TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
——🙠🙡🕮🙣🙢——
BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: KINH TẾ KHU VỰC VÀ ASEAN
ĐỀ TÀI: TỔNG QUAN KINH TẾ LÀO
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Ngọc Diệp
Nhóm thực hiện: 10
Lớp HP: 2163FECO2031
1
Hà Nội, 2021
2
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
3
B. NỘI DUNG
4
CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ QUAN TRỌNG CỦA LÀO
4
1.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
4
1.2. Tốc độ tăng trưởng GDP
5
1.3. GDP bình quân đầu người
8
1.4. Tỷ lệ lạm phát
9
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN VĂN HÓA XÃ HỘI CỦA LÀO
11
2.1 Điều kiện về tự nhiên
11
2.2 Điều kiện về văn hóa xã hội
16
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ CỦA LÀO
23
3.1. Lịch sử phát triển kinh tế Lào qua các giai đoạn
23
3.2. Đánh giá tổng quan kinh tế
26
3.3. Đầu tư
34
3.4. Lao động
38
C. KẾT LUẬN
46
3
A. MỞ ĐẦU
Lào - xứ sở của “Triệu voi”, là quốc gia duy nhất tại Đông Nam Á không giáp biển.
Lào nằm ở một trong những trung tâm khu vực năng động và thịnh vượng của Đông Nam
Á, được ban tặng tiềm năng to lớn để hỗ trợ nền tảng tài nguyên chiến lược và có chung
đường biên giới với 5 quốc gia láng giềng: Trung Quốc, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan
và Myanmar. Bên cạnh đó, Lào đã trải qua khơng ít thăng trầm trong những chặng đường
lịch sử lâu dài của dân tộc bao gồm an ninh, chính trị, kinh tế, đời sống vật chất xã hội và
có được những chuyển biến sâu sắc.
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia, là yếu tố cơ bản
bảo đảm ổn định xã hội. Phát triển kinh tế không chỉ để thỏa mãn nhu cầu đời sống vật
chất của con người mà cịn có sự tác động nhất định đến sự thịnh vượng và an ninh của
quốc gia. Quốc gia giàu mạnh là quốc gia có nền kinh tế mạnh. Hiểu được tầm quan
trọng của nó, rất nhiều quốc gia trong đó có Lào, từ ngay sau khi kết thúc chiến tranh, đã
bắt tay ngay vào công cuộc phát triển kinh tế để vực dậy sức mạnh của dân tộc và đã đạt
được một số thành công nhất định. Phải kể đến gần đây, Lào được biết đến là một đất
nước mới nổi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thuộc top hàng đầu Châu Á và Thế giới,
GDP luôn nằm trong khoảng từ 5-7%/năm, tăng trưởng cao ngay trong đại dịch Covid
19, tỷ lệ thoát nghèo giảm đáng kể, chất lượng đời sống của người dân được nâng cao và
cải thiện, mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia ngày càng mở rộng và tăng cường,...Tuy
nhiên, Lào vẫn đang gặp khó khăn về hoàn cảnh địa lý gây cản trở cho cho việc phát triển
thương mại, cơ sở hạ tầng xã hội cũng như các liên kết giao thông và liên lạc; ngồi ra
những chính sách kinh tế cịn tồn đọng và cần phải giải quyết,...
Để tìm hiểu sâu hơn về sự thay đổi cũng như những điểm chú ý về kinh tế Lào, nhóm
10 xin trình bày về đề tài: “Tổng quan về kinh tế Lào”.
4
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ QUAN TRỌNG CỦA
LÀO
1.1. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Lào vào năm 2020 là 19,14 tỷ USD, tăng 0,89
tỷ USD so với năm 2019 với 18,25 tỷ USD (theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế
giới).
- GDP của Lào năm 2021 dự kiến sẽ đạt 19,90 tỷ USD nếu nền kinh tế Lào vẫn giữ
nguyên nhịp độ tăng trưởng GDP như năm vừa rồi. GDP vào năm 2022 dự kiến tăng
4,5%.
Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy trong giai đoạn 1984-2020, GDP của Lào đạt:
+ Đỉnh cao nhất vào năm 2020 với 19.136.194.849 USD.
+ Thấp nhất vào năm 1988 với 598.961.269 USD.
5
GDP các nước trong ASEAN năm 2020 và 2021 (tính đến ngày 16/6/2021)
Đơn vị: tỷ USD
Nguồn: statista.com
Qua biểu đồ trên, xét trong khối các nước ASEAN, ta thấy được GDP của Lào chỉ
cao hơn mỗi Brunei, lần lượt là 19,14 tỷ USD so với 12,02 tỷ USD (2020) và 20,44 tỷ
USD so với 15,25 tỷ USD (2021). GDP của Lào thấp hơn 55 lần (2020) và 57 lần (2021)
so với GDP của Indonesia.
1.2. Tốc độ tăng trưởng GDP
Suy thoái kinh tế ngày càng trầm trọng hơn do ảnh hưởng của đại dịch COVID – 19,
điều này cho thấy Lào dễ bị tổn thương như thế nào trước cú sốc bên ngoài. Các biện
pháp ngăn chặn vi rút đã dẫn đến mất việc làm và sinh kế, đồng thời dẫn đến giảm khả
năng thu ngân sách của chính phủ. Tăng trưởng kinh tế giảm xuống ước tính 0,44% vào
năm 2020, mức thấp nhất trong ba thập kỷ và đợt đại dịch thứ hai vào năm 2021 đã làm
mất đi hy vọng phục hồi, với tốc độ tăng trưởng dự báo chỉ 2,3% cho năm 2021. Quốc
gia này phải đối mặt với bất ổn kinh tế vĩ mô, với nghĩa vụ nợ ngày càng tăng, rủi ro tài
chính cao và thu nhập ngoại hối không đủ.
