TÌNH HUỐNG HỌC TẬP
PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH
Giảng viên biên soạn: Ths. Nguyễn Tuấn Vũ
Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
“Education is not the filling of a pail, but the lighting of a fire”
***William Butler Yeats***
GỢI Ý NGHIÊN CỨU
Tài liệu này do ThS Nguyễn Tuấn Vũ (tác giả) biên soạn để phục vụ cho
việc học tập và nghiên cứu môn học pháp luật về chủ thể kinh doanh. Sinh viên,
học viên khơng sử dụng cho mục đích khác khi chưa được sự đồng ý của tác giả.
Để sử dụng tốt tình huống học tập này, người học cần chú trọng một số
yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, cần nắm bắt nội dung, tình tiết của tranh chấp, từ đó nhận diện
được các vấn đề pháp lý liên quan.
download by :
Thứ hai, tìm kiếm những quy định pháp luật doanh nghiệp và thực tiễn
tài phán liên quan đến vấn đề pháp lý.
Thứ ba, đưa ra hướng giải quyết đối với các vấn đề pháp lý được tác giả
đặt ra từ tranh chấp. Người học phải sử dụng tư duy pháp lý và hiểu biết của
mình để phân tích, nhận xét, đánh giá, bình luận tranh chấp trên cơ sở khách
quan, hợp pháp và hợp lý.
Thứ tư, đưa ra những đề xuất/giải pháp/khuyến nghị hữu ích để giúp cho
cơng ty, thành viên, cổ đơng và các bên liên quan có thể hạn chế hoặc phịng
ngừa các tranh chấp (nếu có).
TÌNH HUỐNG SỐ 1:
1.
NỘI DUNG VỤ VIỆC
Công ty TNHH An Đông (gọi tắt là Công ty An Đông) được Sở Kế hoạch
và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ngày 07/8/2010, vốn điều
lệ là 450 triệu đồng. Công ty có 3 thành viên: ơng Mỹ, ơng Thuận và ơng Sơn,
phần vốn góp của mỗi thành viên là 150 triệu đồng.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, do làm ăn thua lỗ và khơng có sự
thống nhất về quản lý, điều hành Công ty nên ông Mỹ và ông Thuận (giám đốc
cơng ty) có thỏa thuận về việc kiểm kê lại tài sản của Cơng ty, sau đó ơng Thuận
sẽ đại diện Cơng ty An Đơng nhận chuyển nhượng tồn bộ phần vốn góp của
ơng để ơng rút khỏi Cơng ty.
Ngày 28/01/2013, Công ty An Đông đã lập bảng khấu hao tài sản và thiết
bị nhà xưởng, bảng thống kê tài sản và vốn và xác định trị giá tài sản của Công ty
download by :
tại thời điểm này là 1.858.413.000 đồng, chia cho 03 thành viên thì mỗi thành viên
sở hữu phần tài sản trong Công ty là: 619.471.000 đồng.
Ngày 11/08/2013, ông Mỹ và ông Thuận đã ký biên bản thỏa thuận, theo
đó ông Thuận đại diện Công ty đồng ý trả lại phần góp vốn của ơng với số tiền là
619.471.000 đồng, với phương thức thanh toán là kể từ ngày 01/08/2013 hàng
tháng Cơng ty thu tiền hàng về, thời hạn thanh tốn là ơng Thuận sẽ thanh tốn
cho ơng số tiền 40.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết số tiền vốn góp của ông.
Từ ngày 11/08/2013 đến ngày 25/08/2014, Công ty An Đông đã trả cho ơng
số tiền là 517.000.000 đồng. Từ đó đến nay, mặc dù ông đã nhiều lần yêu cầu
nhưng Cơng ty khơng tiếp tục thanh tốn cho ơng tiền cịn thiếu trong vốn góp
của ơng là 102.471.000 đồng.
Theo nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được đăng ký
thay đổi lần 5 (ngày 18/04/2019) thì ơng Mỹ khơng cịn là thành viên của Cơng ty.
Do đó, ngày 18/6/2019, ông Mỹ gửi đơn đến Tòa án với những yêu cầu
như sau:
-
Buộc Công ty An Đông trả cho ông số tiền chưa thanh toán theo Biên bản
thỏa thuận ngày 11/08/2013 là: 102.471.000 đồng. Cộng với số tiền lãi do chậm thanh
toán từ tháng 08/2014 đến ngày 20/06/2019 là: 102.471.000 đồng x 1,2%/tháng x 57
tháng = 70.090.000 đồng. Tổng cộng, Công ty An Đơng phải thanh tốn cho ơng là
172.561.000 đồng.
-
Buộc Công ty An Đông thực hiện thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp
theo đúng quy định của pháp luật. Ơng cho rằng mình chưa rút vốn hết ra khỏi Cơng ty
An Đông nên ông vẫn là thành viên của Công ty.
[Vụ việc được biên soạn theo tình tiết của Bản án số 05/2014/KDTM-ST
ngày 08/9/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh ĐN V/v “tranh chấp giữa thành viên
Công ty với Công ty về vốn góp”]
download by :
2.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
a.
Theo Luật Doanh nghiệp, thành viên cơng ty TNHH hai thành viên
trở lên có thể rút vốn thơng qua những hình thức nào? Hãy phân tích và đưa ra
đánh giá đối với từng hình thức.
Theo K2 Điều 50 LDN, không được rút vốn ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ
trường hợp quy định tại điều 51,52,53 và 68 của Luật này:
- Thành viên yêu cầu cơng ty mua lại vốn góp (Đ51) khơng phải quyền đương nhiên.
- Thành viên chuyển nhượng phần vốn góp (Đ52).
- Xử lý phần vốn góp theo một số TH đặc biệt (Đ53).
- Cơng ty hồn trả một phần vốn góp (K3 Đ68).
b.
Dựa vào những quy định của Luật Doanh nghiệp, hãy cho biết Cơng
ty An Đơng có được trả lại vốn góp cho ơng Mỹ hay khơng? Tại sao?
c.
