Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

THẢO LUẬN THÁNG THỨ 2 DÂN SỰ 1: TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (271.75 KB, 20 trang )

Khoa Luật Thương mại
Lớp Luật Thương mại 44A.1

BÀI TẬP THÁNG THỨ HAI
(TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ)
Bộ môn

: Quy định chung, tài sản, thừa kế

Giảng viên

: Th.S Nguyễn Tấn Hoàng Hải

Lớp

: TM44A.1

Thành viên
1
2
3
4

Nguyễn Ngọc Bảo Anh
Nguyễn Trương Ngọc Ánh
Huỳnh Ngọc Uyên Chi
Nguyễn Thị Mỹ Duyên

195 380101 1005
195 380101 1017
195 380101 1026


195 380101 1042

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 5 năm 2020
MỤC LỤC


VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC SỞ HỮU
Câu 1.1: Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2005? Nêu rõ các hình thức sở
hữu trong BLDS........................................................................................................1
Câu 1.2. Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2015? Nêu rõ các hình thức sở
hữu trong BLDS........................................................................................................1
Câu 1.3. Suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi về hình thức sở hữu giữa hai Bộ
luật trên...................................................................................................................... 3

VẤN ĐỀ 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH THỪA
KẾ
Câu 2.1: Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc không minh mẫn thì
di chúc có giá trị pháp lý khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.................................6
Câu 2.2: Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm, khi
lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa phúc thẩm đã quyết
định như vậy?............................................................................................................6
Câu 2.3. Trong vụ việc vừa nêu, theo Toà giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2005
cụ Như có minh mẫn khơng? Vì sao Tồ giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?.....7
Câu 2.4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm......7
Câu 2.5. Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi
lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa phúc thẩm đã quyết
định như vậy?............................................................................................................7
Câu 2.6: Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2001
cụ Biết có minh mẫn khơng? Vì sao Tòa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy?.....8
Câu 2.7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tồ giám đốc thẩm......8

Câu 2.8. Di tặng là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.................................................9
Câu 2.9: Để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn những điều kiện gì? Nêu cơ sở
pháp lý khi trả lời....................................................................................................10
Câu 2.10: Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho ai? Đoạn nào của
Quyết định cho câu trả lời?......................................................................................10
Câu 2.11. Di tặng trên có được Tồ án chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định
cho câu trả lời?........................................................................................................11


Câu 2.12. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến
di tặng...................................................................................................................... 11
Câu 2.13: Truất quyền thừa kế là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.........................11
Câu 2.14: Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của ai? Đoạn
nào của Quyết định cho câu trả lời?.........................................................................12
Câu 2.15. Truất quyền của cụ Biết có được Tồ án chấp nhận khơng? Đoạn nào của
Quyết định cho câu trả lời?......................................................................................12
Câu 2.16. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến
truất quyền thừa kế..................................................................................................13
Câu 2.17: Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 những tài sản nào? Đoạn
nào của quyết định cho câu trả lời?.........................................................................13
Câu 2.18. Theo Viện kiểm sát và Toà dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý
phần nào? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?..............................................13
Câu 2.19. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và Toà
dân sự...................................................................................................................... 14
Câu 2.20. Sự khác nhau giữa “truất quyền thừa kế” và “không được hưởng di sản”
trong chế định thừa kế. Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời..............................................14
Câu 2.21: Trong Quyết định năm 2008, theo Viện kiểm sát và Tịa án dân sự, bà
Nga có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng ông Bình không? Đoạn
nào của Quyết định cho câu trả lời?.........................................................................15
Câu 2.22: Nếu có cơ sở khẳng định bà Nga có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa

vụ ni dưỡng ơng Bình thì bà Nga có được hưởng thừa kế di sản của ơng Bình
khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.......................................................................15
Câu 2.23. Suy nghĩ của anh/chị (nếu có) về hướng giải quyết của Toà án liên quan
đến hành vi của bà Nga...........................................................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

VẤN ĐỀ 1: HÌNH THỨC SỞ HỮU
Câu 1.1: Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2005? Nêu rõ các hình
thức sở hữu trong BLDS.
Có 6 hình thức sở hữu trong BLDS 2005. Cụ thể bao gồm:
- Sở hữu nhà nước
- Sở hữu tư nhân
- Sở hữu tập thể
- Sở hữu chung
- Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội
- Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội – nghề nghiệp.
Câu 1.2. Có bao nhiêu hình thức sở hữu trong BLDS 2015? Nêu rõ các hình
thức sở hữu trong BLDS.
BLDS 2015 đã cố gắng loại bỏ những bất cập trên bằng cách chỉ quy định 3 hình
thức sở hữu, bao gồm sở hữu riêng, sở hữu chung và sở hữu toàn dân.
Về sở hữu tồn dân, tài sản thuộc hình thức sở hữu này được quy định tại Điều
197 BLDS 2015 đã được sửa đổi để phù hợp với quy định tại Điều 53 Hiến Pháp
2013. Theo đó, tài sản thuộc hình thức sở hữu toàn dân bao gồm: “Đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên
thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công”.
Về sở hữu riêng, khoản 1 Điều 205 BLDS 2015 đã quy định “sở hữu riêng là

