Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

(SKKN CHẤT 2020) chuyên đề một số giải pháp giúp học sinh yếu học tốt môn lịch sử 6

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (244.16 KB, 12 trang )

PHỊNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BÌNH XUN
TRƯỜNG THCS ĐẠO ĐỨC ===========

CHUYÊN ĐỀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH YẾU
HỌC TỐT MÔN LỊCH SỬ 6

GIÁO VIÊN: NGUYỄN VĂN NGỌ
TỔ : KHOA HỌC XÃ HỘI
2020 - 2021

download by :


I. Thực trạng chất lượng giáo dục môn Lịch sử của nhà trường
Hiện nay, phần lớn học sinh ở trường THCS nói chung và trường THCS
Đạo Đức nói riêng đều có ý tưởng cho rằng Lịch sử là bộ mơn phụ nên ý thức học
tập của các em đối với mơn học cịn rất thấp, các em khơng thật sự u thích đối
với mơn học này. Mặt khác đây là mơn học địi hỏi sự chun cần ở các em, nhưng
đa số học sinh lại thụ động, lơ là, biếng học nên việc các em tự tìm tịi, lĩnh hội tri
thức lịch sử cịn thấp. Chương trình Lịch sử lớp 6 là những phần xa xưa nhất, trừu
tường nhất trong bộ quá trình lịch sử như : Xã hội nguyên thuỷ, Các quốc gia cổ
đại, văn hoá cổ đại, thời nguyên thuỷ trên đất nước ta, đời sống của người nguyên
thuỷ trên đât nước ta… Nội dung của những bài này có những khái niệm mang
tính trừu tượng mà trang thiết bị day học lại ít, nội dung bài lại dài so với thời gian
một tiết học. Bên cạnh đó các em còn phải làm quen việc tiếp thu kiến thức thông
qua lược đồ, tranh ảnh như “ Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Chiến thắng Bạch
Đằng…” mà thiết bị còn hạn chế. Chỉ những học sinh khá, giỏi mới lĩnh hội các
kiến thức lịch sử một cách tương đối dễ dàng và nhanh chóng. Cịn phần lớn học
sinh trung bình, yếu tỏ ra lơ là, chán nản và ngày càng thụ động trong việc học tập
môn Lịch sử. Các em thích được thầy, cơ phân tích, giảng giải rồi đọc bài cho chép


và về nhà học thuộc chứ không muốn tự mình tìm tịi nên việc tiếp thu và khắc sâu
tri thức gặp nhiều khó khăn. Từ đó học sinh không hiểu kịp và không nắm được
kiến thức. Đặc biệt là học sinh yếu dễ sinh tâm lý chán học, lười biếng, khiến giờ
học Lịch sử trở nên nặng nề, khô khan, chất lượng học tập môn Lịch sử không cao.
Thực tế đó địi hỏi giáo viên phải nỗ lực nhiều và có giải pháp hỗ trợ giúp
học sinh học tập môn Lịch sử đạt hiệu quả chất lượng hơn.
Đối với học sinh yếu, giáo viên phải tìm ra phương pháp giảng dạy cho các
em biết cách tự học, tự chọn lọc xử lí thơng tin và tự lĩnh hội kiến thức. Từ đó các
em sẽ trang bị cho mình phương pháp tự học. Phải dạy cho các em biết tự suy nghĩ
trước một sự kiện lịch sử, một vấn đề lịch sử đặt ra nhằm phát huy tư duy sáng tạo
của các em.
Cần định hướng học tập ngay từ đầu cũng như gây hứng thú học tập bộ môn
Lịch sử cho các em học sinh. Từng bước hướng dẫn các em phát huy tính tích cực,
tư duy sáng tạo của mình, từ đó các em tự mình tìm ra, chiếm lĩnh và khắc sâu
kiến thức lịch sử một cách chủ động. Giáo viên cần tạo cho học sinh tâm lý thoải
mái trong giờ học. Giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ giáo án, đồ dùng thiết bị dạy
học khi lên lớp. Trong giờ học, giáo viên cần sử dụng phương pháp giảng dạy phù
hợp với kiểu bài lên lớp, đặc biệt cần chú ý hướng dẫn cho học sinh trung bình yếu
có phương pháp học tập phù hợp. Theo tôi nghĩ, đổi mới phương pháp dạy học
môn Lịch sử với học sinh, nhất là học sinh yếu là thực hiện các nội dung sau: a/
Khâu chuẩn bị của giáo viên và học sinh trước khi lên lớp.
b/ Hướng dẫn học sinh học tập lịch sử trên lớp.
+ Bồi dưỡng phương pháp tự học cho các em.
+ Phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của học sinh.
+ Tác động đến tình cảm, đem lại sự hứng thú trong việc học tập bộ môn.
+ Sử dụng hệ thống kênh hình phong phú (tranh ảnh, bản đồ, lược đồ), phương
pháp học tập nhóm, trị chơi ơ chữ, tiếp sức, ...

download by :