Nếu thành viên muốn rút vốn khỏi công ty TNHH hai thành viên
trở lên thì cách thức thuận tiện và dễ dàng nhất là gì?
TÌNH HUỐNG SỐ 2:
1.
NỘI DUNG VỤ VIỆC
Doanh nghiệp tư nhân Kim Anh được cấp giấy phép thành lập số
02T/GP.UBT9 ngày 17/12/1992 do ơng Q làm chủ với số vốn đầu tư là
109.800.000 đồng (thời điểm này doanh nghiệp tư nhân Kim Anh được thành lập
và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990).
Do loại hình doanh nghiệp tư nhân không được phép thực hiện hoạt
động xuất khẩu thủy sản trực tiếp sang nước ngồi, nên ơng Quí đã nhờ người
thân đứng tên dùm để thành lập công ty TNHH. Cho nên, ngày 20/12/1994,
download by :
doanh nghiệp tư nhân Kim Anh đã được chuyển đổi thành Công ty TNHH Kim
Anh (gọi tắt là Công ty Kim Anh), với 6 thành viên: ơng Q, Bà Anh, ông Tài,
ông Tươi, bà Sương và ông Trung.
Theo đó, vốn góp trong Cơng ty Kim Anh chỉ do ơng Q góp (chủ yếu
chuyển từ doanh nghiệp tư nhân Kim Anh sang), các ơng bà cịn lại chỉ là thành
viên “danh nghĩa”, khơng có vốn góp trong cơng ty. Số vốn “danh nghĩa” này
được ơng Q cân đối, phân chia theo tỷ lệ phần trăm vốn góp cho khớp với số
vốn điều lệ được ấn định trước, khơng có thực và khơng bất cứ thành viên nào
góp tiền hoặc tài sản khác vào cơng ty. Ơng Q là chủ tịch HĐTV kiêm Giám
đốc, đồng thời cũng là người đại diện theo pháp luật của Công ty Kim Anh.
Do nhu cầu cần vay vốn, mở rộng hoạt động kinh doanh xuất khẩu ra
nước ngồi nên cơng ty đã nhiều lần thay đổi giấy chứng nhận đăng ký doanh
nghiệp. Tính đến ngày 24/8/2009, số vốn điều lệ ghi trên giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp của Công ty Kim Anh là 113.482.384.700 đồng. Những lần thay
đổi và tăng vốn điều lệ ơng Q vẫn nhờ những thành viên đứng tên dùm ký tên
vào các giấy tờ theo mẫu của Sở Kế hoạch và Đầu tư quy định.
Trong q trình hoạt động, Cơng ty Kim Anh nhiều lần gặp khó khăn về
tài chính, ơng Q có đề nghị các thành viên góp vốn để trở thành thành viên
“thực sự” nhưng đều bị từ chối, đồng thời, họ cũng chưa lần nào có yêu cầu
được phân chia lợi nhuận.
Từ năm 2008, Công ty Kim Anh luôn gặp thua lỗ do xảy ra tranh chấp
giữa các thành viên, công ty dần mất hết các đối tác làm ăn.
Cơng ty Kim Anh khởi kiện ra Tịa án, yêu cầu không công nhận tư cách
thành viên đối với Bà Anh, ông Tài, ông Tươi, bà Sương và ông Trung. Đồng thời
cơng nhận tồn bộ vốn góp trong Cơng ty Kim Anh là của ơng Q.
download by :
Tại phiên tịa, các bị đơn trình bày là mình có góp vốn vào Cơng ty Kim
Anh, cụ thể:
o
Ơng Trung góp vốn bằng các tài sản là hệ thống nước, công suất 300
m3/ngày, tương đương 75.000.000 đồng; máy phát điện 200KVA tương đương
85.000.000 đồng; xe tải hiệu Toyota, tương đương 20.000 đồng; tiền mặt là 120.000.000
đồng.
o
Ơng Tươi góp vốn bằng xe tải 2,5 tấn hiệu Toyota Dina trị giá 41.000.000
đồng; tiền mặt là 180.000.000 đồng.
o
Bà Anh góp bằng xe du lịch 4 chỗ hiệu Honda Accord trị giá 158.000.000
đồng; xe khách 15 trị giá 114.000.000 đồng.
o
o
Bà Sương góp bằng tiền mặt là 300.000.000 đồng.
Ơng Tài góp bằng tài sản là hệ thống máy, tủ cấp đông trị giá 310.000.000
đồng.
Tuy nhiên, các ông bà trên vẫn không đưa ra được các chứng từ giao
nhận tài sản giữa họ với công ty để chứng minh mình có góp vốn. Đối với các tài
sản có đăng ký (xe tải, xe du lịch) thì người đứng tên chủ sở hữu vẫn là họ, chứ
không phải là Cơng ty Kim Anh. Ngồi ra, các thành viên này cũng thừa nhận họ
khơng có giấy chứng nhận phần vốn góp và khơng ai có tên trong sổ đăng ký
thành viên của công ty.
[Vụ việc được biên soạn theo tình tiết của Bản án số 01/2016/KDTMST
ngày 13/02/2016 “V/v Tranh chấp giữa công ty và các thành viên công ty với
nhau” của Tịa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng]
download by :
2.
CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA
a.
Hãy cho biết trách nhiệm của người thành lập doanh nghiệp trong
thủ tục đăng ký doanh nghiệp? Ơng Q có vi phạm trách nhiệm của người
thành lập doanh nghiệp hay không?
b.
Hãy nhận xét về hành vi góp vốn của ơng Q và các ơng/bà có liên
quan? Nhận diện những rủi ro pháp lý từ tranh chấp?
c.
Theo Luật Doanh nghiệp, tư cách thành viên công ty TNHH hai
thành viên xác lập từ thời điểm nào? Có những văn bản/giấy tờ gì có thể chứng
minh tư cách thành viên? Hãy liên hệ tới vụ việc
download by :
TÌNH HUỐNG SỐ
3:
1.