sở hữu của một cá nhân hay một pháp nhân”. Như vậy, để được coi là sở hữu riêng
đối với tài sản cụ thể, tài sản này chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là cá nhân hoặc
pháp nhân. Do đó, nếu một tổ chức khơng có tư cách pháp nhân có tài sản thì đây
khơng là tài sản thuộc sở hữu riêng của tổ chức đó. Theo quy định này, tất cả các tài
sản hợp pháp được quy định tại Điều 105 BLDS 2015 (vật, tiền, giấy tờ có giá và
quyền tài sản) đều là đối tượng của hình thức sở hữu riêng trừ các tài sản mà luật


2

quy định chỉ thuộc quyền sở hữu của toàn dân, chẳng hạn như đất đai; và chủ sở
hữu có quyền định đoạt, chiếm hữu, sử dụng tài sản thuộc sở hữu riêng miễn việc
này khơng ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác.
Về sở hữu chung, hình thức sở hữu chung được quy định từ Điều 207 đến Điều
220 BLDS 2015, cụ thể “sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản”
(khoản 1 Điều 207 BLDS 2015). Theo quy định này, để là sở hữu chung thì các chủ
thể phải có quyền sở hữu đối với tài sản. Do vậy, nếu đối với một tài sản, có người
có quyền sở hữu và có người có quyền khác đối với tài sản hoặc các chủ thể đều chỉ
có quyền khác đối với tài sản thì đây khơng là trường hợp sở hữu chung. Về căn cứ
xác lập quyền sở hữu chung, quyền này có thể “được xác lập theo thoả thuận” (Điều
208 BLDS 2015), “được xác lập theo quy định của pháp luật” (Điều 208 BLDS
2015), quyền sở hữu chung của vợ chồng hoặc mốc giới ngăn cách các bất động
sản, sáp nhập, trộn lẫn tài sản của nhiều chủ sở hữu. Còn về cơ sở chấm dứt sở hữu
chung, đó có thể là do “tài sản chung đã được chia” (khoản 1 Điều 220 BLDS
2015), cũng có thể do “một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài
sản chung” (khoản 2 Điều 220), do “tài sản chung không còn” (khoản 3 Điều 220)
hoặc chấm dứt do pháp luật quy định (khoản 4 Điều 220).
 Quản lý tài sản thuộc sở hữu chung: Điều 216 BLDS 2015 khẳng định: “Các
chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chung theo ngun tắc nhất trí, trừ

trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Như vậy,
ngồi nguyên tắc nhất trí, quản lý tài sản thuộc sở hữu chung cịn có thể theo
thể thức khác, chẳng hạn như tuân theo tập quán (khoản 1 Điều 211 BLDS
2015)
 Định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung: Các đồng sở hữu có quyền ngang nhau
nên khi định đoạt cần có sự đồng ý của họ. Tuy nhiên, đối với tài sản chung
không là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản xuất, tư liệu sản xuất khác của
tổ hợp tác thì việc định đoạt do đại diện của các thành viên quyết định, trừ
trường hợp luật có quy định khác 1
 Về các loại sở hữu chung thì có thể là sở hữu chung theo phần (khoản 2 Điều
207), tức là “sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở
1 Điều 506 BLDS 2015 có quy định như sau: “Việc định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất, nhà, xưởng sản
xuất, tư liệu sản xuất khác phải có thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các thành viên; việc định đoạt tài sản
khác do đại diện của các thành viên quyết định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”


3

hữu được xác định đối với tài sản chung.” (khoản 1 Điều 209 BLDS 2015)
hoặc sở hữu chung hợp nhất, tức là “sở hữu chung mà trong đó, phần quyền
sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản
chung.”
Câu 1.3. Suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi về hình thức sở hữu giữa hai
Bộ luật trên.
Sở hữu Nhà nước (BLDS 2005) – sở hữu toàn dân (BLDS 2015)
Trong BLDS 2005 quy định:
Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự
nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ,
nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển,
thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào

doanh nghiệp, cơng trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài
sản khác do pháp luật quy định.
Ở BLDS 2015 quy định:
Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển,
vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khadc và các tài sản do Nhà nước đầu
tư, quản lý là tài sản cơng thuộc sở hữu tồn dân do Nhà nước đại diện
chỉ sở hữu và thống nhất quản lý.
Xét thấy hai hình thức này đều được giải thích theo cách giống nhau, tuy nhiên ở
BLDS 2015, đã thay đổi từ sở hữu Nhà nước thành sở hữu tồn dân đã góp phần
làm rõ nội dung, ngắn gọn, cô đọng và thể hiện đúng bản chất của loại hình sở hữu
này.