II. Đối tượng áp dụng
Chuyên đề “Một số giải pháp giúp học sinh yếu học tốt môn Lịch sử lớp 6”
được thực hiện thơng qua q trình dạy học khối lớp 6 tại Trường THCS Đạo Đức,
năm học 2020 - 2021.
III. Biện pháp giải quyết
A. Giáo viên và học sinh cần có sự chuẩn bị đầy đủ về các phương tiện, đồ
dùng trước khi lên lớp
Khi lên lớp giáo viên cần chuẩn bị trước giáo án. Trong giáo án cần phải
nêu rõ trọng tâm của bài, giáo viên phải thể hiện rõ các hoạt động của thầy và trò
trong giáo án. Trong hoạt động của thầy cần chuẩn bị kỹ hệ thống câu hỏi để phát
huy tính tích cực cuả học sinh, đặc biệt giáo viên cần chú ý phần gợi mở cho học
sinh trung bình, yếu. Ngồi ra giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy học phù
hợp với bài giảng như mẫu vật, tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, tư liệu từ sách tham
khảo…
Học sinh cũng cần có sự chuẩn bị kỹ trước khi lên lớp. Bao gồm chuẩn bị
bài cũ và bài mới, cũng như sưu tầm các tranh ảnh liên quan theo sự hướng dẫn
của giáo viên ở trên lớp từ tiết trước.
Để học sinh chuẩn bị đầy đủ thì giáo viên cần hướng dẫn cụ thể các công
việc của học sinh cần làm. Đối với công việc ở nhà, giáo viên cần hướng dẫn học
sinh học bài cũ, đọc trước bài mới và trả lời các câu hỏi mà giáo viên đã giao, sưu
tầm các tư liệu và tranh ảnh liên quan đến bài (nếu có). Sách giáo khoa là phương
tiện chính để học sinh tìm hiểu nội dung bài học nên giáo viên cần hướng dẫn học
sinh đọc kỹ sách giáo khoa trước ở nhà để khai thác nội dung bài học qua việc trả
lời các câu hỏi.
Để học sinh có thể học tốt bài trên lớp cũng như thực hiện chuẩn bị bài cho tiết
học mới, giáo viên phải có sự hướng dẫn cụ thể là học thuộc nội dung bài đã ghi
theo các đề mục, kết hợp học bài giữa vở ghi và SGK. Khi học thuộc bài thì phải
trả lời được các câu hỏi ở cuối bài.
Ví dụ: Sau khi đã học về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, học sinh phải trả lời

được các câu hỏi sau:
1. Nhà Hán đã gộp Âu Lạc với 6 quận của Trung Quốc thành châu Giao nhằm âm
mưu gì?
2. Nhân dân châu Giao bị nhà Hán bóc lột như thế nào?
3. Nhà Hán đưa người sang châu Giao nhằm mục đích gì?
4. Mục tiêu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là gì?
5. Theo em, việc khắp nơi đều kéo quân về Mê Linh nói lên điều gì?
6. Ngun nhân thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng?
Đối với học sinh yếu thì các em sẽ khơng hiểu hết nội dung các câu hỏi khó,
nhưng các em sẽ trả lời được câu hỏi dễ. Vì vậy, giáo viên cần đặt câu hỏi cho phù
hợp với đối tượng học sinh yếu. Với những câu hỏi trên, học sinh yếu sẽ trả lời
được câu hỏi sau: Nhà Hán đã gộp Âu Lạc với 6 quận của Trung Quốc thành châu
Giao nhằm âm mưu gì? Nhân dân châu Giao bị nhà Hán bóc lột như thế nào? Mục
tiêu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là gì?
Học sinh cần tiến hành chuẩn bị bài mới cho tiết học trên lớp. Khi đã chuẩn
bị bài ở nhà là học sinh đã tự tiếp thu một phần tri thức. Đối với học sinh yếu thì

download by :


việc chuẩn bị bài ở nhà là rất quan trọng. Việc này giúp các em theo kịp bài mới
với các học sinh khá giỏi khi lên lớp.
Để chuẩn bị bài mới tốt, trước tiên học sinh phải đọc sách giáo khoa, sau đó
trả lời các câu hỏi giáo viên đã gợi ý từ tiết trước.
Ví dụ : Khi chuẩn bị dạy bài 25 “Ơn tập chương III” ngồi các câu hỏi cần
trả lời, giáo viên cịn có thế hướng dẫn học sinh lập sẵn bảng thống kê các cuộc
đấu tranh của nhân dân ta trong thời kì Bắc thuộc theo mẫu sách giáo khoa trang
70 như sau:
Stt Thời gian
1

2
3
Những nội dung này các em đã học nên học sinh yếu sẽ làm được các nội
dung : Thời gian, Tên cuộc KN, Người lãnh đạo.
Để đảm bảo việc chuẩn bị của học sinh ở nhà đạt hiệu quả, luôn được duy trì
và giúp các học sinh yếu học tốt hơn, giáo viên cần thường xuyên kiểm tra việc
chuẩn bị của các em. Thông thường, giáo viên không đủ thời gian để kiểm tra hết
các em nên sự giúp đỡ của các học sinh khác trong lớp cũng rất cần thiết, nhất là
các bạn khá giỏi ngồi bên cạnh.
B. Hướng dẫn học sinh học tập lịch sử trên lớp
1. Hướng dẫn học sinh ghi bài
Trên lớp giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách ghi bài đầy đủ để học lịch
sử tốt hơn. Các em học sinh lớp 6 mới làm quen với cách học tập của cấp học mới
nên trong việc ghi bài, học bài cịn nhiều khó khăn nhất là học sinh yếu. Việc ghi
bài đầy đủ, rõ ràng giúp các em học bài dễ dàng. Ngay từ giờ học đầu tiên giáo
viên nên hướng dẫn học sinh cách ghi bài đầy đủ, cụ thể. Tựa bài học sinh cần ghi
mực màu đỏ hoặc chữ in hoa, các đề mục cần ghi mực màu đỏ hoặc có gạch chân.
Ví dụ: Khi học bài 24 “Nước Cham-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X” học sinh
cần ghi tựa bài và đề mục như sau:
Tiết 27 - Bài 24. NƯỚC CHAM-PA TỪ THẾ KỈ II ĐẾN THẾ KỈ X
1. Nước Cham-pa độc lập ra đời.
2. Tình hình kinh tế, văn hóa Cham-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X.
Để học sinh ghi nội dung bài học rõ ràng, giáo viên cần thể hiện đủ nội dung
bài học trên bảng và động viên học sinh ghi bài nhanh, đầy đủ. Giáo viên động
viên học sinh bằng cách khen những học sinh chép bài đầy đủ, sạch đẹp, khoa học
trước lớp. Khi học sinh đã chép bài đầy đủ, về nhà học sinh sẽ học bài dễ dàng
hơn.
2. Tổ chức đôi bạn học tập trong lớp
Trong quá trình dạy học, giáo viên nên phân công cho các học sinh ngồi
cạnh nhau truy bài chéo cho nhau, cùng nhau học tập. Việc này giúp học sinh