NỘI DUNG VỤ VIỆC
Dương, Thành, Trung và Hải thành lập Cơng ty TNHH Thái Bình Dương
kinh doanh xúc tiến xuất khẩu. Công ty được cấp chứng nhận ĐKKD với vốn
điều lệ 5 tỷ đồng. Trong thỏa thuận góp vốn do các bên ký, Dương cam kết góp
800 triệu đồng bằng tiền mặt (16% vốn điều lệ). Thành góp vốn bằng giấy nhận
nợ của công ty Thành Mỹ (dự định sẽ là bạn hàng chủ yếu của Công ty TNHH
Thái Bình Dương), tổng số tiền trong giấy ghi nhận nợ là 1,3 tỷ đồng, giấy nhận
nợ này được các thành viên nhất trí định giá là 1,2 tỷ đồng (chiếm 24% vốn điều
lệ). Trung góp vốn bằng ngơi nhà của mình, giá trị thực tế vào thời điểm góp vốn
chỉ khoảng 700 triệu đồng, song do có quy hoạch mở rộng mặt đường, nhà của
Trung dự kiến sẽ ra mặt đường, do vậy các bên nhất trí định giá ngôi nhà này là
1,5 tỷ đồng (30% vốn điều lệ). Hải cam kết góp 1,5 tỷ đồng bằng tiền mặt (30%
vốn điều lệ), song mới tạm góp 500 triệu đồng, các bên thỏa thuận khi nào Công
ty cần Hải sẽ góp tiếp 1 tỷ đồng cịn lại. Các bên thơng qua bản điều lệ, quy định
Thành giữ chức giám đốc, Hải giữ chức Chủ tịch hội đồng thành viên. Người đại
diện theo pháp luật là Giám đốc công ty.
Sau một năm hoạt động, Cơng ty có lãi rịng là 800 triệu đồng, song bốn
thành viên không thống nhất ược cách phân chia lợi nhuận. Hải khởi kiện ra tòa
đòi hưởng 50% số lợi nhuận vì cho rằng phần vốn góp của mình chiếm 50% số
vốn thực tế của Cơng ty. Trên thực tế, Dương đã góp 800 triệu đồng bằng tiền
mặt; giá trị thực tế của nhà đất mà Trung đã góp khoảng 700 triệu đồng. Theo
tính tốn của Hải, việc góp vốn bằng giấy ghi nợ của Thành là bất hợp pháp, mặc
dù Công ty Thành Mỹ đã thanh tốn cho Thái Bình Dương khoảng 600 triệu
đồng trước khi lâm vào tình trạng vỡ nợ.
[Nguồn: Tổ cơng tác thi hành Luật Doanh nghiệp]
download by :
2.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
a.
Việc định giá ngôi nhà của Trung như thơng tin trong tình huống
này có phù hợp với pháp luật doanh nghiệp không? Tại sao?
b.
Bạn nhận xét như thế nào về việc góp vốn bằng “Giấy nhận nợ”?
Trong trường hợp công ty Thành Mỹ chỉ mới thanh tốn 600 triệu, liệu rằng
Thành có phải góp thêm 600 triệu còn lại trong cam kết 1,2 tỷ mà Thành đã cam
kết với cơng ty Thái Bình Dương hay khơng? Tại sao?
c.
Tư cách thành viên được xác lập từ thời điểm nào? Trong trường
hợp thành viên chỉ mới góp một phần vốn theo cam kết, việc biểu quyết và chia
lợi nhuận được xử lí như thế nào?
download by :
TÌNH HUỐNG SỐ
4:
CƠNG TY TNHH JS CONSULT
1. NỘI DUNG VỤ VIỆC
Năm 2014, ông Nguyễn Hải Triều, ông Lê Đông Du và ông Thái Vĩnh
Thắng cùng nhau thành lập Công ty TNHH JS Consult hoạt động trong lĩnh vực
tư vấn đầu tư. Công ty được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh với số vốn điều lệ là 250 triệu đồng. Trong đó, ơng
Nguyễn Hải Triều góp 74 triệu đồng, ơng Lê Đơng Du góp 75 triệu đồng và ơng
Thái Vĩnh Thắng góp 100 triệu đồng. Ơng Thái Vĩnh Thắng được bầu làm chủ
tịch HĐTV và là người đại diện theo pháp luật của Công ty, ông Lê Đông Du làm
Giám đốc.
Trong q trình hoạt động, giữa 3 ơng nảy sinh bất đồng trong việc điều
phối công việc và phân chia lợi nhuận. Từ giữa năm 2016, một mặt ông Lê Đông
Du vẫn làm các công việc liên quan đến Công ty nhưng đồng thời ông cũng nhận
khách hàng để tư vấn với danh nghĩa cá nhân của ông và nhận thù lao trực tiếp
từ khách hàng mà không thông qua Công ty. Ơng Nguyễn Hải Triều và Thái
Vĩnh Thắng biết có sự cạnh tranh trực tiếp giữa ông Lê Đông Du và Công ty, cho
nên ngày 27/10/2016 đã triệu tập cuộc họp HĐTV nhằm giải quyết vấn đề trên và
các vấn đề có liên quan. Tuy nhiên, ơng Lê Đơng Du không tham dự cuộc họp.
Hoạt động của Công ty ngày càng trì trệ vì mâu thuẫn giữa các thành viên.
Tháng 3/2017, ông Nguyễn Hải Triều triệu tập HĐTV nhưng không mời
ơng Nguyễn Đơng Du vì cho rằng có mời ơng này cũng không đi họp. Cuộc họp
được tiến hành vào ngày 17/03/2017. Kết quả, HĐTV ra nghị quyết khai trừ ông
Lê Đông Du ra khỏi Công ty với lý do làm mất đoàn kết nội bộ và cạnh tranh
trực tiếp với Công ty. Công ty quyết định sẽ mua lại phần vốn góp của ơng Lê
Đơng Du với giá là 150 triệu đồng.
download by :
[Nguồn: Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp]
2.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
a.