6
Tốc độ tăng trưởng GDP của Lào (%)
Nguồn: World Bank
Qua biểu đồ trên, ta thấy tốc độ tăng trưởng GDP của Lào là 0.44% trong năm 2020
giảm 5.02 điểm so với mức tăng 5.46 % của năm 2019.
Qua biểu đồ trên, ta thấy được hầu như các trong ASEAN có độ tăng trưởng GDP
âm, trong đó Philippines là quốc gia có tốc độ tăng trưởng âm lớn nhất với -9,6% và Lào
là nước có tốc độ tăng trưởng GDP âm thấp nhất với -0,5%. Tuy nhiên vẫn có các quốc
7
gia có tốc độ tăng trưởng GDP dương như Myanmar với 3,3%, Việt Nam với 2,9%,
Brunei với 1,2%, nguyên nhân các nước này tăng trưởng dương là do kiểm soát dịch
bệnh Covid – 19 tốt.
Dự báo trong năm 2021, các quốc gia trong ASEAN gần như đều có tốc độ tăng
trưởng GDP dương, trong đó Lào 2,3% cao hơn so với Thái Lan, Myanmar, Campuchia.
Quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất với 6,5% là Singapore.
Đánh giá
Tác động đầu tiên vào năm 2020 là tăng trưởng kinh tế. Từ dự báo sơ bộ thì GDP
của Lào sẽ tăng trưởng trên 4% do tình hình dịch bệnh của Covid. Có các tổ chức tài
chính nước ngồi như Ngân hàng Thế giới. ngân hàng phát triển châu Á và Quỹ Tiền tệ
Quốc tế ước tính rằng Tăng trưởng sẽ âm hoặc dương dưới 1%, nhưng vào cuối năm.
Ngồi ra cịn có các báo cáo về số liệu GDP của Lào từ Trung tâm Thống kê Quốc gia.
Con số đó tổng hợp để tăng trưởng 3,3%, được coi là khả quan. Và nó tốt hơn so với dự
đốn của nhiều tổ chức trước đó.
Đối với các doanh nghiệp khác nhau, họ có thể tiếp tục hoạt động bình thường. Vì
phần lớn ổ dịch đến từ các khu vực cách ly và người lao động từ nước ngồi trở về. Vì
vậy, khơng có sự lây nhiễm trong các cơng nhân xây dựng các cơng trình lớn của chính
phủ. Do đó, nhiều dự án khác nhau đã có thể tiến hành đúng kế hoạch và hoàn thành
8
đúng tiến độ, chẳng hạn như dự án đường sắt tốc độ trung bình Lào-Trung với khoảng
cách 471 km nối Thủ đô Viêng Chăn với Boten. Các thành phố giáp với Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa cũng bao gồm các dự án cơ sở hạ tầng lớn khác, các dự án khai thác mỏ.
và các dự án nhà máy điện điều đó tiếp tục tiến lên theo kế hoạch.
1.3. GDP bình quân đầu người
- GDP bình quân đầu người (GDP/người) của Lào là 2.630 USD/người vào năm
2020. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Lào đạt -1.03% trong năm 2020,
chỉ tăng 85 USD/người so với con số 2.545 USD/người của năm 2019, nguyên nhân là
do dịch Covid – 19. Nhìn chung, GDP bình quân đầu người của Lào có xu hướng tăng
theo các năm. GDP bình qn đầu người ở Lào năm 2020 tương đương 15 phần trăm
mức trung bình của thế giới.
Nhìn vào biểu đồ trên, ta có thể thấy trong giai đoạn 1984-2020 GDP bình quân đầu
người của Lào đạt:
+ Đỉnh cao nhất vào năm 2020 với 2.630 USD/người.
+ Thấp nhất vào năm 1988 với 149 USD/người.
- GDP bình quân đầu người của Lào năm 2021 dự kiến sẽ đạt 2.718 USD/người nếu
nền kinh tế Lào vẫn giữ nguyên tốc độ tăng trưởng GDP và mức dân số như năm vừa rồi.
9
Qua biểu đồ trên, ta thấy, trong các nước ASEAN, GDP bình quân đầu người của
Lào năm 2020 là 2.630 USD/người chỉ cao hơn Campuchia với 1.655 USD/người và
Myanmar với 1.527 USD/người. Singapore là nước có GDP cao nhất với 59.797
USD/người, cao hơn gấp gần 23 lần so với Lào. Điều này chứng tỏ nền kinh tế của Lào
vẫn chưa thể theo kịp được các nước trong ASEAN.
1.4. Tỷ lệ lạm phát
10
Qua biểu đồ trên, ta thấy tỷ lệ lạm phát của Lào năm 2020 là 5.1%, một tỷ lệ tương
đối cao so với các nước trong khu vực ASEAN, chỉ thấp hơn mỗi Myanmar với 5.7%. Tỷ
lệ lạm phát của Lào cao bởi vì kinh tế gặp khó khăn do bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh
Covid – 19.