thuộc bài cũ trước khi học bài mới. Như vậy kiến thức học sinh sẽ được liên tục,
không bị hổng. Nếu điều kiện thuận lợi giáo viên có thể cho một học sinh khá giỏi
và một học sinh trung bình yếu truy bài cho nhau để học sinh khá giỏi sẽ giúp đỡ
học sinh trung bình yếu tiến bộ. Hơn nữa học sinh thường có tính nhút nhát, ngại
hỏi bài với giáo viên, nên khi học sinh có thắc mắc có thể nhờ bạn giúp đỡ để tiếp
thu kiến thức.

download by :


Để kết quả học tập của đôi bạn học tập được khách quan cũng như giáo dục
cho học sinh tính trung thực, thật thà giáo viên cần khuyến khích học sinh: cần nói
đúng sự thật về việc chuẩn bị bài của mình, nếu học thuộc bài và có chuẩn bị bài
sẽ được khen ngợi, nếu gian dối, bao che khi bị phát hiện sẽ bị phê bình trước lớp.
Bằng cách này sẽ giải quyết phần nào về sự tiếp thu kiến thức cho học sinh, nhất là
học sinh yếu.
3. Tổ chức học sinh học tập tích cực trên lớp, tác động tình cảm, gây hứng thú
học tập cho học sinh.
Trong giờ học trên lớp, giáo viên cần tạo cho học sinh tâm lý thoải mái. Thái
độ và tình cảm của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và sự tiếp thu bài
mới của học sinh. Khi giáo viên lên lớp với thái độ giận dữ luôn quát mắng, học
sinh sẽ khó tiếp thu kiến thức, khơng mạnh dạn phát biểu ý kiến xây dựng bài.
Ngược lại giáo viên luôn vui vẻ, quan tâm đến học sinh sẽ tạo cho các em một
khơng khí học tập đầy hứng thú, sơi nổi. Bên cạnh đó giáo viên cần quan tâm,
khen ngợi, động viên học sinh kịp thời. Lời khen ngợi chủ yếu là phải phù hợp với
đối tượng học sinh cần hướng đến, nhất là đối tượng học sinh trung bình, yếu trong
lớp.
Một cách khác để động viên, gây hứng thú cho học sinh yếu học tập là nên
cho học sinh tự xung phong trả bài. Đồng thời giáo viên cũng khuyến khích điểm
học sinh khi học sinh có câu trả lời hay, hay những câu trả lời có liên quan đến bài

cũ đã học giúp học sinh hứng thú học tập hơn, đồng thời cũng kích thích các học
sinh khác trong lớp đóng góp xây dựng bài.
Trong giờ học trên lớp, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài mới
thông qua hệ thống câu hỏi và kênh chữ sách giáo khoa để học sinhtiếp thu, khắc
sâu các kiến thức lịch sử. Trong quá trình lên lớp, giáo viên yêu cầu cả lớp, nhất là
những học sinh yếu theo dõi sách giáo khoa và trả lời các câu hỏi.
Ví dụ 1: Khi học chủ đề “Thời kì Bắc thuộc và đấu tranh giành độc lập”, để
tìm hiểu về Tình hình kinh tế nước ta từ thế kỉ I đến thế kỉ VI có gì thay đổi?, giáo
viên cho học sinh đọc mục 2 trong sách giáo khoa trang 53 để cả lớp theo dõi.
Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
- Em có nhận xét gì về các hiện vật thời này đã tìm được trong các mộ cổ, di chỉ?
(Những hiện vật tìm được ở các mộ cổ và di chỉ thời này chủ yếu làm bằng sắt với
nhiều loại khác nhau như rìu, mai, cuốc, nồi, đèn…).
- Vì sao nhà Hán giữ độc quyền về sắt? (Sắt là một kim loại có giá trị cao, vừa làm
được các cơng cụ tốt, vừa làm được các vũ khí sắc bén, nên nhà Hán phải giữ độc
quyền để hạn chế sự phát triển của nước ta và ngăn chặn các cuộc khởi nghĩa của
nhân dân ta. Tất nhiên, chúng không thể kiểm soát được hết tất cả các nơi).
- Những sự kiện nào chứng tỏ nông nghiệp Giao Châu vẫn phát triển? (Dùng lưỡi
cày sắt do trâu, bò kéo; biết đắp đê phịng lụt, trồng lúa hai vụ; biết kĩ thuật “dùng
cơn trùng diệt côn trùng”; biết trồng nhiều loại cây ăn quả…).
- Hãy cho biết những nghề thủ công phát triển đương thời. (Rèn sắt; nghề làm đồ
gốm; dệt vải, lụa…).
- Việc trao đổi, bn bán thời này có gì mới? (Việc trao đổi, buôn bán đương thời
cũng khá phát triển, biểu hiện ở sự ra đời của các chợ làng, các trung tâm lớn như
Luy Lâu, Long Biên, ở sự trao đổi hàng hóa với các lái bn nước ngồi như
Trung Quốc, Gia-va, Ấn Độ…).