Việc ông Triều và ông Thắng tổ chức và tiến hành họp HĐTV mà
khơng mới ơng Du có phù hợp với quy định của pháp luật doanh nghiệp hay
không?
Nếu như ông Du không chấp nhận nội dung khai trừ mình, thì ơng có thể
sử dụng cách thức nào để bảo vệ mình trong trường hợp này?
b.
Theo bạn, hành vi nhận khách hàng của Công ty để tư vấn và nhận
thù lao trực tiếp từ khách hàng của ông Du có phát sinh hậu quả pháp lý gì
khơng? Cho nhận xét của mình và liên hệ tới thành viên hợp danh của công ty
HD.
c.
Pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên có đặt ra vấn đề
khai trừ thành viên công ty hay không? Liên hệ với vụ việc.
download by :
TÌNH HUỐNG SỐ
5:
1. NỘI DUNG VỤ VIỆC
Ơng Nguyen Steven Phong Hoang và bà Vũ Thị Lan Phương cùng góp
vốn thành lập Công ty TNHH Lập Phương Phong, mỗi bên sở hữu 50% phần
vốn góp. Bà Vũ Thị Lan Phương là Giám đốc, đồng thời là người đại diện theo
pháp luật của cơng ty. Ngày 28/02/2015 HĐTV cơng ty đã có cuộc họp thống nhất
công ty tạm ngừng hoạt động từ ngày 15/03/2015 đến ngày 15/03/2016 do hết thời
hạn hợp đồng thuê trụ sở công ty. Sau thời gian tạm ngưng hoạt động, ông
Nguyen Steven Phong Hoang yêu cầu công ty cho xem tồn bộ sổ sách giấy tờ
của cơng ty nhưng bà Vũ Thị Lan Phương không chấp nhận. Do đó, ơng Nguyen
Steven Phong Hoang đã khởi kiện u cầu cơng ty phải cung cấp tồn bộ hồ sơ,
sổ sách của công ty như: sổ đăng ký thành viên, sổ ghi chép và theo dõi các giao
dịch, sổ kế toán, báo cáo tài chính hàng năm, sổ biên bản họp HĐTV, các giấy tờ
và tài liệu khác có liên quan của công ty từ ngày công ty được thành lập.
Tại Tòa, bà Vũ Thị Lan Phương đưa ra nhiều lý do khác nhau để từ chối
yêu cầu của ông Nguyen Steven Phong Hoang: vụ kiện này không thuộc thẩm
quyền của Tịa án vì u cầu coi sổ sách giấy tờ của ông Nguyen Steven Phong
Hoang không phải là tranh chấp theo Bộ luật Tố tụng dân sự; Công ty không gây
ra thiệt hại cho ông Nguyen Steven Phong Hoang nên ông không thể khởi kiện
công ty hay ông Nguyen Steven Phong Hoang là Việt kiều Mỹ nhưng đã khởi
kiện vụ án trong điều kiện hết thời hạn cư trú tại Việt Nam, nội dung tranh chấp
không thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Trong Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm của Tịa án đều cho rằng lập
luận phía bị đơn nêu ra là không đúng với các quy định của pháp luật, nên
không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Trong thời gian tạm ngưng
hoạt động các thành viên của cơng ty có những điểm khơng thống nhất, nên
download by :
nguyên đơn yêu cầu được xem hồ sơ sổ sách công ty là hợp lý, đúng với quy
định của Luật Doanh nghiệp. Do đó, hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, y án sơ thẩm: Công ty TNHH Lập Phương Phong,
người đại diện là bà Vũ Thị Lan Phương có trách nhiệm giao cho ngun đơn
xem tồn bộ hồ sơ sổ sách của cơng ty.
[Vụ việc được biên soạn theo tình tiết của Bản án kinh tế phúc thẩm số
02/2012/KDTM-PT về tranh chấp liên quan đến quyền của thành viên công ty]
2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
a.
Trình bày các quyền liên quan đến tiếp cận thông tin của thành viên
công ty TNHH hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp? Ý nghĩa của
quyền này là gì?
b.
Cơ sở để bà Vũ Thị Lan Phương từ chối yêu cầu được thông tin của
ông Nguyen Steven Phong Hoang có phù hợp với quy định của Luật Doanh
nghiệp hay khơng?
TÌNH HUỐNG 6:
1.
NỘI DUNG VỤ VIỆC
Ngày 02/08/2014, ơng Q góp vốn làm thành viên của Cơng ty TNHH
Thành Tâm. Ngày 09/08/2014, ơng Q được bổ nhiệm làm phó giám đốc Công
ty TNHH Thành Tâm, phụ trách lĩnh vực xây dựng của công ty. Tham gia vào
Công ty TNHH Thành Tâm, các thành viên công ty đều thỏa thuận về phương
thức phân phối lợi nhuận như sau: Mỗi thành viên được phân công hoạt động trong
một lĩnh vực và phải tự lo toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Khi phát
sinh doanh số thì phải nộp tiền thuế qua Công ty và phải nộp vào quỹ của Công ty 1,5%
để sử dụng chi tiêu vào các hoạt động hành chính của Cơng ty. Lãi cịn lại thành viên đó
được hưởng, lỗ thì phải tự chịu.
download by :
TÌNH HUỐNG SỐ
Trong q trình cơng ty hoạt động, ơng Quý bị Tòa án quân sự Quân khu
I xử phạt hai năm tù về tội “Làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức”. Với lý do ông
Quý vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến uy tín của Cơng ty nên công ty tổ
chức họp HĐTV để ra nghị quyết chấm dứt tư cách thành viên Công ty của ông
Quý. Nội dung chấm dứt tư cách thành viên của ông Quý cũng thể hiện trong
quyết định số 18/QĐ-CT ngày 28/10/2017 của Giám đốc Cơng ty.