Dự báo trong năm 2021, tỷ lệ lạm phát của Lào giảm xuống 3.7% do nước này phần
nào đó đã kiểm sốt được dịch bệnh. Tuy nhiên, nếu so với các nước trong ASEAN thì tỷ
lệ lạm phát của Lào vẫn khá cao khi mà chỉ thấp hơn Philippines với 4.1% và Myanmar
là 6.2%.
Tuy nhiên, dự báo xa hơn nữa là vào năm 2022, tỷ lệ lạm phát của Lào là 4.5%, cao
nhất trong các nước ASEAN. Vì vậy, ngay từ bây giờ, Lào cần có các biện pháp nhằm
kiềm chế lạm phát.
11
=> Qua các chỉ số kinh tế trên, ta có thể thấy được nền Kinh tế Lào vẫn tăng trưởng
tuy nhiên đang có xu hướng giảm tốc so với những năm trước đó. Để đưa nền kinh tế Lào
trở lại ổn định và xa hơn nữa là tăng trưởng nhanh thì Lào cần có các biện pháp tốt để
kiềm chế lạm phát, kiểm sốt dịch bệnh. Chính phủ Lào cần có các dự án cụ thể để phục
hồi nền kinh tế sau Covid - 19, đạt được mức tăng trưởng kinh tế như đã dự đoán, lên kế
hoạch, cũng như là tận dụng thời cơ này để đưa Lào theo kịp các nước trong ASEAN.
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐIỀU KIỆN VĂN HÓA XÃ
HỘI CỦA LÀO
2.1 Điều kiện về tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện khí hậu
Lào (hay cịn gọi là Cộng Hịa Dân Chủ Nhân Dân Lào) nước độc lập không giáp
biển nằm ở khu vực Đông Nam Á. Đây là một điều bất lợi đối với Lào khi khơng có điều
kiện trong sự phát triển ngư nghiệp, các sản phẩm thủy sản và đặc biệt phát triển du lịch
biển.Trong khi các quốc gia ASEAN khác như Việt Nam hay Thái Lan thì lại có lợi thế
tốt trong phát triển du lịch biển.
12
Tiếp giáp là các nước Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Myanmar. Có
biên giới chung và cũng là quốc gia láng giềng thân thiết, Lào là đối tác quan trọng trong
xuất-nhập khẩu với Thái Lan và Việt Nam. Về đối tác xuất khẩu thì là: gỗ, cà phê, điện,
thiếc,đồng, vàng. Đối tác nhập khẩu về máy móc, thiết bị, xe tải, nhiên liệu, hàng hóa tiêu
dùng.
Với vị trí địa lý như vậy, CHDCND Lào là một trong những nước ASEAN được các
nhà đầu tư quan tâm và ưu tiên hàng đầu, với tốc độ phát triển kinh tế cao hơn các nước
khác từ lợi thế nằm trên khu vực là trung tâm của tiểu vùng sông Mekong kết nối các
nước thành viên GMS là Thái Lan, CHDCND Lào, Campuchia, Việt Nam, Myanmar và
Nam Trung Quốc có dự án phát triển các tuyến giao thông kết nối với tất cả các tuyến
của CHDCND Lào, đặc biệt là dự án đường sắt tốc độ trung bình Lào - Trung. CHDCND
Lào trở thành trung tâm kết nối GMS với các tuyến giao thơng quan trọng từ Trung Quốc
đến Châu Âu. Đó là một sự mở rộng đáng kể của các cánh cửa thương mại sẽ tăng cường
kết nối của nó với nền kinh tế tồn cầu.
Lào đại thể có thể chia thành 3 miền: Bắc Lào, Trung Lào, Nam Lào.
Với diện tích khoảng 236,800km2, Lào có diện tích đứng thứ 7 trong khối ASEAN.
Địa thể đất Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh, chủ yếu là núi và cao ngun
với dãy Trường Sơn ở phía đơng bắc và phía đơng, dãy Luangprabang ở phía tây bắc,
đỉnh cao nhất là Phou Bia cao 2.817m. Diện tích cịn lại là bình ngun và cao ngun.
Sơng Mê Kơng chảy dọc gần hết biên giới phía tây , giáp giới với Thái Lan, trong khi đó
dãy Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đơng giáp với Việt Nam. Các dãy núi khác
có đặc trưng chủ yếu là địa hình dốc. Địa hình đồi núi trải dài khắp miền bắc đất nước trừ
đồng bằng Viêng Chăn, cánh đồng Chum, cao nguyên Xiengkhuang. Phía tây nam ở các
tỉnh Savannakhet, Champasack có diện tích đồng bằng lớn.
Đất nước Lào được thiên nhiên ưu ái cạnh dịng sơng Mê Cơng. Con sơng vừa là một
nguồn thủy văn dồi dào, trục giao thông của đất nước vừa là yếu tố thống nhất Lào về
mặt địa lý. Đồng bằng ven sông tuy hẹp nhưng màu mỡ, là vựa lúa của Lào. Đây là điều
kiện giúp cho Lào phát triển ngành nông nghiệp đặc biệt là trong việc có thế mạnh xuất
khẩu các mặt hàng nơng sản chủ lực như: cà phê, rau quả và đặc biệt là lúa gạo.