download by :



Ví dụ 2 : Khi dạy chủ đề “Bước ngoặt lịch sử ở đầu thế kỉ X”, tìm hiểu mục
Khúc Thừa Dụ dựng quyền tự chủ như thế nào? giáo viên cần hướng dẫn học sinh
khai thác nội dung bài qua hệ thống kênh chữ sách giáo khoa.
Giáo viên cho học sinh đọc mục 1 SGK và yêu cầu học sinh trả lời các câu
hỏi sau:
- Khúc Thừa Dụ là ai?
- Chế độ đô hộ của phong kiến phương Bắc đã bị lật đổ như thế nào?
- Khúc Hạo là ai? Ơng đã làm gì?
Các câu hỏi trên là những câu hỏi tương đối dễ, học sinh có thể căn cứ vào
SGK để trả lời dễ dàng.
- Theo em, việc nhà Đường phong Khúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ có ý nghĩa
gì?
- Phân tích ý nghĩa những việc làm của Khúc Hạo?
Đây là những câu hỏi tương đối khó, giáo viên cần gợi mở để học sinh trung
bình yếu trả lời được các ý, giáo viên có thể khuyến khích điểm cho học sinh để
các em cố gắng học nhiều hơn. Giảng đến đây giáo viên cần khắc sâu cho học sinh
bài học về tinh thần, ý thức độc lập, tự chủ của nhân dân ta.
Ví dụ 3: Khi dạy “Khởi nghĩa Lí Bí. Nước Vạn Xuân”, giáo viên có thể
hướng dẫn học sinh tìm hiểu nhà Lương siết ách đô hộ như thế nào qua việc khai
thác kênh chữ ở sách giáo khoa.
Giáo viên cho học sinh đọc nội dung: “ Đầu thế kỷ VI, nhà Lương đô hộ
Giao Châu. Chính quyền đơ hộ chia nước ta thành: Giao Châu (đồng bằng và
trung du Bắc Bộ), Ái Châu (Thanh Hóa), Đức Châu, Lợi Châu, Minh Châu (NghệTĩnh) và Hoàng Châu (Quảng Ninh)”.
Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
- Nhà Lương chia nước làm mấy châu? (chia làm 6 châu). Xác định các châu trên
lược đồ sách giáo khoa?
Giáo viên nên gọi học sinh khá giỏi xác định các châu trên lược đồ để học
sinh yếu quan sát.
Giáo viên cho học sinh đọc nội dung: “Nhà Lương chủ trương chỉ có tơn
thất nhà Lương và một số dòng họ lớn mới được giao những chức vụ quan trọng.

Tinh Thiều là người nước ta vốn học giỏi, văn hay, sang kinh đô nhà Lương xin
làm quan. Viên thượng thư nhà Lương bảo: “Họ Tinh không phải là vọng tộc” và
chỉ cho Thiều giữ chức “gác cổng thành”. Tinh Thiều bất bình bỏ về quê.”
Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi sau:
- Nhà Lương có chủ trương như thế nào trong việc sắp đặt quan lại? (Chỉ có tơn
thất nhà Lương và một số dòng họ lớn mới được làm quan).
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh về sự phân biệt đối xử của nhà
Lương. Bằng chứng là: Tinh Thiều rất tài giỏi nhưng khơng được làm quan vì
khơng phải là người của dòng họ lớn. Tiêu Tư là người tham lam, tàn bạo, mất
lòng dân nhưng lại được làm quan cao đến chức Thứ sử. Giáo viên cần giáo dục
cho học sinh về tính cơng bằng, bình đẳng, khơng phân biệt đối xử.
Giáo viên cho học sinh đọc nội dung: “Thứ sử Giao Châu lúc bấy giờ là
Tiêu Tư đã đặt ra hàng trăm thứ thuế: Người nào trồng cây dâu cao 1 thước
(khoảng 40 cm) đều phải nộp thuế, bán vợ, đợ con cũng phải nộp thuế…Sử sách
Trung Quốc thú nhận: Tiêu Tư “tàn bạo mất lòng dân”.
Giáo viên cho học sinh trả lời các câu hỏi sau để học sinh khắc sâu kiến
thức về sự thâm độc, tàn bạo trong chính sách cai trị của nhà Lương. Đây là những


download by :


câu hỏi dễ nên học sinh trung bình yếu sẽ trả lời được, giáo viên cần chú ý động
viên các em.
- Nhà Lương bóc lột nhân dân ta bằng cách nào? (Đặt ra hàng trăm thứ thuế nặng
nề và vô lý). Giáo viên nên gọi học sinh trả lời để các em làm quen với việc nhận
xét vấn đề lịch sử.
- So sánh chính sách cai trị của nhà Lương và nhà Ngơ? (Chính sách cai trị của
nhà Lương tàn bạo hơn nhà Ngơ). Đây là câu hỏi khó giáo viên nên gọi học sinh
giỏi trả lời. Nếu giáo viên gọi học sinh yếu so sánh thì giáo viên cần nhắc lại kiến