4

Sở hữu tư nhân, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể (BLDS 2005) – sở hữu
riêng (BLDS 2015)
Nếu ở BLDS 2005, sở hữu tư nhân, sở hữu tổ chức, sở hữu tập thể được phân
chia thành các mục khác nhau thì tại BLDS 2015, 3 loại hình thức sở hữu này được
gộp thành sở hữu riêng được quy định tại khoản 1 Điều 205, BLDS 2015: “Sở hữu
riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân.” Điều này nhằm tạo sự ngắn
gọn, súc tích, rõ ràng hơn tránh rườm rà, gây trở ngại cho việc áp dụng pháp luật.
Sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung (BLDS 2005) – sở hữu
chung (BLDS 2015)
Ở BLDS 2005, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể mặc dù vẫn có hình thức
thuộc sở hữu chung, song lại vừa thuộc mục riêng của Bộ luật thì ở BLDS 2015, các
loại hình trên được gộp thành hình thức sở hữu chung. Tạo điều kiện dễ dàng hơn
trong việc áp dụng pháp luật.



5

VẤN ĐỀ 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH THỪA
KẾ
Tóm tắt Quyết định số 382/2008/DS-GĐT ngày 23/12/2008 về “V/v Tranh chấp
đòi tài sản” của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao
Bà Nga (nguyên đơn) là con ni của ơng Bình và bà Như, ơng Truyền (bị đơn)
là cháu của hai ông bà. Vợ chồng ông Truyền sinh sống tại căn nhà số 8/7 bic
Nguyễn Trãi của ơng Bình, bà Như và bà Nga chỉ sống ở đây cho đến khi lập gia
đình. Khi ơng Bình chết không để lại di chúc, bà Như lập di chúc để lại căn nhà cho
ông Truyền. Bà Kiều là em gái của ơng Bình đã tự ý lấy giấy chứng nhận quyền sở
hữu nhà ở và sử dụng đất của của ơng Bình, bà Như. Nay bà Nga khởi kiện yêu cầu
ông Truyền giao trả nhà đất, bà Kiều trả lại hộ khẩu và giấy chứng nhận nêu trên
cho bà.
Tịa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm khơng công nhận di chúc của bà Như
được viết khi cụ minh mẫn và là di chúc hợp pháp. Đồng thời, Viện trưởng VKSND
có kháng nghị rằng bà Nga đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để
lại di sản. Tịa giám đốc thẩm đã khơng chấp nhận nội dung này của kháng nghị và
công nhận di chúc của bà Như là di chúc hợp pháp cùng các quyết định khác.
Tóm tắt Quyết định số 545/2009/DS-GĐT ngày 26/10/2009 của Toà dân sự toà
án nhân dân tối cao.
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Nguyệt (Bổn)
Bị đơn: Bà Đỗ Minh Thuyết (Ánh)
Cụ Kiệt và cụ Biết là vợ chồng và có hai người con là bà Nguyệt và bà Thuyết.
Cụ Kiệt chết năm 1998 không để lại di chúc, cụ Biết chết năm 2001. Từ 1997 đến
2001, cụ Biết có lập các văn bản “Tờ truất quyền hưởng di sản” ngày 20/09/1997
truất quyền hưởng thừa kế của bà Nguyệt cùng chồng và con ni; “Tờ di chúc”
ngày 15/09/2000 để lại tồn bộ tài sản cho vợ chồng bà Nguyệt và “Tờ di chúc”
ngày 03/01/2001 để lại toàn bộ tài sản cho bà Thuyết, do cụ Biết đọc trong tình

trạng cịn minh mẫn, khơng bị cưỡng ép, ơng Thắng viết hộ, có điểm chỉ đồng thời
ông Dầm chứng kiến. Vợ chồng bà Nguyệt yêu cầu thừa kế di sản theo di chúc năm
2000; bà Thuyết yêu cầu hưởng di sản theo di chúc năm 2001hoặc để ông Hùng,