13
Khí hậu trong khu vực là khí hậu nhiệt đới với đặc trưng là có mùa mưa và mùa khơ.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô mát từ tháng 11 đến tháng 4; các vùng núi
cao có lúc nhiệt độ xuống rất thấp đến mức có băng giá. Mùa khơ nóng từ tháng 3 đến
tháng 4. Vùng ven sông Mê Công ở Hạ Lào vào mùa khô nóng có thể có lúc nhiệt độ lên
tới 40oC. Lào có lượng mưa lớn trong năm.Với lượng mưa lớn này thích hợp cho việc
canh tác và phát triển nơng nghiệp.
2.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
Lào có tài nguyên thiên nhiên phong phú về lâm, nơng nghiệp, khống sản và thủy
điện. Một vài tài nguyên có giá trị khai thác và xuất khẩu có thể kể đến như: gỗ xẻ ,thuỷ
năng, vàng , thạch cao, thiếc, đá quý.
Về tài nguyên rừng:
Rừng bao phủ khoảng 81,3% lãnh thổ của đất nước (2015). Loại rừng phổ biến
nhất ở Lào là rừng rụng lá hỗn hợp có diện tích khoảng 363 dặm vng. Một số loại cây
phổ biến nhất ở Lào bao gồm gỗ lim, gỗ đỏ và thông được sử dụng chủ yếu để sản xuất
gỗ. Rừng ở Lào được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như cung cấp củi và gỗ để
xây dựng. Gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Lào.
Mặc dù có tầm quan trọng kinh tế to lớn, nhưng rừng của Lào phải đối mặt với
một số thách thức lớn như nạn phá rừng và chất lượng cây ngày càng giảm sút. Chính
phủ Lào đã ban hành một số luật cấm đốt nương làm rẫy để bảo vệ gỗ cứng của đất
nước.
Đất Canh Tác
Diện tích đất canh tác của Lào chiếm khoảng 6,61% tổng diện tích của Lào. Và trong
những năm gần đây vẫn tăng lên đáng kể. Sự gia tăng diện tích đất canh tác ở Lào có thể
là do tầm quan trọng của nông nghiệp đối với nền kinh tế Lào. Năm 2017, ước tính nơng
nghiệp đóng góp khoảng 21% GDP của Lào. Nông dân Lào trồng nhiều loại cây khác
nhau như xồi, lúa và cà phê. Ngành nơng nghiệp Lào phải đối mặt với một số thách thức
như xói mịn đất và quá tuân thủ các phương pháp nông nghiệp truyền thống. Chính phủ
Lào đã khuyến khích nơng dân áp dụng các kỹ thuật nông nghiệp hiện đại như sử dụng
phân bón thương mại và máy kéo để tăng năng suất.
14
Tài nguyên nước
Người ta ước tính rằng nước mặt và nước ngầm chảy từ các lưu vực đầu nguồn của
Lào, bao gồm cả những vùng đất rộng lớn với năng suất thấp, đóng góp 35% tổng lượng
dịng chảy trung bình của sơng Mekong, với 80% dịng chảy này được cung cấp trong
mùa mưa. Mekong là con sơng chính của đất nước, với tổng chiều dài 1.860 km chảy từ
bắc xuống nam, tạo thành một đường biên giới dài với Thái Lan.
Nước cung cấp cho đất nước các nguồn tài nguyên phục vụ tưới tiêu, thủy sản, trồng
rừng, chăn nuôi và tiềm năng thủy điện (công suất ~ 23.000 MW), cũng như cấp nước
cho đô thị và nông thôn. Với lượng nước ngọt khổng lồ, chỉ 5,7 tỷ m³ đã được sử dụng
hàng năm. Nước chủ yếu được sử dụng cho nông nghiệp (82%), tiếp theo là công nghiệp
(10%) và phần cịn lại cho các mục đích gia đình.
Đặc biệt là trong ngành thủy điện, với địa hình đồi núi có nhiều con sơng chảy qua.
Điều này làm cho nó phù hợp để xây dựng các đập thủy điện để tạo ra điện cho cả nhu
cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu.
Lúa Gạo
Một trong những loại cây trồng quan trọng nhất ở Lào là cây lúa, loại cây chủ yếu
được trồng để tự cung tự cấp. Chính phủ Lào ước tính rằng lúa được trồng trên gần 80%
diện tích đất nông nghiệp của cả nước.
Cà Phê
Đất ở Lào rất thuận lợi cho việc trồng cà phê vì chúng có đủ chất dinh dưỡng. Một
trong những khu vực thuận lợi nhất cho việc trồng cà phê ở Lào là Cao nguyên Bolaven
nằm ở Paksong. Chính phủ Lào ước tính rằng đất nước này là nơi sinh sống của khoảng
20.000 cộng đồng chuyên trồng cà phê, trải rộng ở khoảng 250 ngôi làng. Nông dân Lào
trồng cả cà phê Arabica và cà phê Robusta với Robusta là loại phổ biến nhất. Cà phê Ả
Rập từ Lào được nhiều người ưa chuộng vì hương vị độc đáo của nó. Lào là một trong
những quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu của thế giới, đứng thứ 3 ASEAN sau Việt Nam
và Indonesia, và chính phủ Lào đang làm việc với nơng dân để tăng số lượng Cà phê
Arabica được trồng trong nước.
15
Theo Ngân hàng Thế giới, ngành công nghiệp cà phê nằm trong số 10 công cụ tạo
doanh thu hàng đầu trong nền kinh tế của đất nước. Năm 2017, giá trị xuất khẩu cà phê
của Lào đã vượt 112 triệu USD.