thức cũ và gợi mở thêm.
4. Phương pháp sử dụng kênh hình (tranh ảnh, lược đồ, bản đồ…)
Bên cạnh việc tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua kênh chữ sách
giáo khoa, giáo viên cần chú ý đến việc khai thác kênh hình ở sách giáo khoa và
các tranh ảnh liên quan đến bài. Giáo viên cần gợi ý cho học sinh quan sát kênh
hình để học sinh tự rút ra kiến thức. Đây là phương pháp dễ gây hứng thú học tập
cho các em, vì thơng qua hình ảnh trực quan sẽ kích thích các em tự tìm được kiến
thức thơng qua những hình ảnh đó. Việc khai thác các kiến thức lịch sử thơng qua
các kênh hình cũng rất quan trọng, vì nó vừa giúp học sinh tập trung vào bài học
để nắm vững kiến thức hơn vừa làm cho tiết học sôi động hơn khi có nhiều học
sinh tranh luận, phát biểu ý kiến của mình.
Ví dụ 1: Khi dạy chủ đề “Thời kì Bắc thuộc và đấu tranh giành độc lập” giáo
viên hướng dẫn, cho học sinh khai thác lược đồ ở hình 48 sách giáo khoa: “Lược
đồ nước ta thời thuộc Đường thế kỉ VII - IX”. Giáo viên cho học sinh xác định nội
dung của lược đồ.
Lược đồ này được sử dụng khi dạy về chính sách cai trị của các triều đại
phong kiến phương Bắc và cuộc sống của nhân dân Giao Châu, nhằm cụ thể hóa
chính sách cai trị của nhà Đường đối với nhân dân ta. Giáo viên yêu cầu học sinh
nghiên cứu SGK kết hợp với quan sát lược đồ và gợi mở:
- Qua quan sát lược đồ, em thấy nhà Đường chia nước ta thành mấy châu?
- So với trước đây các đơn vị hành chính được chia như thế nào?
- Mục đích việc chia nhỏ đất nước ta của nhà Đường?
- Nhận xét việc làm của nhà Đường?
Với dạng câu hỏi dễ như vậy giáo viên nên dành cho đối tượng học sinh yếu
và cần khen ngợi học sinh trước lớp và động viên học sinh tiếp tục tìm hiểu bài,
phát biểu nhiều hơn. Vì tâm lý chung của các em học sinh lớp 6 là mong muốn
được thầy cô khen ngợi để hãnh diện với bạn bè. Các em cũng biết xâu hổ, bị mất
mặt khi bị thầy cơ chê trách. Vì thế khi học sinh nói sai, giáo viên nên gợi ý cho
học sinh trả lời lại hoặc cho học sinh ngồi xuống và động viên học sinh khác trả
lời, như vậy học sinh sẽ cảm thấy tự tin phát biểu hơn. Ngược lại, nếu giáo viên

chê bai học sinh trước lớp sẽ làm cho học sinh mặc cảm và không phát biểu, giờ
học sẽ không sinh động.
Sau khi HS phát biểu ý kiến, GV chỉ lược đồ và chốt lại kiến thức cơ bản.

bài này học sinh vừa phải kết hợp lược đồ vừa phải kết hợp nội dung sách
giáo khoa, nên đối với học sinh yếu giáo viên cần đặt nhiều câu hỏi gợi mở, câu
hỏi phải từ dễ đến khó và hướng dẫn, động viên cho các em trả lời.
Trong việc sử dụng lược đồ thì việc sử dụng bản đồ để tường thuật diễn biến
các cuộc khởi nghĩa là rất quan trọng. Vì các sự kiện lịch sử này đã diễn ra rất lâu,
địa điểm diễn ra các sự kiện lại rất xa, chủ yếu là các em chỉ tái hiện, hình dung
các sự kiện lịch sử thơng qua tường thuật của các giáo viên. Để học sinh tiếp thu

download by :


tốt kiến thức diễn biến giáo viên cần cần hướng dẫn học sinh quan sát lược dồ thật
kỹ trước khi trình bày diễn biến. Khi sử dụng lược đồ giáo viên cần giới thiệu cho
học sinh về ý nghĩa các kí hiệu, màu sắc trên lược đồ. Đối với những phần quan
trọng giáo viên động viên để cho học sinh tự tìm hiểu trên lược đồ trước nhất là
học sing trung bình yếu. Khi trình bày diễn biến đến đâu, giáo viên hướng dẫn học
sinh quan sát theo dõi lược đồ đến đó.
Ví dụ 2: Khi tường thuật diễn biến “chiến thắng Bạch Đằng năm 938” giáo
viên cho học sinh quan sát lược đồ hình 55 SGK, đọc kí hiệu. Giáo viên động viên
các học sinh trung bình yếu lên bảng xác định sông Bạch Đằng trên lược đồ. Giáo
viên u cầu học sinh trả lời:
- Vì sao Ngơ Quyền dự đoán được quân Nam Hán sẽ vào nước ta bằng đường qua
sông Bạch Đằng? Đánh giặc trên sông Bạch Đằng, có những thuận lợi gì cho qn
ta?
Đây là câu hỏi khó nên giáo viên cân gợi ý cho học sinh trung bình yếu suy
nghĩ trả lời. (Để đánh chiếm nước ta quân Nam Hán phải đánh vào đâu trước?