6

ơng Hồng, bà Diễm hưởng thừa kế theo di tặng 20/09/2000 vì thế xảy ra tranh
chấp.
Tại bản án dân sự sơ thẩm quyết định:
Bác yêu cầu xin hưởng di sản của vợ chồng bà Nguyệt; chấp nhận yêu câù của
bà Thuyết.
Tại bản án dân sự phúc thẩm:
Bác yêu cầu hưởng di sản của bà Nguyệt; Bác yêu cầu hưởng tài sản theo ý chí
của di tăng 20/09/2000; chia di sản để lại cho bà Nguyệt và bà Thuyết.
Tại quyết định số 545/2009/DS-GĐT:
Hủy bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm. Giao hồ sơ cho TAND
tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm lại theo quy định quốc luật.
Câu 2.1: Nếu vào thời điểm xác lập di chúc, người lập di chúc khơng minh mẫn
thì di chúc có giá trị pháp lý khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Vào thời điểm lập di chúc mà người lập di chúc khơng minh mẫn thì di chúc
khơng có hiệu lực pháp lý
Vì theo điểm a Điều 630 về “Di chúc hợp pháp” quy định: “Di chúc hợp pháp
phải có đủ các điều kiện sau đây: a. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong
khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;”
Câu 2.2: Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 382, theo Tòa phúc thẩm,
khi lập di chúc năm 2005 cụ Như có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa phúc thẩm đã
quyết định như vậy?
Tòa phúc thẩm đã quyết định giữ ngun bản án sơ thẩm, theo đó khơng cơng
nhận di chúc năm 2005 cụ Như được viết khi cụ minh mẫn và là di chúc hợp pháp.

Tòa phúc thẩm đã quyết định như vậy bởi vì lý do Bệnh xá Cơng an tỉnh An Giang
khơng có chức năng khám sức khỏe để lập di chúc.


7

Câu 2.3. Trong vụ việc vừa nêu, theo Toà giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm
2005 cụ Như có minh mẫn khơng? Vì sao Tồ giám đốc thẩm đã quyết định như
vậy?
Trong vụ việc vừa nêu, theo Toà giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2005, tinh
thần cụ hồn tồn minh mẫn. Vì theo Tồ giám đốc thẩm, di chúc của bà Như lập là
do bà nhờ ông On viết, ông Kiếm – Tổ trưởng tổ dân phố và ông Hiếu – cảnh sát
khu vực ký tên làm chứng di chúc. Trong quá trình giải quyết vụ án, cả ba người
trên đều xác nhận tại thời điểm bà Như lập di chúc, trạng thái tinh thần của bà vui
vẻ, minh mẫn. Đồng thời, cả ba ông không phải là người được hưởng thừa kế, cũng
không phải là người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc. Mặt
khác, kết luận của bác sĩ Hiền về tình trạng sức khoẻ của bà Như được ghi trước
ngày lập di chúc 5 ngày không mâu thuẫn với lời khai của ông On, ông Kiếm và
ông Hiếu. Do vậy, Toà giám đốc thẩm mới xác định lúc lập di chúc bà hoàn toàn
minh mẫn và di chúc bà Như lập đã thể hiện đúng ý chí của bà khi lập di chúc.
Câu 2.4. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm
Tòa Giám đốc thẩm ra quyết định công nhận di chúc hợp pháp, xác định bà Như
lập di chúc trong trạng minh mẫn nên vợ chồng ông Truyền, bà Hằng được hưởng
theo di chúc của Như. Quyết định trên của Tòa Giám đốc thẩm là phù hợp với quy
định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.
Theo đó, căn cứ tại Điều 630 BLDS 2015 bà Như có đủ điều kiện về nội dung
và hình thức của di chúc nên hiển nhiên di chúc được công nhận là hợp pháp. Người
làm chứng cho việc lập di chúc cũng phù hợp và thỏa Điều 632 của BLDS 2015.
Câu 2.5. Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi
lập di chúc năm 2001 cụ Biết có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa phúc thẩm đã

quyết định như vậy?
Liên quan đến vụ việc trong Quyết định số 545, theo Tòa phúc thẩm, khi lập di
chúc năm 2001 cụ Biết khơng minh mẫn vì Tịa cấp phúc thẩm cho rằng cụ biết lập
di chúc ngày 03/01/2001 đã 84 tuổi, trước đó vào tháng 11, 12 năm 2000 cụ Biết
phải nhập viện điều trị với triệu chứng theo chuẩn đoán là “thiếu máu cơ tim, xuất
huyết não, cao huyết áp”, cụ biết lập di chúc ngày 03/01/2001 thì ngày 14/01/2001
cụ Biết chết.