Do đó, ngày 25/8/2018 ơng Q đã khởi kiện ra tịa với u cầu:
Ơng góp vốn làm thành viên công ty Thành Tâm từ năm 2014. Ngày
28/10/2017, Giám đốc Công ty TNHH Thành Tâmra quyết định số 18/QĐ-CT
chấm dứt tư cách thành viên Công ty TNHH Thành Tâm của ông nên ông yêu
cầu:
-
Hủy bỏ quyết định số 18/QĐ-CT ngày 28/10/2017 của Giám đốc
Công
ty
TNHH
Thành Tâm của Giám đốc Cơng ty TNHH Thành Tâm, phục hồi tồn bộ quyền
lợi thành viên Công ty cho ông; bồi thường những thiệt hại về danh dự, nhân
phẩm, về thu nhập bị mất do Quyết định sai trái này gây ra;
còn
Buộc Giám đốc Cơng ty TNHH Thành Tâm phải thanh tốn số tiền
nợ
(gốc và lãi) trong cơng trình Malaysia và các Khoản nợ theo cam kết, cụ thể gồm:
126.000.000 đồng chi phí khai thác cơng trình Malaysia;
-
Chia lợi nhuận của Cơng ty cho các thành viên theo tỷ lệ vốn góp.
Tại tịa, ông Kim (Giám đốc công ty) đại diện cho công ty TNHH Thành
Tâm trình bày:
-
Về cơng trình Malaysia, cả ơng Kim và ơng Q đều có cơng khai
thác. Khi xong phần thủ tục ban đầu, chuẩn bị đến giai đoạn thi cơng thì ơng
Q bị bắt và bị Tịa án quân sự Quân khu I xử phạt hai năm tù về tội “Làm giả
download by :
tài liệu cơ quan, tổ chức”, thu lại thẻ thương binh. Do đây là lĩnh vực kinh doanh
của ông Quý, nên Công ty TNHH Thành Tâm đã ký hợp đồng với ông Nguyễn
Hữu Chừng (bố đẻ của ông Quý) để tiếp tục thi cơng đến hồn thiện cơng trình.
Năm 2004, giữa Công ty TNHH Thành Tâm và ông Chừng đã quyết tốn xong.
Tổng giá trị cơng trình là 882.000.000 đồng, phần chi phí của ơng Chừng kê khai
và đã lĩnh là 678.000.000 đồng, phần ơng Kim chi phí là 187.662.000 đồng. Ngoài
phần nộp thuế cho Nhà nước và nộp cho Cơng ty 1,5%, số lãi cịn lại giữa ơng
Chừng và ông Kim đã thanh toán xong, không phát sinh ý kiến gì. Việc ơng Q
địi số tiền chi phí khai thác 126.000.000 đồng là khơng có căn cứ, nếu ơng Q
xuất trình được chứng từ hơp lệ thì Cơng ty sẽ thanh tốn đầy đủ.
-
Về việc ơng Q địi chia lợi nhuận của Công ty, đây là yêu cầu trái
với quy định của Công ty TNHH Thành Tâm. Theo quy định này thì ở Cơng ty
TNHH Thành Tâm mỗi người hoạt động kinh doanh độc lập trên một lĩnh vực
và tự hạch toán lỗ lãi – lời ăn, lỗ chịu chỉ phải đóng thuế qua Cơng ty và phải
nộp cho Công ty 1,5% tổng giá trị hợp đồng để chi phí hành chính, số tiền này là
rất nhỏ. Vì vậy, Cơng ty TNHH Thành Tâm chưa bao giờ có việc chia lợi nhuận
cho các thành viên.
download by :
-
Do ông Quý vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến uy tín của Cơng
ty nên tất cả các thành viên Cơng ty đã nhất trí ra nghị quyết và Giám đốc Công
ty đã ra quyết định số 18/QĐ-CT ngày 28/10/2017 chấm dứt tư cách thành viên
Công ty của ông Quý.
[Vụ việc được biên soạn theo tình tiết của Quyết định Giám đốc thẩm số
12/2008/KDTM-GĐT ngày 29/8/2008 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao V/v “Tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty”]
2.
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
a.
Hãy cho biết ý kiến của bạn về việc HĐTV và Giám đốc Công ty
TNHH Thành Tâm ra nghị quyết có nội dung chấm dứt tư cách thành viên của
ơng Q?
b.
Trình bày ngun tắc phân chia lợi nhuận trong cơng ty TNHH hai
thành viên trở lên?
Bình luận về thỏa thuận: “Mỗi thành viên được phân công hoạt động trong
một lĩnh vực và phải tự lo toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Khi phát
sinh doanh số thì phải nộp tiền thuế qua Cơng ty và phải nộp vào quỹ của Công ty 1,5%
để sử dụng chi tiêu vào các hoạt động hành chính của Cơng ty. Lãi cịn lại thành viên đó
được hưởng, lỗ thì phải tự chịu”.
TÌNH HUỐNG SỐ 7:
1.
NỘI DUNG VỤ VIỆC
Cơng ty TNHH D được thành lập và hoạt động theo Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh số 0401471951 (đăng ký lần đầu ngày 18/01/2012), có 8 thành
viên với số vốn điều lệ là 10 tỷ đồng, cụ thể:
o
Cơng ty XNK ĐN góp 8,3 tỉ đồng, chiếm tỉ lệ 83% vốn điều
download by :
lệ;
o
Ơng Nguyễn Văn K góp 550 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 5,5%
vốn điều lệ; o Ơng Đặng Ngọc C góp 250 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 2,5% vốn
điều lệ;
o
Ông Trần Văn T góp 150 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 1,5% vốn
o
Ơng Nguyễn Văn L góp 200 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 2% vốn
o
Ơng Nguyễn Quang A góp 150 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 1,5%
điều lệ;
điều lệ;
vốn điều lệ;
o
Bà Nguyễn Thị T góp 100 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 1% vốn
o
Bà Trần Thị Mai P góp 300 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 3% vốn
điều lệ;
điều lệ.