Đường đi như thế nào?)
Sau khi HS quan sát lược đồ, GV bổ sung: đường qua sông Bạch Đằng là
đường ngắn nhất từ phương Bắc vào thành Đại La (Tống Bình - Hà Nội). Sơng
Bạch Đằng có địa thế hiểm trở, hai bên bờ có rừng rậm thích hợp cho việc đặt
quân mai phục. Thủy triều của sông Bạch Đằng lên xuống, mực nước chênh nhau
đến 3m, thuận lợi cho việc bố trí trận địa cọc ngầm.
Giáo viên nêu cho học sinh biết: Sơng Bạch Đằng có nhiều nhánh sơng nhỏ
cịn thuận lợi cho các thuyền chiến ẩn nấp. Ngô Quyền đã sai người đi dọc theo
sông Bạch Đằng để quan sát địa thế, địa hình, hỏi thăm nhân dân về chế độ nước
chảy của sơng và cho người bố trí trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng.
Giảng đến đây giáo viên cần giáo dục tư tưởng về sự lãnh đạo tài giỏi của
Ngô Quyền. Học sinh kết hợp các kênh chữ sách giáo khoa để nêu những thuận lợi
của quân ta.
Giáo viên động viên học sinh trung bình yếu lên xác định trên lược đồ nơi
Ngơ Quyền bố trí trận địa cọc ngầm, nơi đặt quân mai phục và đặt câu hỏi:
- Trận địa cọc được Ngô Quyền bố trí ở chỗ nào của sơng Bạch Đằng? Vì sao ông
cho đặt trận địa cọc ở đó? (Trận địa cọc đặt ở gần cửa biển, để có thể nhử giặc vào
bên trong dễ dàng). Giáo viên nên gợi ý để học sinh yếu nêu ý kiến sau đó cho học
sinh khá giỏi nhận xét để giúp học sinh trung bình yếu nâng cao khả năng quan sát,
nhận xét vấn đề.
- Ngơ Quyền cho bố trí lực lượng như thế nào? (Ơng cho qn mai phục 2 bên bờ
sơng, các thuyền chiến đặt ở các nhánh sông nhỏ sẵn sàng chiến đấu. Đích thân
Ngơ Quyền chỉ huy trên chiếc thuyền lớn ở thượng nguồn sông Bạch Đằng). Đây
là câu hỏi dễ giáo viên có thể gọi học sinh trung bình yếu trả lời.
Khi trình bày diễn biến giáo viên kết hợp cho học sinh quan sát tranh trận
chiến trên sông Bạch Đằng (có trong SGK) và cho học sinh so sánh thuyền của ta
và giặc để trả lời câu hỏi:
- Vì sao Ngô Quyền dùng thuyền nhỏ để nhử giặc? (để giặc chủ quan, khơng đề
phịng, thuyền nhỏ cịn chạy nhanh và dễ luồn lách qua các bãi cọc ngầm). Với câu
hỏi này giáo viên nên gọi học sinh yếu trả lời và cho học sinh khá giỏi nhận xét.

Giảng đến đây giáo viên cần cho học sinh thảo luận nhanh nội dung sau: Kế hoạch
đánh giặc của Ngô Quyền chủ động và độc đáo ở điểm nào? Đây là câu hỏi khó

download by :


giáo viên cần gợi ý cho học sinh trung bình, yếu trả lời từ đó giúp học sinh thấy
được tài chỉ huy quân sự của Ngô Quyền trong chiến thuật đánh giặc.
5. Phương pháp học tập nhóm (thảo luận nhóm)
Ngồi việc giúp học sinh trung bình yếu tự chiếm lĩnh tri thức và tự tin
hơn, giáo viên cần giúp học sinh biết đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập và bộc
lộ khả năng cá nhân của học sinh. Để đạt được u cầu đó thì việc tổ chức cho học
sinh học tập theo nhóm là phương pháp hiệu quả nhất. Trước tiên giáo viên treo
nội dung cần thảo luận lên bảng, gọi 1 học sinh đọc nội dung cho cả lớp nghe. Sau
đó giáo viên chia nhóm cho học sinh, giao bảng phụ cho từng nhóm và phân cơng
nhóm trưởng điều khiển nhóm làm việc tìm ra câu trả lời và ghi vào bảng phụ.
Ví dụ 1: Khi dạy chủ đề “Thời kì Bắc thuộc và đấu tranh giành độc lập”,
ở phần “Khởi nghĩa Lý Bí - Nước Vạn Xuân thành lập”, sau khi cho học sinh tìm
hiểu diễn biến khởi nghĩa giáo viên chia học sinh làm 4 nhóm, u cầu các em tìm
ra các ngun nhân dẫn đến khởi nghĩa thắng lợi.( được nhân dân ủng hộ, đồn
kết, có nhiều tướng tài, người chỉ huy tài giỏi).
Ví dụ 2: Cũng vẫn chủ đề “Thời kì Bắc thuộc và đấu tranh giành độc
lập”, phần “Cuộc đấu tranh giành quyền tự chủ của họ Khúc, họ Dương”, sau khi
giảng đến phần: Nhận thấy nhà Nam Hán có ý định xâm lược nước ta, Khúc Hạo
đã gởi con trai mình là Khúc Thừa Mỹ sang nước Nam Hán làm con tin. Giáo viên
chia học sinh làm 6 nhóm, yêu cầu các em thảo luận: Khúc Hạo gửi con trai mình
sang nhà Nam Hán làm con tin nhằm mục đích gì? (giả vờ thần phục, kéo dài thời
gian để chuẩn bị lực lượng chống lại nhà Nam Hán).
Như vậy, khi học tập theo nhóm các em sẽ đưa ra nhiều ý kiến khác nhau
và chọn ra ý kiến đúng nhất, từ đó các em sẽ học tập lẫn nhau và phát huy được