8

Câu 2.6: Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm
2001 cụ Biết có minh mẫn khơng? Vì sao Tịa giám đốc thẩm đã quyết định như
vậy?
Trong vụ việc vừa nêu, theo Tòa giám đốc thẩm, khi lập di chúc năm 2001 cụ
Biết có minh mẫn và công nhận đây là di chúc hợp pháp.
Tịa giám đốc thẩm đã quyết định như vậy vì di chúc năm 2001 do cụ Biết đọc,
ông Thắng viết hộ, cụ Biết điểm chỉ vào di chúc và có ông Dầm chứng kiến, sau khi
viết xong thì ông Thắng và ông Dầm ký tên làm chứng vào bản di chúc. Theo lời
khai của ơng Thắng và ơng Dầm thì cả hai đều xác nhận cụ Biết lập di chúc khi cụ
minh mẫn. Mặt khác, bà Mỹ – người thuê vườn cây của cụ Biết cũng xác nhận cụ là
người minh mẫn. Do đó, Tịa giám đốc thẩm có đủ căn cứ để xác định cụ Biết là
người minh mẫn khi lập di chúc năm 2001.
Câu 2.7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà giám đốc thẩm.
Theo nhóm, việc Tồ giám đốc thẩm xác định khi lập di chúc năm 2001 cụ Biết
có minh mẫn là có căn cứ vì những lý do sau:
Thứ nhất, nếu xét theo quyết định của Toà phúc thẩm là khi lập di chúc, cụ Biết
thiếu sáng suốt, không minh mẫn vì cụ Biết nhiều lần lập và thay đổi nội dung di
chúc sẽ không hợp lý. Bởi lẽ, việc người lập di chúc minh mẫn sáng suốt hay khơng
hồn tồn khơng phụ thuộc vào việc người đó thay đổi di chúc bao nhiêu lần. Trong

cuốn Luật Thừa kế - Bản án và bình luận Bản án, tác giả Đỗ Văn Đại cũng theo
hướng rằng “bản thân việc một người thay đổi nhiều lần ý chí định đoạt tài sản của
mình trước khi chết không thể suy luận là họ thiếu minh mẫn, sáng suốt” và nhóm
cũng đồng tình với quan điểm này. Cho nên, việc Tồ giám đốc thẩm khơng đồng
tình với hướng giải quyết của Tồ phúc thẩm là có căn cứ.
Thứ hai, những người làm chứng cho cụ Biết là ông Thắng, ông Dầm cũng
thống nhất lời khai rằng lúc lập di chúc, cụ Biết hoàn toàn minh mẫn. Đồng thời,
theo lời khai của bà Mỹ, vào ngày 4/1/2001 cụ Biết có ký (điểm chỉ) hợp đồng cho
thuê vườn với bà, và trước ngày ký 1 tuần, cụ có gọi bà đến để thoả thuận việc thuê
vườn nêu trên. Do vậy, có căn cứ cho rằng tại thời điểm lập di chúc vào ngày
3/1/2001, bà Mỹ hoàn toàn minh mẫn và sáng suốt.


9

Thứ ba, việc nhập viện của cụ Biết vào khoảng tháng 11, 12 với chuẩn đoán
thiếu máu cơ tim, xuất huyết não, cao huyết áp chưa đủ thuyết phục để chứng minh
rằng vào thời điểm lập di chúc cụ Biết không minh mẫn. Trong thực tiễn xét xử, cụ
thể là tại Quyết định số 382, Toà giám đốc thẩm chỉ căn cứ vào xác nhận của người
viết hộ, người làm chứng để xác định tinh thần cụ Như, chứ không hoàn toàn dựa
vào kết luận của bác sĩ Hiền. Do đó, việc cụ Biết nhập viện khơng đủ cơ sở để
chứng minh tinh thần cụ không minh mẫn tại thời điểm lập di chúc.
Thứ tư, mặc dù tuổi cụ đã cao nhưng căn cứ vào 3 lý do nêu trên ta có thể thấy
rằng tuổi của cụ khơng ảnh hướng đến tinh thần của cụ tại thời điểm lập di chúc.
Do vậy, theo nhóm, hướng giải quyết trên của Tồ giám đốc thẩm là hoàn toàn
hợp lý. Việc Toà giám đốc thẩm xét xử theo hướng di chúc của cụ Biết vào năm
2001 được lập lúc tinh thần cụ minh mẫn là có căn cứ và đã bảo vệ được quyền lợi
của người nhận di sản theo di chúc cũng như tơn trọng ý chí của cụ Biết.
Câu 2.8. Di tặng là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác.

Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.
Theo Điều 646 quy định về Di tặng:
1. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho
người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc.
2. Người được di tặng là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa
kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành
thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người được di tặng
khơng phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
3. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với
phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản khơng đủ để thanh
tốn nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được
dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này.


10

Câu 2.9: Để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn những điều kiện gì? Nêu cơ
sở pháp lý khi trả lời
Di tặng cũng là di chúc. Vì vậy, để có giá trị pháp lý, di tặng phải thỏa mãn
những điều kiện giống như di chúc.
Yêu cầu về nội dung được quy định tại Điều 631 BLDS 2015 về Nội dung của
di chúc:
1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có
các nội dung khác.
3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm

nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc
điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc
hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xố, sửa
chữa.
u cầu về hình thức được quy định từ Điều 633 đến Điều 635 BLDS 2015.
Câu 2.10: Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho ai? Đoạn nào của
Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã di tặng cho ba cháu ngoại là là ông
Hùng, bà Diễm và ông Hoàng.


