biển chịu tác động mạnh nhất, đễ bị tổn thương
nhất dẫn đến hủy diệt một phần. Các quần xã rừng thay đổi về khu phân bố và thành
phần loài. Quy luật diễn thế bị đẩy lùi theo hướng tái tạo trở lại các quần xã đã từng
lấn ra biển, nay quay lại vùng bờ, làm thay đổi sâu sắc chức năng sinh thái vùng bờ
và nguồn lợi thủy sản [21].
Theo Trần Thị Thúy Vân & cs [23] trong đề tài “Sinh khí hậu và phát triển rừng
ngập mặn ven biển tỉnh Thái Bình” đã nghiên cứu và cho thấy thực vật ngập mặn
trong khu vực chịu một số tác động bất lợi của điều kiện sinh khí hậu như thời kỳ khơ
hạn vào đầu mùa đơng; thời tiết lạnh trong những đợt gió mùa cực đới hoạt động
mạnh; thời tiết nóng trong những tháng mùa hè; bão và áp thấp nhiệt đới. Tuy nhiên
xét trên tổng thể sinh khí hậu hiện tại của tỉnh Thái Bình có chế độ nhiệt, chế độ mưa
ẩm thì về cơ bản cho phép phát triển RNM ở đây. Biên độ nhiệt năm tương đối cao,
lượng mưa hơi thấp và có thể gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây ngập mặn,
trong đó có Bần chua. Do vậy có thể có thể làm hạn chế về số lượng, thành phần lồi,
kích thước cây ngập mặn trong khu vực so với nơi khác.
Các nghiên cứu đã cho thấy RNM tại Việt Nam đang đứng trước những áp lực
tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Sự thay đổi về nhiệt độ và lượng
mưa đã không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh trưởng của thực vật ngập mặn mà
còn ảnh hưởng gián tiếp bởi nước biển dâng. Đặc biệt, RNM ở vùng ven biển đồng
bằng sông Hồng, nơi có hệ thống đê biển đang được kiên cố hóa, tuy nhiên cũng là
nơi được sự báo sẽ chịu nhiều tác động bởi nước biển dâng. Trước những tác động
qua lại của BĐKH, hệ sinh thái RNM có thể phát triển và tồn tại trên đúng một vị trí
nếu tốc độ bồi lắng trầm tích của khu vực tương ứng với mực nước biển dâng. Theo
14
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Cúc & Trần Văn Đạt (2012) [3] về khả năng
thích ứng của hệ sinh thái RNM với BĐKH ở đồng bằng sông Hồng, trong đó đã đưa
ra 3 yếu tố để thấy được tốc độ bồi lắng cao do tác động của con người và mực nước
biển dâng ở vùng biển bắc bộ cao hơn 0,16-2,20 cm/năm. Ngoài ra một thực tế rất rõ
ràng là hầu hết hệ thống đê biển vùng ven biển miền bắc đã và đang được kiên cố hóa
và nâng cấp. Tổng hợp và phân tích lại tác giả đã cho thấy có thể thấy hệ sinh thái
rừng ngập mặn ven biển đồng bằng sơng Hồng có nguy cơ đối mặt với suy thoái trước
ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu.
1.3.2. Nghiên cứu ngồi nước
Theo tác giả Mckee (2004) [25], sự thay đổi khí hậu và các yếu tố khác cũng có
thể ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của RNM và ảnh hưởng theo nhiều hướng phức
tạp. Nhiệt độ tăng lên, làm đẩy nhanh q trình nóng lên tồn cầu sẽ làm mở rộng
RNM lên vĩ độ cao hơn, đồng thời làm tăng mực nước biển nhanh chóng do băng tan.
Sự thay đổi mực nước biển sẽ kéo theo hiện tượng lũ lụt, làm giảm sự phân bố cũng
như diện tích của RNM. Khí hậu thay đổi cũng có thể thay đổi chế độ mưa, gián tiếp
thay đổi chế độ nhiễm mặn cục bộ và gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của RNM.
Việc tăng mực nước biển có thể gây đến gia tăng tốc độ xói mịn và bồi lắng ở RNM.