tính tập thể của mình. Để học sinh phát huy được khả năng của mình, giáo viên
nên cho học sinh trong nhóm thay phiên nhau làm nhóm trưởng trong các tiết học,
nhất là học sinh trung bình yếu. Bên cạnh đó, giáo viên cần phải quan tâm theo dõi
các em làm việc, đưa ra các câu hỏi gợi mở và động viên các em kịp thời để đạt
được kết quả thảo luận tốt hơn.
Đối với những nội dung thảo luận dài thì học sinh trung bình yếu sẽ khó
làm được nên giáo viên cần hướng đẫn cụ thể từng phần trong bảng phụ để các em
thảo luận dễ dàng hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài 24 “ Nước Cham-pa từ thế kỷ II đến thế kỷ X” để tìm
hiểu về sự phát triển kinh tế cuả nước Cham-pa. Giáo viên chia học sinh làm 4
nhóm u cầu các em tìm: “nêu đặc điểm kinh tế cuả nước Cham-pa? ” giáo viên
cần chuẩn bị bảng phụ cho các nhóm có nội dung như sau:
1.
Nông nghiệp: (trồng trọt, chăn nuôi): …………………………………
2.
Nghề thủ cơng và các nghề khác: ………………………………………
3.
Thương nghiệp:
…………………………………………………………
6. Phương pháp Trị chơi
Ngồi việc phát huy tính tập thể của học sinh trong học tập theo nhóm thì
tính tập thể của học sinh còn được phát huy qua các trò chơi tập thể. Các trò chơi
vui nhộn giúp các em thoải mái hơn trong học tập để củng cố nắm vững kiến thức
đã học. Các trị chơi vui nhộn sẽ lơi kéo tất cả học sinh trong lớp tham gia. Thông
qua các trò chơi, giáo viên lồng ghép các kiến thức lịch sử đã học để các em ghi
nhớ một cách tự nhiên.
Ví dụ: Khi dạy bài 24 “ Nước Cham-pa từ thế kỉ II đến thế kỉ X” giáo
viên có thể cho học sinh chơi trị chơi giải ơ chữ.



download by :


Giáo viên chia lớp làm 4 nhóm (4 đội) thi đua với nhau giải các ô chữ
hàng ngang. Cử 1 học sinh làm thư ký. Giáo viên cần phổ biến thể lệ chơi và hệ
thống câu hỏi mỗi hàng ngang như sau:
+ Mỗi ô giải đúng được 10 điểm, sai khơng có điểm, một trong các đội cịn lại có
tín hiệu trả lời sớm nhất được giải đáp và được 5 điểm
+ Đội nào có tín hiệu giải ơ hàng dọc khi mới mở được 1 hàng ngang được 100
điểm, mới mở được hàng ngang thứ 2 được 90 điểm, lần lượt cho đến hết ơ hàng
ngang thứ 10 thì được 10 điểm. Nếu trả lời sai sẽ bị loại khỏi cuộc chơi.
+ Sau khi đã giải được ô chữ, thư kí tổng kết điểm. Giáo viên tuyên dương hoạt
động của cả lớp, nhất là các đội chơi xuất sắc.
1. Người Chăm là chủ nhân của nền văn hóa nào?
2. Ai đã lãnh đạo nhân dân Tượng Lâm đứng lên giành độc lập?
3. Lãnh thổ nước Cham-pa phía bắc kéo dài đến đâu?
4. Nhân dân Chăm thường trao đổi buôn bán với nhân dân các quận ở đâu?
5. Đây là một nghề mà cư dân sống ven biển, ven sông thường làm.
6. Kinh đô của nước Cham-pa từ thế kỷ II đến thế kỷ X.
7. Đại bộ phận nhân dân Chăm theo tơn giáo nào?
8. Tên khu di tích của người Chăm được cơng nhận là Di sản văn hóa thế giới.
9. Tên nước đầu tiên của người Chăm.
10. Nguồn sống chủ yếu của người Chăm dựa vào nghề gì?
Trong trò chơi này giáo viên đặc biệt chú ý đến đối tượng học sinh trung
bình, yếu để lơi kéo các em hoà nhịp với cuộc chơi của lớp, của đội. Có thể mời
các em này ở trong các đội lựa chọn các từ hang ngang và tự mình giải đáp các ơ
từ đó đồng thời khơng qn tun dương thái độ học tập tích cực của các em.
Như vậy, qua những trị chơi các em học sinh trung bình, yếu có được
niềm vui, sự hứng thú trong việc học tập và chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức Lịch
sử.