11

Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “Cụ Biết di tặng tài sản riêng và chung
cho ba cháu ngoại là ơng Hùng, bà Diễm và ơng Hồng. Tờ truất quyền do cụ Biết
ký tên và lăn tay.”
Câu 2.11. Di tặng trên có được Tồ án chấp nhận khơng? Đoạn nào của Quyết
định cho câu trả lời?
Di tặng trên không được Toà án chấp nhận. Đoạn cho câu trả lời là:
Tồ án cấp phúc thẩm khơng cơng nhận “Tờ truất quyền hưởng di sản”
lập ngày 20/9/1997 và “Tờ di chúc” ngày 15/9/2000 bởi các văn bản
này không phù hợp với quy định của pháp luật về cả nội dung và hình
thức văn bản là có căn cứ
Câu 2.12. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan
đến di tặng.
Hướng giải quyết trên của Tòa là hợp lý. Vì căn cứ theo khoản 5 Điều 643 quy
định về Hiệu lực của di chúc: “Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một
tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.” Vì vậy, tờ di chúc lập ngày
03/01/2001 là di chúc có hiệu lực pháp luật, mà trong tờ di chúc này lại không đề

cập đến di tặng. Tuy nhiên, BLDS quy định người để lại di tặng: “Di tặng là việc
người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải
được ghi rõ trong di chúc.” Theo đó, bà Biết đã di tặng tồn bộ di sản của mình, do
đó điều này khơng phù hợp với quy định nêu trên.
Câu 2.13: Truất quyền thừa kế là gì? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Pháp lệnh thừa kế quy định: “Người lập di chúc” được quyền “truất quyền
hưởng di sản của một hoặc nhiều người thừa kế theo pháp luật mà không nhất thiết
phải nêu lý do” (điểm d khoản 1 Điều 11). Quyền này vẫn được duy trì tại khoản 1
Điều 626 BLDS năm 2015 về Quyền của người lập di chúc: “Chỉ định người thừa
kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế”. Truất quyền có nghĩa là: một
người đáng ra được hưởng di sản của người khác để lại nhưng vì một số lý do họ có
thể khơng được hưởng di sản này nữa. Đó có thể là do pháp luật quy định hoặc do ý
chí của người để lại di sản2.
2 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia VIệt
Nam (xuất bản lần thứ 3), Bản án số 82 và 83, tr.60.


12

Trường hợp thứ nhất, “người không được quyền hưởng di sản” do pháp luật quy
định. Ở đây, pháp luật trừng phạt một người thừa kế đã phạm lỗi, do có hành vi vi
phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội3.
Trường hợp thứ hai là truất quyền hưởng di sản theo ý chí của người để lại thừa
kế. Trong trường hợp này, người để lại di sản muốn gạt một hay nhiều người thừa
kế theo pháp luật ra ngoài diện được hưởng di sản, không cho những người này
hưởng di sản của mình4.
Câu 2.14: Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của ai?
Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định năm 2009, cụ Biết đã truất quyền thừa kế của bà Đỗ Thị
Nguyệt cùng chồng và con nuôi của bà Nguyệt.

Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “Cụ Biết được cụ Kiệt giao quyền định
đoạt tài sản theo tờ ủy quyền ngày 16/7/1997, cụ Biết truất quyền hưởng thừa kế
của bà Nguyệt cùng chồng và con nuôi của bà Nguyệt đối với những tài sản chung
và riêng của cụ Kiệt, cụ Biết tại ấp Bình Phước.”
Câu 2.15. Truất quyền của cụ Biết có được Tồ án chấp nhận khơng? Đoạn nào
của Quyết định cho câu trả lời?
Truất quyền của cụ Biết không được Toà án chấp nhận. Đoạn cho câu trả lời là
Tồ án cấp phúc thẩm khơng cơng nhận “Tờ truất quyền hưởng di sản”
lập ngày 20/9/1997 và “Tờ di chúc” ngày 15/9/2000 bởi các văn bản
này không phù hợp với quy định của pháp luật về cả nội dung và hình
thức văn bản là có căn cứ
Câu 2.16. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan
đến truất quyền thừa kế.
Hướng giải quyết trên của Tịa án là khá hợp lý vì bà Nguyệt và con nuôi của bà
Nguyệt thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của ông Kiệt và bà Biết. Do vậy
3 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia,
Thành phố Hồ Chí Minh, 2007, tr.248.
4 Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia VIệt
Nam (xuất bản lần thứ 3), Bản án số 82 và 83, tr.61.s