Mặc dù Lào là một quốc gia trồng cà phê, nhưng người Lào lại quen với việc uống cà
phê bột hoặc ngọt nhiều hơn là cà phê hòa tan. Du lịch cà phê cũng phát triển ở Paksong,
nơi du khách có thể thưởng thức những tách cà phê đậm chất Lào.
Khoáng Chất
Một số tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất của Lào là khoáng sản, bao gồm than,
đồng và vàng. Một số mỏ quan trọng nhất của Lào bao gồm mỏ Sepon và mỏ Hongsa.
Mỏ Sepon là một trong những mỏ vàng quan trọng nhất trên tồn cầu vì trữ lượng vàng
của nó ước tính nặng hơn 7,6 triệu ounce.
Trong thế kỷ 21, ngành cơng nghiệp khai khống của Lào đã thu hút đầu tư từ các
cơng ty nước ngồi dẫn đến sự phát triển của ngành. Từ năm 2003 đến năm 2012, vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực này đạt 5,3 tỷ USD, chiếm gần 30% tổng
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào cả nước. Tuy nhiên, do giá cả hàng hóa tồn cầu
giảm sau năm 2012, sản lượng khai thác của các mỏ chính bị thu hẹp và đóng góp của
lĩnh vực khai khoáng cũng giảm. Năm 2018, lĩnh vực khai khoáng chỉ chiếm 6% GDP và
28% kim ngạch xuất khẩu, so với 16% và 43% của năm 2012 (Hình bên dưới).
Cảnh Quan Đẹp
16
Cảnh đẹp của Lào là một trong những nguồn tài ngun thiên nhiên quan trọng nhất
của nó vì nó thu hút lượng lớn khách du lịch đến đất nước này, với lượng khách 0,66
khách du lịch/người dân, Lào xếp thứ 89 trên thế giới và đứng thứ 4 Đông Nam Á vào
năm 2019. Một số điểm đến đẹp nhất ở Lào bao gồm thác Kuang Si và động Pak Ou. Dữ
liệu từ Chính phủ Lào cho thấy ngành du lịch tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ ngành nào
khác của nền kinh tế nước này. Chính phủ đã đầu tư rất nhiều vào việc cải thiện ngành du
lịch của đất nước chủ yếu thơng qua quảng cáo ở nước ngồi.
2.2 Điều kiện về văn hóa xã hội
2.2.1. Dân số và tốc độ tăng trưởng dân số
Dân số hiện tại của Lào là 7.414.310 người vào ngày 03/11/2021 theo số liệu mới
nhất từ Liên Hợp Quốc, chiếm 0,09% dân số thế giới.
Lào đang đứng thứ 105 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng
lãnh thổ. Mật độ dân số của Lào là 32 người/km2.
36,29% dân số sống ở thành thị (2.640.299 người vào năm 2019).
17
Theo ước tính đến năm 2017 có 79,86% dân số trưởng thành (từ 15 tuổi trở lên) ở
Lào có thể đọc và viết.
Giáo dục bắt buộc và miễn phí 8 năm (từ 7 đến 15 tuổi). Tuy vậy số học sinh bỏ học
nhiều. Cơng tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng yếu kém. Tỷ lệ tử vong trẻ em cao, các
bệnh lao, sốt rét, viêm gan, kiết lỵ khá phổ biến và là một mối quan tâm lớn của cộng
đồng.
Người Lào sinh sống phân bổ không đều trên lãnh thổ. Hầu hết sống tại các thung
lũng của sông Mekong và các phụ lưu, nơi thuận tiện cho việc phát triển sinh kế.
18
Tỷ lệ giới tính trong tổng dân số là 1,008 (1.008 nam trên 1.000 nữ) thấp hơn tỷ lệ
giới tính toàn cầu.
Theo thống kê của Liên hiệp Hợp Quốc mới cơng bố gần đây, Lào là quốc gia có dân
số trẻ nhất khu vực Đông Nam Á với mức tuổi thọ trung bình dân số trong cả nước là
24,7 tuổi. Nguyên nhân khiến Lào có dân số được xem trẻ nhất khu vực là vì tuổi thọ
trung bình của người dân Lào cịn thấp chỉ 66.7 tuổi, bên cạnh đó tốc độ tăng dân số của
Lào so với các nước trong khu vực là tương đối cao, đạt 1,5 %/năm.
Tổng tuổi thọ (cả hai giới tính) ở Lào là 68,0 tuổi. Con số này thấp hơn tuổi thọ trung
bình của dân số thế giới (72 tuổi). Tuổi thọ trung bình của nam giới là 66,2 tuổi. Tuổi thọ
trung bình của nữ giới là 69,9 tuổi.
Các chuyên gia cũng đánh giá Lào đang trong giai đoạn có tỷ lệ dân số trong độ tuổi
lao động cao nhất và tỷ lệ dân số lệ thuộc giảm xuống so với trước đây. Theo dự báo,
trong thập kỷ này, tháp cơ cơ cấu dân số của Lào sẽ có sự thay đổi đáng kể. Trong đó,
dân số đang ở độ tuổi lao động sẽ tăng từ 64% trong năm 2020 lên thành 69% trong năm
2030.