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10 T

S

A
G
Đ

R

Ơ

L
N

Ngồi ra giáo viên cũng cần tiến hành ôn tập kỹ cho học sinh trước khi
làm các bài kiểm tra. Theo phân phối chương trình mơn Lịch sử lớp 6 thì trước các
tiết làm kiểm tra 1 tiết, kiểm tra học kỳ có tiết ơn tập hoặc làm bài tâp lịch sử. Nội
dung bài học sinh cần học trong các tiết kiểm tra thường nhiều nên học sinh trung
bình yếu học bài sẽ khó khăn hơn. Vì vậy, trong các tiết ôn tập, làm bài tập lịch sử
giáo viên cần xoáy vào trọng tâm, các phần quan trọng. Để học sinh yếu dễ dàng

khắc sâu kiến thức, giáo viên cần đặt các câu hỏi dễ hoặc kết hợp các trò chơi như
đã trình bày.

download by :


Trong bài kiểm tra, giáo viên cũng cần đặt câu hỏi phù hợp để học sinh
yếu có khả năng làm bài. Các câu hỏi dành cho học sinh yếu chủ yếu là câu hỏi ở
dạng ghi nhớ, tái hiện.
C. Hệ thống các dạng bài tập đặc trưng dành cho học sinh yếu
Để đánh giá đúng chất lượng học tập của học sinh, giáo viên phải xác định
được các dạng câu hỏi, bài tập ở các cấp độ khác nhau: “ Biết, Hiểu, Vận dụng”.
Từ đó, giúp HS biết tự đánh giá mình để phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm
trong học tập, tạo niềm tin, bồi dưỡng tình cảm, hứng thú học tập của HS, tạo môi
trường thân thiện giữa giáo viên và HS.
Như trên đã trình bày, đối với HS yếu, giáo viên cần ra những câu hỏi, bài
tập phù hợp với trình độ nhận thức của các em để các em có khả năng làm bài.
Trước tiên, chỉ yêu cầu các em ở cấp độ nhận biết, thông hiểu. Những câu hỏi, bài
tập này chỉ cần HS học thuộc bài là trả lời được. Tránh ra những câu hỏi, bài tập
yêu cầu cao ở cấp độ vận dụng cho các em.
Sau đây là một số ví dụ cụ thể về câu hỏi, bài tập dành cho học sinh yếu.
1. Câu hỏi trắc nghiệm
Câu 1. Chọn phương án trả lời đúng cho các câu sau:
1. Năm 111 TCN, nhà Hán đã biến nước ta thành các quân của:
A. Châu Giao.
C. Châu Hoàng .
2. Đầu thế kỉ VI, triều đại phương Bắc đô hộ nước ta là:
A. Nhà Ngô.
C. Nhà Lương.
3.Kinh đơ của nước Vạn Xn ở:

A. Việt Trì - Phú Thọ .
C. Thuận Thành - Bắc Ninh.
4.Sáng tạo tiêu biểu trong sản xuất nông nghiệp của người Chăm là:
A. Guồng tát nước.
C. Lưỡi cày.
5.Nghệ thuật đặc sắc nhất của người Chăm là:
A. Kiến trúc đền, tháp.
C. Kiến trúc nhà ở.
6. Công lao của Ngô Quyền là:
A.
Đánh đuổi quân Lương, giữ gìn độc lập cho dân tộc.
B.
Dời kinh đơ từ Hoa Lư ra Thăng Long.
C.
Đánh đuổi quân Nam Hán, giữ gìn độc lập của dân tộc.
D.
Dẹp loạn 12 sứ quân.
Câu 2. Trong các câu dưới đây, câu nào đúng, câu nào sai:
- Đầu thế kỉ VI, triều đại phương Bắc đô hộ nước ta là nhà Lương.
- Khởi nghĩa Lí Bí nổ ra ở Mê Linh (Hà Nội).
- Kinh đô của nước Vạn Xuân là cửa sông Tô Lịch (Hà Nội).

2. Câu hỏi tự luận
1. Trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
2. Tình hình kinh tế nơng nghiệp nước ta trong thời kì Bắc thuộc.
3. Lí Bí đã làm gì sau khi khởi nghĩa thắng lợi?
4. Nước ta thời thuộc Đường có gì thay đổi?
5. Trình bày kế hoạch đánh quân Nam Hán của Ngô Quyền.

download by :




Ví dụ: trong bài kiểm tra 1 tiết ở tiết 31 theo phân phối chương trình giáo viên đặt
những câu hỏi sau cho học sinh yếu dễ hiểu, làm được bài: - Phần trắc nghiệm:
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng diễn ra vào năm nào? (0,5đ)
a. Năm 40 b. Năm 42 c. Năm 43 d. Năm 45 - Phần tự luận:
Câu 1: Trình bày diễn biến, nguyên nhân thắng lợi cuộc khởi nghĩa Lý Bí. Nước
Vạn Xuân thành lập. (4 đ).
Trong câu hỏi này học sinh trung bình yếu sẽ trả lời được diễn biến khởi
nghĩa và sự thành lập nước Vạn Xuân.
Câu 2: Hai Bà Trưng đã làm gì sau khi giành được độc lập? (3 đ).
Với các câu hỏi này, học sinh trung bình yếu học bài chăm chỉ sẽ đạt được
từ 6 đến 7 điểm trong bài kiểm tra.
Như trên đã nói, mơn Lịch sử là mơn học đòi hỏi sự chuyên cần của học
sinh. Khi giáo viên đã hướng dẫn học sinh phương pháp học tập cụ thể, kết hợp
nhiều giải pháp tạo hứng thú cho các em trong học tập, chắc chắn các em sẽ tiếp
thu kiến thức bộ mơn tốt hơn, từ đó sẽ nâng cao được chất lượng dạy - học bộ
môn.

Đạo Đức, ngày 10 tháng 11 năm 2020
Người viết

Nguyễn Văn Ngọ

download by :




×