Ông Trần P (người đại diện phần vốn góp cho Cơng ty XNK ĐN tại Cơng
ty TNHH D) được bầu làm chủ tịch HĐTV, ông này cũng là người đại diện theo
pháp luật của Công ty. Ông Nguyễn Văn K giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng
thành viên.
Tháng 1/2014, Công ty TNHH D chủ trương tăng vốn điều lệ từ 10 tỷ
đồng lên 16 tỷ đồng với u cầu: “để được góp thêm vốn vào Cơng ty TNHH D thì
thành viên phải mua cổ phần từ cổ đông của Công ty XNK ĐN; người mua một cổ phần
của Cơng ty XNK ĐN thì được góp thêm vốn vào Công ty TNHH D là 5000 đồng”.
Ngày 22/8/2014, Hội đồng thành viên Công ty TNHH D tổ chức họp do
ông Trần P- Chủ tịch Hội đồng thành viên chủ trì. Cuộc họp thống nhất giảm
download by :
vốn điều lệ từ 10 tỷ xuống 2,9 tỷ, giảm số thành viên từ 8 xuống còn 2 thành viên,
cụ thể: Cơng ty XNK ĐN góp 2,6 tỷ; bà Trần Thị Mai P góp 300 triệu và đã được
Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh Công ty TNHH hai thành viên ngày 04/09/2014.
Ngày 22/10/2014, Công ty TNHH D tiếp tục tổ chức họp Hội đồng thành
viên (lúc này chỉ có 2 thành viên) và bà P chuyển nhượng phần vốn của Bà tại
Công ty TNHH D cho Công ty XNK ĐN, nên Cơng ty TNHH D chuyển đổi loại
hình hoạt động thành công ty TNHH một thành viên theo Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh đăng ký lần 3 ngày 03/11/2014 với chủ sở hữu là Công ty XNK
ĐN.
Với những xáo trộn như vậy, ông Nguyễn Văn K đã nộp đơn khởi kiện ra
tịa án với lý do:
Khi cơng ty có chủ trương tăng vốn điều lệ, Ơng K đã bỏ tiền mua 97.500
cổ phần của 74 cổ đông của Công ty XNK ĐN, mệnh giá 5.000đ/01 cổ phần,
thành tiền là (97.500 CP x 5.000đ/01 CP) = 487.500.000.000 đồng (có hợp đồng
kèm theo); cộng với 8.100 cổ phần ông K đã có từ trước tại Cơng ty XNK ĐN,
thành 105.600 cổ phần. Vì có 105.600 cổ phần tại Cơng ty XNK ĐN nên ơng K
được quyền góp thêm 528.000.000đ (105.600 cổ phần x 5.000đ/cổ phần) vào Công
ty TNHH D. Ngày 28/4/2016, ơng K đã góp 238.000.000 đồng. Ngày 29/4/2014
ơng K góp 75.000.000 đồng (tất cả đều có phiếu thu của Công ty TNHH
D). Tuy nhiên, Công ty TNHH D không cấp giấy chứng nhận phần góp vốn đối
với số vốn góp này cho ơng K.
Cuộc họp Hội đồng thành viên Công ty TNHH D vào ngày 30/7/2014 và
ngày 22/8/2014, các thành viên là cá nhân (trừ bà Trần Thị Mai P) đã thống nhất
rút số vốn đã góp vào Cơng ty TNHH D nên Công ty TNHH MTV D đã ban
hành văn bản số 23-16/CV ngày 19/8/2016 thông báo trả lại phần vốn góp cho các
download by :
thành viên đã góp vốn ban đầu, trong đó có ông Nguyễn Văn K là 550.000.000
đồng. Như vậy, mặc dù ông K không rút vốn khỏi Công ty TNHH D, nhưng từ
ngày 04/09/2014 ông K đã bị tước tư cách thành viên Cơng ty và số vốn góp của
ơng K bị Công ty chiếm đoạt để kinh doanh, nay ông K u cầu Cơng ty TNHH
D hồn trả cho ơng số vốn đã góp vào cơng ty (1.078.000.000 đồng).
Tại tịa, Đại diện Cơng ty TNHH D trình bày:
Về khoản tiền 550.000.000 đồng, ơng K góp vốn tại Cơng ty TNHH D thì
Cơng ty đã cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp này cho ơng K, nay Cơng ty
đồng ý hồn trả số tiền này cho ơng K.
Về số tiền góp vốn thêm 528.000.000đ thì tháng 1/2014, Cơng ty TNHH D
có chủ trương tăng vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng lên 16 tỷ đồng, nên ơng K có góp
vốn thêm vào Công ty TNHH D với số tiền 528.000.000đ như ông K trình bày là
đúng. Tuy nhiên, sau khi ông K góp vốn thêm 528.000.000đ thì Cơng ty TNHH D
khơng có nhu cầu sử dụng nguồn vốn góp thêm này, nên đã có Cơng văn
số 4214/CV ngày 20/10/2014 gửi Hội đồng thành viên Công ty TNHH D thông
báo trả số tiền các thành viên góp vốn thêm, trong đó trả lại ơng K số tiền đã góp
thêm 528.000.000đ. Ngày 22/10/2014, Hội đồng thành viên Công ty TNHH D họp,
thống nhất trả số tiền trên cho các thành viên. Sau đó, ngày 23/10/2014 bà Trần
Thị Mai P - Giám đốc Công ty TNHH D có gọi điện cho ơng K đề nghị trả lại số
tiền mà ơng K đã góp vốn thêm, nhưng ông K không đồng ý nhận lại, nên Công
ty TNHH D đã gửi vào tài khoản tiết kiệm của Công ty tại Vietcombank Đà
Nẵng. Công ty TNHH D sẽ làm thủ tục để ông K đến Vietcombank Đà Nẵng rút
số tiền này bất kỳ lúc nào.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ
tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tịa thì hội đồng xét xử có
các nhận định sau:
download by :
Việc ông K mua lại 97.500 cổ phần của 74 cổ đơng Cơng ty XNK ĐN, ơng
Nguyễn Văn K cịn có 8.100 cổ phần tại Cơng ty XNK ĐN nên tổng số cổ phần
ơng K có là 105.600 cổ phần. Vì vậy, ơng Nguyễn Văn K góp vào Cơng ty TNHH
D số tiền là 528.000.000 đồng (105.600 cổ phần X 5.000 đồng/ 01 cổ phần) theo các
chứng từ nộp tiền ngày 28/2/2014 (238.000.000 đồng); ngày 29/4/2014 (146.000.000
đồng); ngày 29/4/2014 (69.500.000 đồng) và ngày 29/5/2014 (74.500.000 đồng).