Bà Maria Ekhan, đại diện Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) cho biết từ đây cho
đến năm 2030, Lào sẽ có hơn 80.000 lao động mới trên cơ sở số lượng thanh thiếu niên ở
thời điểm hiện tại, mà một nửa trong số này là nữ giới.
Lào gồm nhiều dân tộc, bộ tộc trình độ phát triển khơng đồng đều. 60% là người Lào,
họ chủ yếu sinh sống tại những vùng thấp có ưu thế về văn hóa chính trị. Còn lại 40% là
các dân tộc khác và dân tộc bản địa vùng cao, sinh sống chủ yếu tại khu vực đồi núi. Các
tộc ở Lào xếp thành 3 nhóm với tên gọi: Lào lùm (các tộc người Lào cư trú ở các vùng
thấp), Lào thơng (các tộc người Lào cư trú ở các vùng trên), Lào xủng (các tộc người Lào
cư trú ở các vùng rẻo cao).
2.2.2. Trình độ lao động
Bài tốn “ thiếu kỹ năng”, “ khơng có kỹ năng ” thậm chí là khơng đủ trình độ văn
hóa của lực lượng lớn lao động Lào là bài tốn thách thức khả năng giải quyết của chính
quyền.
19
Mặc dù có dịng vốn đầu tư khổng lồ, tuy nhiên, lao động Lào khơng nhận được lợi
ích nhiều, chỉ có 1.2% nhu cầu việc làm trong nước được đáp ứng. Viện nghiên cứu Quốc
gia Lào giải thích về con số đáng buồn trên là do các doanh nghiệp nước ngồi đầu tư
lĩnh vực cơng nghiệp tại Lào khơng muốn sử dụng lao động địa phương vì cho rằng họ
thiếu trình độ và kỹ năng làm việc. Trong khi đó, Chính phủ mới chỉ có chính sách
khuyến khích đơn thuần, khơng có bất cứ cơ chế ràng buộc nào khiến các nhà đầu tư vốn
không mặn mà với lao động nội địa càng dễ dàng nhập khẩu và sử dụng lao động nước
ngồi.
Trình độ lao động Lào chưa cần xét đến kỹ năng chun mơn, nền tảng kiến thức văn
hóa cơ bản cũng là vấn đề cần được Chính phủ cải thiện nhiều hơn nếu muốn nâng cao
chất lượng lao động nội địa. Tỷ lệ đáng kể người hoàn thành bậc tiểu học nhưng vẫn
chưa đọc thông viết thạo luôn là con số mà những người làm giáo dục thở dài mỗi khi
nhìn đến bản báo cáo tổng kết thường kỳ của ngành.
Theo bản báo cáo phân tích thị trường lao động của Tổ chức hợp tác quốc tế Đức
GIZ, việc thiếu hụt nguồn lao động là một trong những trở ngại cho việc phát triển tư
nhân tại Lào. Vấn đề thiếu hụt lao động liên quan đến vấn đề “ thiếu kỹ năng” nếu khơng
muốn nói nghiêm trọng hơn là khơng có kỹ năng. Điều này phản ánh chất lượng giáo dục
từ phổ thông, cao cấp đến dạy nghề tại Lào đang còn thấp, hiệu quả lao động thấp, cơng
lao động thấp khiến lao động Lào chọn cách tìm kiếm việc làm ở các nước láng giềng,
đặc biệt là Thái Lan.
Nhiều nhà đầu tư vào Lào đã cố gắng đào tạo lao động nội địa nhưng cho biết đã gặp
phải nhiều khó khăn như hạn chế về nguồn vốn, thời gian và lo ngại khi được đào tạo
xong, lao động khơng cịn mặn mà với cơng việc nữa…
Một số chủ phòng trọ giá rẻ cho lao động trên địa bàn thủ đơ Viêng Chăn trả lời
phỏng vấn báo chí cho biết, mặc dù rất muốn hỗ trợ cho lao động Lào, đặc biệt là lao
động nghèo nhưng khi chứng kiến trực tiếp cuộc sống của lực lượng lao động này cho
thấy tinh thần trách nhiệm cực kỳ thấp, thường xun xin ứng tiền cơng sớm nhưng ít khi
hồn thành cơng việc đúng tiến độ. Lấy ví dụ đơn cử, một nhóm gồm 3 lao động làm việc
20
cùng nhau, nếu hai người đến trước thì gần như chắc chắn họ sẽ đợi người còn lại đến rồi
mới bắt tay vào công việc để tránh bị “ thiệt”, cộng với tay nghề hạn chế dẫn đến hiệu
quả lao động thấp, hay tự ý bỏ việc khiến nhiều người sử dụng lao động ngán ngẩm và
mất công thuê lao động khác gây thiệt hại cả về thời gian và tiền bạc.
Chiến lược phát triển ngành giáo dục của Lào giai đoạn 2016-2020 với nỗ lực “ đảm
bảo học viên tốt nghiệp đào tạo nghề cả tư nhân lẫn nhà nước có khả năng đáp ứng cơ
bản được tiêu chuẩn người sử dụng lao động đưa ra” bằng cách yêu cầu mỗi tỉnh phải
thành lập được ít nhất một trung tâm và một trường đào tạo nghề, đảm bảo ít nhất 60% số
học sinh tốt nghiệp phổ thơng có khả năng tiếp cận và tốt nghiệp đào tạo nghề.