Ngồi ra, tác giả còn chỉ ra rằng một trong những yếu tổ thay đổi tồn cầu khác có
thể ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinh trưởng của RNM đó là sự gia tăng carbon dioxde
trong khí quyền gây ra bởi đốt nhiên liệu hóa thạch và nhiều yếu tố khác.
Tại một nghiên cứu ở vùng biển Caribbean đã được nhận định là BĐKH sẽ tác
động đến RNM thông qua nhiều cơ chế bao gồm: Mực nước biển dâng; Tăng CO2
trong khí quyển; Tăng nhiệt độ bề mặt; Thay đổi lượng mưa và sự gia tăng về tần
xuất, mức độ nghiêm trọng của các hiện tượng thời tiết cực đoan. RNM ở vùng biển
Carribbean có nguy cơ cao bị tác động vởi BĐKH, ngoài việc phải đối mặt với việc
tăng nhanh về mức độ, mà các mơ hình khí hậu dự đốn rằng trong thế kỉ tới,
Caribbean sẽ trải qua sự gia tăng bởi nhiệt độ mặt biển; lưu lượng mưa giảm và có
khả năng sẽ tăng các cơn bão và các hiện tượng thời tiết khắc nhiệt khác. Các tác
động tích lũy của BĐKH sẽ gây ra các thiệt hại về RNM, đặc biệt là suy giảm đáng
15
kể diện tích RNM và nhiều dịch vụ HST, cũng như các giá trị về kinh tế mà RNM
mang lại trên khắp vùng biển Caribbean [27].
Một nghiên cứu của tác giả Manoj Kumer & cs (2017) [26] thì sự thay đổi nhiệt
độ và mơ hình lượng mưa đã được đề xuất là một yếu tố ảnh hưởng tới sự thay đổi
trong thành phần loài cây ngập mặn và sự phân bố trong không gian. Nghiên cứu này
đã đánh giá mối quan hệ giữa nhiệt độ, lượng mưa và sự sinh trưởng của các loài cây
ngập mặn trong Sundarbans ở Bangladesh, trong khoảng thời gian 38 năm từ 1977
đến 2015. Chủ yếu, xu hướng nhiệt độ và lượng mưa trong thời gian nghiên cứu được
xác định bằng mơ hình xu hướng tuyến tính; sau đó, được giám sát bằng kỹ thuật
phân loại phân loại hình ảnh được ghi lại bởi loạt Landsat và kỹ thuật so sánh sau
phân loại đã được sử dụng để phát hiện những thay đổi ở cấp độ lồi ngập mặn. Sau
q trình phân tích cho thấy trong suốt thời gian nghiên cứu, nhiệt độ trung bình có
xu hướng đang gia tăng ở Sundarbans, trong khi tổng lượng mưa hàng năm đang giảm
trong khu vực nghiên cứu, 5 lồi cây ngập mặn chính được xác định là H. fomes, E.
agallocha, C. decandra, X. mekongensis và S. apelatala. Theo kết quả nghiên cứu, H.
fomes và E. agallocha giảm lần lượt là 10,7% và 4,8%; trong khi C. decandra, X.
mekongensis và S. apelatala tăng lần lượt 35,7%, 76,3% và 212,1%. Kết quả hồi quy
tuyến tính đã làm nổi bật mối quan hệ giữa nhiệt độ, lượng mưa và sự phát triển của
lồi cây ngập mặn. Trong đó, một mối quan hệ mạnh mẽ được tìm thấy giữa động lực
học của H. fomes và S. apelatala với nhiệt độ và lượng mưa, trong khi C. decandra
cho thấy mối quan hệ yếu. Ngược lại, khơng có mối quan hệ đáng kể đã được tìm thấy
giữa động lực học của E. agallocha và X. mekongensis và nhiệt độ hoặc lượng mưa.
Xác định tầm quan trọng của nhiệt độ và lượng mưa cung cấp một chiều để đánh
giá tác động của các biến khí hậu đến các lồi cây ngập mặn trong bối cảnh dễ bị tổn
thương do hậu quả của khí hậu thay đổi. Việc đánh giá liên tục này là rất quan trọng
để hiểu tác động của các biến khí hậu đến rừng ngập mặn cũng như để phát triển các
chiến lược thích ứng cho rừng.
1.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.4.1. Vị trí địa lý
16