13

ơng Kiệt và bà Biết hồn tồn có thể truất quyền thừa kế của hai người. Tuy nhiên,
đối với chồng bà Nguyệt không thuộc diện thừa kế theo pháp luật nên ông Kiệt và
bà Biết không thể truất quyền hưởng di sản.
Đối với phần tài sản của bà Biết hướng giải quyết này chưa rõ ràng, thỏa đáng
lắm vì, pháp luật cho phép bà Biết truất quyền hưởng di sản đối với người thừa kế
theo pháp luật của bà. Người truất quyền hưởng di sản người thừa kế theo pháp luật
của mình phải là “người lập di chúc”, truất quyền phải gắn liền với di chúc. Do đó,

bà Biết chỉ có thể thực hiện việc truất quyền khi bà lập di chúc để thể hiện ý chí của
cá nhân tài sản của mình do ba người cháu ngoại nên có thể xác định rằng bà Biết
đã biết lập di chúc, thỏa mãn điều kiện người truất quyền phải là người lập di chúc.
Vì vậy, Tịa án khơng chấp nhận tờ truất quyền phải là khơng hồn tồn thuyết phục
đối với phần tài sản của bà Biết.
Câu 2.17: Cụ Biết đã định đoạt trong di chúc năm 2001 những tài sản nào?
Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
Trong di chúc năm 2001 cụ Biết đã định đoạt phần tài sản gồm nhà và đất vườn
cây ăn trái diện tích 6.278m2. Đoạn cho câu trả lời là: “Ngày 03/01/2001 cụ Biết lập
di chúc có nội dung: Sau khi cụ qua đời thì bà Thuyết được tồn quyền thừa hưởng
phần tài sản là nhà và đất vườn cây ăn trái diện tích 6.278m 2. Nội dung di chúc do
cụ Biết đọc cho ông Nguyễn Văn Thắng viết, cụ Biết lăn tay có ơng Thắng và ơng
Lương Văn Dầm làm chứng ký tên”.
Câu 2.18. Theo Viện kiểm sát và Toà dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý
phần nào? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo Viện kiểm sát, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý phần của cụ Biết chung
với của cụ Kiệt. Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “Còn “Tờ di chúc” do cụ
Biết lập ngày 03/01/2001 để lại toàn bộ di sản cho bà Thuyết do cụ Biết đọc cho
ông Nguyễn Văn Thắng viết hộ, tại bản di chúc này ông Thắng cũng là người ký tên
làm chứng cùng với ông Lương Văn Dầm , đã tuân thủ đúng với các quy định của
Bộ luật dân sự nên là bản di chúc hợp pháp một phần, phần cụ Biết chung với cụ
Kiệt, còn phần của cụ Kiệt chia theo pháp luật.”
Theo Tịa dân sự, di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý phần di sản của cụ Biết.
Đoạn của Quyết định cho câu trả lời: “...giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh


14

Bình Dương xét xử phúc thẩm lại theo hướng cơng nhận di chúc của cụ Biết, phần
di sản của cụ Kiệt chia theo pháp luật.”

Câu 2.19. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và
Toà dân sự.
Theo nhóm, hướng giải quyết trên của Viện kiểm sát và Tồ dân sự về việc nếu
khơng có chứng cứ mới thì di chúc năm 2001 có giá trị pháp lý một phần của cụ
Biệt, còn phần của cụ Kiệt sẽ được chia theo pháp luật là hợp lý vì lý do sau:
Khi ơng Kiệt chết khơng để lại di chúc, mặc dù ơng Kiệt có uỷ quyền cho bà
Biết được định đoạt toàn bộ tài sản nhưng tờ uỷ quyền có một số điểm chưa được
làm rõ và qua nhiều lần xét xử không xuất hiện chứng cứ mới đủ chắc chắn để
chứng minh tờ uỷ quyền trên có giá trị pháp lý; đồng thời căn cứ theo lời khai của
bà Nguyệt thì trước khi lập tờ uỷ quyền ông Kiệt trong trạng thái “…nằm một chỗ,
không nghe, khơng nói được”. Do vậy, khơng đủ cơ sở để chứng minh được tờ uỷ
quyền của ông Kiệt để lại toàn bộ tài sản cho bà Biết là hợp pháp và có giá trị. Do
đó, căn cứ vào lý do trên, phần di sản của ông Kiệt phải chia theo pháp luật, và di
chúc của bà Biết định đoạt phần di sản của cụ Kiệt là hợp pháp. Do vậy, theo nhóm,
hướng giải quyết của Viện kiểm sát và Tồ dân sự là hợp tình hợp lý.
Câu 2.20. Sự khác nhau giữa “truất quyền thừa kế” và “không được hưởng di
sản” trong chế định thừa kế. Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Truất quyền thừa kế được đề cập đến tại Điều 626 BLDS 2015: “Người lập di
chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa
kế…” Có thể hiểu, truất quyền thừa kế là việc người để lại di sản thừa kế khơng
muốn để lại phần tài sản của mình cho một người nào đó và ý chí này được ghi lại
vào di chúc hợp pháp. Đây là quyền của người để lại di chúc.
Khi bị truất quyền thừa kế thì người bị truất quyền vẫn có thể được hưởng di sản
trong trường hợp tại Điều 644 BLDS 2015 về Thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung của di chúc.
Điểm khác nhau:


15


+ Không được hưởng di sản: Nếu người để lại di sản biết về những hành vi của
người thừa kế nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc thì những người này vẫn được
hưởng.
+ Người bị truất quyền hưởng di sản” Người viết di chúc không để lại di sản
chi người thừa kế theo ý chí của người để lại di chúc và người này chỉ được hưởng
tài sản nếu di chúc khơng có hiệu lực pháp luật.
Do vậy, truất quyền thừa kế theo ý chí của người để lại di chúc và không được
hưởng di sản thừa kế theo pháp luật là hai khái niệm khác nhau.
Câu 2.21: Trong Quyết định năm 2008, theo Viện kiểm sát và Tòa án dân sự, bà
Nga có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ ni dưỡng ơng Bình khơng?
Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định năm 2008, theo Viện kiểm sát và Tòa án dân sự, bà Nga đã có
hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ ni dưỡng ơng Bình. Thể hiện trong đoạn:
“Bà Nga là con nuôi nhưng đã không cấp dưỡng bố mẹ khi tuổi già dẫn đến Hội
chữ thập đỏ phải cung cấp thức ăn. Theo quy đinh tại điểm b khoản 1 Điều 646 Bộ
luật dân sự năm 1995, điểm b khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2005 người vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản khơng được hưởng di
sản”.
Câu 2.22: Nếu có cơ sở khẳng định bà Nga có hành vi vi phạm nghiêm trọng
nghĩa vụ ni dưỡng ơng Bình thì bà Nga có được hưởng thừa kế di sản của ơng
Bình khơng? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Nếu có cơ sở khẳng định bà Nga có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ ni
dưỡng ơng Bình thì bà Nga khơng được hưởng thừa kế di sản của ơng Bình. Điều
này được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 621 BLDS 2015 về người không được
quyền hưởng di sản: “Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để
lại di sản”
Câu 2.23. Suy nghĩ của anh/chị (nếu có) về hướng giải quyết của Toà án liên
quan đến hành vi của bà Nga
Theo nhóm, hướng giải quyết của Tồ án liên quan đến hành vi của bà Nga là
khá hợp lý, tuy nhiên cũng cần phải xem xét lại một số điểm vì những lý do sau:



16

Việc Tồ án khơng thừa nhận đơn từ bỏ con ni của ơng Bình, bà Như là hợp
lý. Theo khoản 5 Điều 29 Luật Tố tụng dân sự 2015 thì việc yêu cầu chấm dứt việc
con nuôi thuộc thẩm quyền của Tồ án. Do vậy, để từ con ni thì phải được Tồ án
cơng nhận. Nhưng xét trong trường hợp của Quyết định, thủ tục chấm dứt việc con
nuôi chưa được cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Do đó, đơn này không phù hợp
quy định của pháp luật, và Tồ án quyết định bà Nga vẫn là con ni của ơng Bình,
bà Như là hợp lý
Tuy nhiên, việc Tồ án vẫn xác định bà Nga được thừa kế di sản của cha mẹ
nuôi bà là chưa hợp lý. Bởi lẽ, Toà án chỉ mới căn cứ tại chứng cứ có sẵn mà quyết
định khơng đủ cơ sở chứng minh là chưa hoàn toàn thuyết phục. Đáng ra Toà án
phải yêu cầu tìm thêm chứng cứ để xác minh chắc chắn hơn việc bà Nga có vi phạm
nghiêm trọng trong nghĩa vụ ni dưỡng ơng Bình, bà Như hay khơng; vì khơng
phải vơ cớ mà lời khai của nhiều người đều thống nhất rằng bà Nga khơng hồn
thành nghĩa vụ con nuôi với 2 ông bà và Hội chữ thập đỏ phải cung cấp thức ăn cho
hai ông bà. Do đó, theo nhóm, Tồ án cần xem xét rõ hơn việc bà Nga có vi phạm
nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc hay khơng. Có như vậy, thì quyết định của Tồ án
mới thật sự thuyết phục, hợp tình hợp lý và bảo vệ được quyền lợi của các người
đồng thừa kế cũng như tơn trọng ý chí của ơng Bình, bà Như.
Như vậy, theo nhóm, hướng giải quyết của Tồ án có phần hợp lý nhưng phải
tìm thêm chứng cứ để xác minh tư cách thừa kế của bà Nga.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật dân sự 2005
2. Bộ luật dân sự 2015
3. Bộ luật tố tụng dân sự 2015

4. Đỗ Văn Đại, Luật thừa kế Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng
Đức – Hội luật gia Việt Nam 2019
5. Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam,
Nxb. Đại học quốc gia 2007



×