Các nghiên cứu cũng cho thấy mức đầu tư cho lĩnh vực nguồn nhân lực tại Lào đang
ngày càng tăng dần, đặc biệt là tập trung vào nhóm đối tượng người trẻ, thông qua việc
tăng cường điều kiện tiếp cận với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục chất lượng, kỹ
năng sống trong thời đại mới.
2.2.3. Tơn giáo và ngơn ngữ
Tín ngưỡng tơn giáo
Lào là một quốc gia nhiều tín ngưỡng tôn giáo, hoạt động dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo
và quản lý của Chính phủ.
Đặc điểm của các tơn giáo hoạt động ở Lào: Số liệu thống kê của Bộ Nội vụ Lào năm
2019 cho thấy 66.17% người dân Lào theo đạo Phật, một số lượng nhỏ theo đạo Thiên
chúa, Đạo hồi, Baray và các tín ngưỡng khác.
Ngơn ngữ
Với nhiều cộng đồng sắc tộc, có rất nhiều ngơn ngữ được sử dụng bởi các nhóm khác
nhau. Số ngơn ngữ nói ở Lào rất đáng ngạc nhiên.Tổng số 84 ngôn ngữ đã được ghi nhận
ở Lào.
●
Tiếng Lào
Ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất trong nước là tiếng Lào. Đây là một ngơn ngữ
có thanh điệu và khá gần với tiếng Thái. Do sự phổ biến của truyền thông Thái Lan tại
Lào, nhiều người dân Lào có thể hiểu được tiếng Thái.
21
Hầu hết mọi người trong nước sử dụng nó như một ngơn ngữ thứ hai để trị chuyện
với người khác. Điều này là do hầu hết các cộng đồng dân tộc có tiếng địa phương riêng
của họ là ngơn ngữ đầu tiên. Ngơn ngữ này có năm ngơn ngữ chính. Bao gồm Viêng
Chăn Lào, Bắc Lào , Đông Bắc Lào, Trung Lào, và Nam Lào. Trong số năm ngôn ngữ
này, Viêng Chăn Lào là ngôn ngữ được biết đến nhiều nhất trong cả nước và từ vựng Lào
được thành lập trên đó. Khoảng 52% dân số của đất nước được cho là nói tiếng Lào.
●
Tiếng Pháp
Ngơn ngữ này được nói bởi một số lượng rất nhỏ ở Lào.
Vào thế kỷ 19 ,Người Pháp đã tạo ra một chế độ bảo hộ thực dân trong nước vì họ sợ
sự cạnh tranh chính trị và kinh tế từ Anh.Tiếng Pháp đã trở nên phổ biến trở thành
phương ngữ chính trong các cơ sở học tập và chính phủ và bắt đầu lan rộng. Khi Lào
giành được quyền tự quản vào năm 1949 cả Pháp và Lào đã được sử dụng làm ngôn ngữ
chính thức nhưng năm 1953, khi Lào giành được độc lập, Lào đã trở thành ngơn ngữ
chính thức duy nhất.
Hiện nay tiếng Pháp có vị thế rất mạnh ở Lào so với các nước Pháp ngữ khác ở châu
Á. Khoảng 35% sinh viên trong nước học tiếng Pháp theo chương trình học bắt buộc ở
hầu hết các trường. Bên cạnh ngoại giao và mục đích thương mại, tiếng Pháp cũng được
áp dụng trong các cơng trình cơng cộng ở Luang Prabang ở phía nam và trung Lào. Nó
cũng được sử dụng bởi những người trong tầng lớp ưu tú, người lớn tuổi và nghề nghiệp
tiên tiến.
●
Tiếng Anh
Ngôn ngữ này được nói bởi những người trẻ tuổi trong cộng đồng vì họ thích thú với
việc sử dụng tiếng Anh. Người dân ở mọi lứa tuổi đều nói tiếng Anh rất tốt. Ngôn ngữ
cũng được giảng dạy ở hầu hết các trường học trong nước và hầu hết khách du lịch đều
cho rằng người dân địa phương nói ngơn ngữ tốt hơn so với người Thái.
●
Ngơn ngữ thiểu số
Có khá nhiều ngơn ngữ dân tộc thiểu số được nói ở Lào, nhưng phổ biến nhất là
Khmu và Hmong.
22
Ngồi các ngơn ngữ được thảo luận ở trên, cịn có những ngơn ngữ nhập cư khác
được sử dụng ở Lào. Một trong số đó là tiếng Khơ me Trung. Ngơn ngữ này được nói bởi
những người tị nạn từ Campuchia đã bỏ trốn khỏi nước bị chiến tranh tàn phá. Hầu hết họ
sống ở vùng tây nam của Lào gần biên giới của Campuchia và Thái Lan. Số còn lại là
người Lào gốc Trung Quốc, những người đã di cư đến Lào từ Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý
Châu, Quảng Tây và Quảng Đơng.
Nhận xét chung:
Lào có lợi thế lớn trong nông nghiệp đặc biệt là với lúa gạo và cà phê và các loại rau
quả. Tuy nhiên, nông nghiệp ở Lào chủ yếu là sản xuất tự cung tự cấp và không xuất
khẩu mạnh như các quốc gia trong khu vực như Việt Nam và ASEAN. Bên cạnh đó phát
triển mạnh ngành thủy điện. Nhờ vào diện tích rừng rộng lớn khai thác xuất khẩu về gỗ,
đồng thời một số khống sản giúp phát triển ngành cơng nghiệp khai khống.