Theo quy định của Luật doanh nghiệp thì tại thời điểm góp đủ giá trị
phần vốn góp, thành viên được cơng ty cấp giấy chứng nhận phần vốn góp. Như
vậy, ngày 29/5/2014, ơng Nguyễn Văn K phải được cấp giấy chứng nhận phần
vốn góp 528.000.000 đồng và ơng K có các quyền của thành viên đối với phần
vốn góp này theo quy định. Đồng thời, Công ty TNHH D phải đăng ký việc tăng
vốn điều lệ với cơ quan đăng ký kinh doanh theo như nội dung của phương án
tăng vốn và thông báo phát hành tăng vốn điều lệ số 10-14/TB/C.T của Công ty
TNHH D.
Công ty TNHH D đã không thực hiện việc cấp giấy chứng nhận vốn góp,
khơng cho ơng K thực hiện các quyền của thành viên góp vốn và đăng ký tăng
vốn theo quy định của pháp luật mà còn tiến hành tổ chức các cuộc họp HĐTV
khơng có sự tham gia của ông K vào ngày 31/7/2014, ngày 22/8/2014 để giảm vốn
điều lệ từ 10 tỷ đồng xuống còn 2,9 tỷ đồng, bằng phương thức: Cơng ty XNK
ĐN rút tồn bộ giá trị vốn góp tại Cơng ty TNHH D là 5.746.665.964 đồng và trả
lại tồn bộ vốn góp ban đầu cho các thành viên là cá nhân (trừ bà Trần Thị Mai
P) và đăng ký kinh doanh lại lần thứ 2 vào ngày 04/9/2014, với 02 thành viên góp
vốn là Công ty XNK ĐN (2.600.000.000đồng) và bà Trần Thị Mai P (300.000.000
đồng).
Việc giảm vốn điều lệ nêu trên của của Công ty TNHH D là trái với quy
định của pháp luật và Điều lệ Công ty TNHH D. Bên cạnh đó, tại biên bản họp
Hội đồng thành viên ngày 22/8/2014 (Quyết định việc giảm vốn điều lệ) ông Trần
download by :
P- Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH D và cũng là đại diện Công ty
XNK ĐN xác định các thành viên góp vốn có quyền khơng rút vốn đã góp. Ơng
Nguyễn Văn K khơng rút vốn, khơng có u cầu Cơng ty TNHH D mua lại phần
vốn góp và cũng khơng chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác
theo quy định của Luật doanh nghiệp thì ơng K đương nhiên vẫn là thành viên
của Cơng ty TNHH D nhưng Công ty TNHH D đăng ký kinh doanh lại lần thứ 2
vào ngày 04/9/2014 đã không đăng ký tên thành viên Nguyễn Văn K với số vốn
góp 1.078.000.000 đồng, là trái với quy định của pháp luật doanh nghiệp.
Số tiền góp vốn năm 2014 theo phương án tăng vốn điều lệ là 528.000.000
đồng: Công ty TNHH D cho rằng sau khi ơng K nộp tiền thì Cơng ty TNHH D
khơng có nhu cầu sử dụng nên Công ty đã thông báo trả lại cho ông K nhưng
ơng K khơng chịu nhận lại tiền. Vì vậy, Cơng ty TNHH D đã gửi số tiền của ông
K vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Vietcombank- Chi nhánh Đà
Nẵng: lập luận của Công ty TNHH D khơng được chấp nhận vì ơng K cho rằng
khơng nhận được thơng báo và Cơng ty TNHH D khơng có chứng cứ chứng
minh việc ông K đã nhận được thông báo trả lại số tiền này. Bên cạnh đó, xác
nhận số dư tài khoản của Công ty TNHH D của Ngân hàng Vietcombank- Chi
nhánh Đà Nẵng ngày 21/7/2016 không thể hiện đây là số tiền vốn góp của ơng K.
Mặt khác, theo phương án tăng vốn điều lệ của Công ty TNHH D thì mục đích
của việc tăng vốn điều lệ nhằm mở rộng nhà kho và phân xưởng sản xuất tại khu
CN Hòa Cầm. Việc mở rộng nhà kho và phân xưởng sản xuất này đã được báo
cáo kiểm toán năm 2014 xác nhận; được cuộc họp Hội đồng thành viên Công ty
TNHH D ngày 22/10/2014 ghi nhận và được ơng Trần P khai nhận tại đơn trình
bày ngày 13/01/2016: “Hiện tại theo phương án trên Công ty đã tiến hành xây
dựng kho số 2 với diện tích 2300m2 tại khu cơng nghiệp Hịa Cầm với tổng giá trị
4.455.104.083 đồng nhưng vẫn cịn nợ chủ thầu thanh tốn 885.228.810 đồng”.
download by :
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện của bị đơn cũng thừa nhận số tiền mà ông
K đã nộp theo phương án tăng vốn điều lệ 528.000.000 đồng đã được đầu tư xây
dựng nhà xưởng, nhà kho của công ty nên có cơ sở xác định số tiền 528.000.000
đồng mà ông K đã góp vào theo phương án tăng vốn điều lệ của Công ty TNHH
D đã được Công ty TNHH D sử dụng.