Tuy nhiên có thể thấy, Lào phát triển kinh tế có phần dựa vào lợi thế về tài nguyên
thiên nhiên, và do không giáp biển Lào trở thành quốc gia khơng có sự phát triển các
ngành kinh tế biển cũng như thương mại, hàng hải.
Các dân tộc trung du sống gần các khu vực đồng bằng có xu hướng dễ dàng tiếp thu
ngơn ngữ và văn hóa của các nước láng giềng và thuận tiện tham gia giao thương với họ;
những người sống ở vùng cao hơn vẫn chưa tiếp thu rõ ràng.
Chủ yếu là dân cư ở vùng nông thơn, trong mỗi bản làng thường có các ngơi chùa
nhỏ, tỷ lệ dân nông thôn khoảng 65% và dân thành thị khoảng 35% (năm 2018).
Tuy công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu, dù Lào có tỉ lệ người
trong độ tuổi lao động cao nhưng trình độ lao động thấp, chưa có kỹ năng chun mơn
nên tình trạng thất nghiệp vẫn cịn nhiều và chủ yếu các doanh nghiệp lại thuê lao động
từ nước ngoài.
Du lịch ở Lào rất phát triển năm 2019, lượng khách du lịch quốc tế đến CHDCND
Lào đạt mức cao nhất mọi thời đại là 4,79 triệu lượt, tăng 14% so với năm trước. Điều
này tạo ra 934 triệu đô la doanh thu du lịch quốc tế, chỉ sau xuất khẩu khoáng sản (1,43
tỷ đô la) và xuất khẩu điện (1,32 tỷ đô la).
23
Cơ cấu GDP của Lào năm 2020 tập trung vào 3 ngành chủ yếu: Nông nghiệp chiếm
16,2%GDP; Công nghiệp chiếm 32,08%GDP; Dịch vụ chiếm 40,64%GDP. Bên cạnh đó
thu từ thuế nhập khẩu và lĩnh vực khác chiếm 11.08%GDP.
Hình 2.1. Cơ cấu GDP của Lào năm 2020 (%)
Nguồn: />
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ CỦA LÀO
24
3.1. Lịch sử phát triển kinh tế Lào qua các giai đoạn
3.1.1. Tình hình kinh tế trước chiến tranh (trước 1975)
Trước chiến tranh, như bao nước thuộc địa, Lào cũng chịu sự ách đô hộ và bị vơ vét
tài nguyên triệt để từ các nước đế quốc là Pháp (từ năm 1893-1954) và Mỹ (từ năm
1955-1975).
Về cơ bản, các nước đế quốc này thi hành chính sách bần cùng hóa, đẩy nơng dân
vào bước đường cùng, khơng có ruộng đất để cày, phải làm phú trong các đồn điền, hầm
mỏ. Nguồn thu chủ yếu của thực dân Pháp đến từ khai thác tài nguyên và các khoản cho
vay với lãi rất cao nhằm gây nợ cho Lào, khác với Anh và Mỹ, đầu tư cơ sở hạ tầng, thực
hiện chính sách mở tạo điều kiện phát triển kinh tế ở các nước thuộc địa. Biểu hiện của
nó là các cuộc khai thác thuộc địa và đỉnh cao là cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
(1897 - 1914) và lần thứ hai (1919 - 1929) của làm cạn kiệt tài nguyên của Lào.
Kinh tế Lào chìm đắm trong nghèo nàn và lạc hậu, người dân phải sống trong cảnh
nô lệ và đói nghèo cả về vật chất và tinh thần, đa số đều mù chữ, thiếu ăn, lương thực,
thực phẩm chỉ đạt mức dưới 4kg/người/năm...Các ngành sản xuất vật chất là nông nghiệp
và công nghiệp chịu tác động nặng nề của chế độ thực dân kiểu cũ; Sản xuất công nghiệp
nhỏ bé và què quặt, chủ yếu là công nghiệp khai thác mỏ và một số cơ sở công nghiệp
nhẹ nhằm bóc lột nguồn nhân cơng rẻ mạt và vơ vét tài nguyên khoáng sản.
Điều này dẫn đến một nền kinh tế trì trệ, kém phát triển và biểu hiện của nó là nạn
đói khủng khiếp và tình trạng thiếu lương thực, thuốc men những năm giữa thế kỷ XX.
Vừa phải xây dựng, sản xuất, duy trì nền kinh tế đất nước, vừa phải đấu tranh chống thực
dân đã làm cho nền kinh tế Lào vô cùng kiệt quệ.
3.1.2. Sau cách mạng giải phóng dân tộc (1975-1986)
●
2 năm khơi phục sau chiến tranh (1976-1977)
Trong mấy năm đầu sau giải phóng, tàn dư của chiến tranh, điều kiện tự nhiên không
thuận lợi, cơ sở sản xuất nơng nghiệp cịn rất yếu kém và thiếu thốn, Chính quyền Viêng
Chăn chưa có chính sách phát triển kinh tế nơng nghiệp tồn diện theo hướng sản xuất
hàng hóa, các chủ doanh nghiệp tư sản và tư bản nước ngoài bỏ chạy, hầu hết nhà máy,
công xưởng tê liệt,... Tất cả khiến cho nền kinh tế Lào không mấy khởi sắc: thu nhập
25