Với những phân tích nêu trên, nếu Công ty TNHH D xác định ông
Nguyễn Văn K không cịn là thành viên thì Cơng ty TNHH D phải thực hiện
nghĩa vụ trả tiền góp vốn 1.078.000.000 đồng cho ông K kể từ ngày ông K không
còn là thành viên (Ngày 04/9/2014) nhưng Công ty TNHH D dùng số tiền góp
vốn của ơng K vào việc sản xuất kinh doanh. Do đó, số tiền 1.078.000.000 đồng
được xem là khoản nợ của Công ty TNHH D đối với ông K và Tịa án cấp sơ
thẩm đã buộc Cơng ty TNHH D phải trả lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân
hàng nhà nước công bố kể từ ngày 04/9/2014 đến ngày xét xử sơ thẩm theo yêu
cầu của ông K là đúng quy định của Bộ luật Dân sự.
[Bản án số 20/2017/KDTM-PT ngày 02/6/2017 của Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng V/v “Tranh chấp về phần vốn góp, phân chia lợi nhuận và bồi
thường thiệt hại từ việc góp vốn vào cơng ty]
2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
a.
Việc công ty TNHH D yêu cầu thành viên “mua cổ phần từ cổ đông
của Công ty XNK ĐN” để làm điều kiện góp thêm vốn điều lệ vào cơng ty có
phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp khơng?
b.
Đánh giá tính hợp pháp của cuộc họp ngày 22/8/2014 và ngày
22/10/2014 của HĐTV Công ty TNHH D?
c.
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có được phép hồn lại vốn góp
cho thành viên cơng ty khơng? Liên hệ tới vụ việc.
download by :
download by :
TÌNH HUỐNG SỐ 8:
1.
NỘI DUNG VỤ VIỆC
Ngày 21/4/2015, ơng Nam và bà Anh ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh
nhằm thành lập Công ty Cổ phần Đầu tư Thẩm mỹ Xn Trường (Cơng ty Xn
Trường), theo đó, bà Anh góp vốn bằng căn nhà thuộc sở hữu của mình, cịn ơng
Nam góp tiền sửa chữa mặt bằng, đầu tư trang thiết bị và các chi phí khác phục
vụ cho việc thành lập thành lập công ty. Điều 6 Hợp đồng hợp tác kinh doanh có
thỏa thuận: “trường hợp ơng Nam tự ý ngưng hợp đồng trước thời hạn thì toàn bộ
trang thiết bị đã đầu tư sẽ thuộc quyền sở hữu của bà Anh kèm 50.000 USD tiền mặt.
Trường hợp bà Anh tự ý ngưng hợp đồng trước thời hạn thì tồn bộ trang thiết bị đã
đầu tư sẽ thuộc quyền sở hữu của ông Nam kèm 50.000 USD”.
Ngày 10/5/2015, Công ty Xuân Trường được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh với ngành, nghề kinh doanh là mua bán mỹ phẩm, trang thiết bị y
tế dụng cụ thẩm mỹ.
Công ty gồm 5 cổ đông sáng lập với số cổ phần như sau:
Bà Anh sở hữu 5000 cổ phần;
Ông Nam sở hữu 2000 cổ phần;
Bà Nguyệt, bà Cúc và bà Hồng mỗi người sở hữu 1000 cổ phần.
Tuy nhiên, bà Nguyệt, bà Cúc và bà Hồng thực chất không góp vốn mà
chỉ đứng tên trong hồ sơ, giấy tờ để hợp thức hóa thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
Các ông bà này không được phân chia lợi nhuận. Lợi nhuận của cơng ty sau khi
trừ đi chi phí hoạt động sẽ được chia đều cho bà Anh và ông Nam (mỗi người
50%).
Trong q trình hoạt động, Cơng ty Xn Trường có cung ứng dịch vụ
phẫu thuật thẩm mỹ cho khách hàng. Do chưa đáp ứng được điều kiện tiến hành
download by :
hoạt động phẩu thuật thẩm mỹ nên công ty đã bị thanh tra Sở Y tế thành phố Hồ
Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính.
Tháng 7/2015, bà Anh tự ý đóng cửa cơng ty và tự ý cất giấu tồn bộ hồ sơ
giấy tờ, con dấu và khóa cửa khơng cho nhân viên vào làm việc. Sau đó, Ơng
Nam đã khởi kiện ra tịa án.
Tại phiên tịa, ơng Nam trình bày:
Bà Anh đã vi phạm hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày
21/4/2015, gây ra thiệt hại cho ông. Nay yêu cầu bà Anh phải trả cho ông
800.000.000 đồng tiền phạt vi phạm hợp đồng (tương ứng với 50.000 USD)
theo thỏa thuận tại Điều 6 của hợp đồng. Ngoài ra, phải trả lại cho ông
404.788.960 đồng, là số tiền mà ông đã đầu tư vào việc mua trang thiết bị
phục vụ cho hoạt động của Công ty, như: sơn sửa nhà, lắp đặt nhơm và
kiếng, mỹ phẩm, bình chữa cháy…
Phía bị đơn là bà Anh trình bày:
Vì tin tưởng vào bằng cấp chuyên môn về phẫu thuật thẩm mỹ nên
Bà đã ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với ông Nam để thành lập Công ty Xuân
Trường. Tuy nhiên, do ông Nam không đưa ra được văn bản chứng minh về
chuyên môn nghiệp vụ nên chưa được cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề
này.
Trong quá trình hoạt động, một khách hàng có khiếu nại về chất
lượng các ca phẩu thuật do ơng Nam thực hiện thì ơng Nam đã thừa nhận khơng
có bằng cấp chun mơn và đề nghị sẽ th bác sĩ có chun mơn để tiếp tục
hoạt động kinh doanh của cơng ty. Do đó, theo bà Anh thì ơng Nam đã lừa dối
khi ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh.
download by :