Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Đánh giá hiệu quả điều trị đau thần kinh vai gáy do thoái hóa cột sống cổ thể phong hàn thấp bằng phương pháp điện chân xoa bóp bấm huyệt tại Bệnh viện Đa khoa Mai Sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.65 MB, 71 trang )

SỞ Y TẾ SƠN LA
BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN MAI SƠN

HOÀNG THỊ THÚY VÂN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN
KINH VAI GÁY DO THỐI HĨA CỘT SỐNG
CỔ THỂ PHONG HÀN THẤP BẰNG PHƯƠNG
PHÁP ĐIỆN CHÂM – XOA BÓP BẤM HUYỆT
KHOA YHCT-PHCN BVĐK MAI SƠN TỪ
THÁNG 01/2021 – 09/2021

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Mai Sơn, Năm 2021

1


SỞ Y TẾ SƠN LA
BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN MAI SƠN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN
KINH VAI GÁY DO THỐI HĨA CỘT SỐNG
CỔ THỂ PHONG HÀN THẤP BẰNG PHƯƠNG
PHÁP ĐIỆN CHÂM – XOA BÓP BẤM HUYỆT
KHOA YHCT-PHCN BVĐK MAI SƠN TỪ
THÁNG 01/2021 – 09/2021

Chủ nhiệm đề tài:

BS,CKI : Hoàng Thị Thúy Vân



Cộng sự:

ĐD: Phạm Tuyết Nhung
BS: Lương Nguyễn Minh Đức
KVT: Nguyễn Thị Loan
KTV: Dương Quỳnh Châu

Mai Sơn, Năm 2021

2


CHỮ VIẾT TẮT
BV

:

Bệnh viện

Cs

:

Cộng sự

HIV/AIDS

:


Human immunodeficiency virus
(Virus suy giảm miễn dịch ở người)
Acquired ImmunoDeficiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)

MRI

:

Magnetic Resonance Imaging (Chụp cộng hưởng
từ)

PHCN

:

Phục hồi chức năng

NPQ

:

Northwick Pack Neck Pain Questionaire
(Bộ câu hỏi mức độ ảnh hưởng tới chức năng sinh
hoạt)

NNC

:


Nhóm nghiên cứu

NĐC

:

Nhóm đối chứng

LS

:

Lâm sàng

THCSC

:

Thối hóa cột sống cổ

TVĐĐ

:

Thốt vị đĩa đệm

VAS

:


Visual Analogue Scale

XBBH

:

Xoa bóp bấm huyệt

YHCT

:

Y học cổ truyền

YHHĐ

:

Y học hiện đại

3


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Tầm vận động bình thường của cột sống cổ ................................... 7
Hình 1. 2 - Hình 1. 3: Hình ảnh THCSC trên film X-quang............................ 8
Hình 1.4: Các huyệt sử dụng trong nghiên cứu ........................................... 62

4



DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại mức độ đau theo thang điểm VAS ................................ 24
Bảng 2.2: Tầm vận động cột sống cổ sinh lý và bệnh lý [39] ........................ 25
Bảng 2.3: Phân loại mức độ hạn chế tầm vận động....................................... 26
Bảng 2.4: Phân loại mức độ ảnh hưởng tới chức năng sinh hoạt ................... 26
Bảng 2.5: Đánh giá mức độ bệnh ................................................................. 27
Bảng 1.1: Các huyệt sử dụng trong nghiên cứu ............................................ 61

5


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ......................................................... 3
1.1. QUAN NIỆM VỀ ĐAU VAI GÁY…….................................................3
1.2. QUAN NIỆM VỀ ĐAU VAI GÁY DO THỐI HĨA CỘT SỐNG CỔ
THEO YHHĐ ............................................................................................. 6
1.3. QUAN NIỆM VỀ ĐAU VAI GÁY THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN ..... 10
1.4. ĐIỆN CHÂM VÀ XOA BĨP BẤM HUYỆT ..................................... 13
1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐAU VAI GÁY DO THỐI HĨA ĐỐT
SỐNG CỔ ................................................................................................ 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............ 21
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ........................................................... 21
2.2. CHẤT LIỆU NGHIÊN CỨU ............................................................ 21
2.3. PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU ...................................................... 22
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................... 22
2.5. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU .................................................. 28
2.7. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU .................................................. 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 30

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU .................... 30
3.2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ............................................................................. 34
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ........................................................................... 42
4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN ....................................... 42
4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG TRƯỚC ĐIỀU TRỊ43
4.3. HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ ...................................................................... 46
4.4. TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN ............................................. 52
KẾT LUẬN .................................................................................................. 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU
6


ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau vai gáy là tình trạng đau cấp hoặc mạn tính tại cột sống cổ (có thể có
lan) thường xuất hiện sau một động tác đột ngột, sai tư thế của cột sống cổ, sau
khi thay đổi thời tiết hoặc xuất hiện kín đáo, thường đi kèm với co cứng cơ và
hạn chế vận động. Nguyên nhân gây đau vai gáy có nhiều nhưng thường gặp
nhất là do thối hóa cột sống cổ.
Thối hóa cột sống cổ chiếm 14% trong các bệnh thối hóa khớp và
đứng hàng thứ 2 sau thối hóa cột sống thắt lưng (31%). Thối hóa khớp (hư
khớp) là tình trạng thối triển của khớp, xảy ra chủ yếu ở người nhiều tuổi.
Bệnh đặc trưng bởi các rối loạn về cấu trúc và chức năng của một hoặc nhiều
khớp (và cột sống). Tổn thương cơ bản của bệnh chủ yếu là tình trạng thối hóa
của sụn khớp, đĩa đệm (ở cột sống) kèm theo những thay đổi ở phần xương
dưới sụn và màng hoạt dịch. Ngun nhân chính của q trình lão hóa là tình
trạng chịu áp lực quá tải và kéo dài của sụn khớp (và đĩa đệm), Biểu hiện lâm
sàng của Thối hóa cột sống cổ rất đa dạng. Đau vai gáy là triệu chứng rất
thường gặp và là một trong những nguyên nhân chính khiến bệnh nhân khó
chịu phải đi khám.

Hiện nay, điều trị Thối hóa đốt sống cổ chủ yếu là điều trị nội khoa kết
hợp phục hồi chức năng và vật lý trị liệu. Y học hiện đại (YHHĐ) chủ yếu sử
dụng các nhóm thuốc chống viêm giảm đau, thuốc giãn cơ; kết hợp với chiếu
tia hồng ngoại, sóng siêu âm, sóng điện từ, kéo giãn cột sống cổ,… để điều
trị. Việc điều trị phẫu thuật được cân nhắc khi điều trị nội khoa khơng có kết
quả hoặc chèn ép thần kinh nhiều thể hiện trên lâm sàng và chẩn đốn hình
ảnh .
Theo y học cổ truyền (YHCT), đau vai gáy nằm trong phạm vi của
chứng tý và có bệnh danh là lạc chẩm. Tý là sự bế tắc kinh mạch, khí huyết.
Điều trị chứng tý theo YHCT bao gồm khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông
kinh hoạt lạc, bổ can thận nhằm khôi phục lại sự thăng bằng âm dương, phù
1


chính khu tà, giảm đau và khơi phục lại hoạt động sinh lý bình thường của
vùng cổ gáy. Dựa trên pháp điều trị đó, có thể lựa chọn trong rất nhiều
phương pháp điều trị thuộc 2 nhóm dùng thuốc và không dùng thuốc. Các
biện pháp không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt (XBBH), cấy
chỉ, giác hơi,… thường được sử dụng đơn thuần hay phối hợp với nhau và
mang lại hiệu quả điều trị .
Tại Bệnh viện Đa khoa Mai Sơn, số lượng bệnh nhân điều trị nội trú do
đau vai gáy bằng điện châm, XBBH ngày càng tăng và có hiệu quả rõ rệt. Vì
vậy chúng tơi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả điều trị đau
thần kinh vai gáy do thối hóa cột sống cổ thể phong hàn thấp bằng
phương pháp điện chân xoa bóp bấm huyệt tại Bệnh viện Đa khoa Mai
Sơn” nhằm mục tiêu:
“Đánh giá hiệu quả điều trị đau vai gáy do thoái hoá cột sống cổ thể
phong hàn thấp bằng phương pháp điện châm –xoa bóp bấm huyệt”.
“Tác dụng không mong muốn của điện châm


2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. QUAN NIỆM VỀ ĐAU VAI GÁY
1.1.1. Khái niệm
Đau vai gáy là tình trạng bệnh lý thường xảy ra đột ngột hoặc kéo dài
do co cứng các cơ thang, cơ ức đòn chũm sau khi gặp lạnh hoặc sau khi gánh
vác nặng, do tư thế .
Bệnh thường đột ngột, sau một đêm ngủ dậy bỗng thấy thấy đau nhức
khắp mình, đặc biệt là đau tê vùng vai, gáy, nhiều khi đau lan xuống vai, làm
tê mỏi các cánh tay, cẳng tay và ngón tay. Kèm theo có hạn chế vận động cột
sống cổ (các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay). Triệu chứng này có thể
trong nhiều ngày thậm chí trong nhiều tháng. Hội chứng đau vai gáy thơng
thường khơng nguy hiểm, song có thể gây ra nhiều lo lắng, khó chịu, mệt mỏi
cho người bệnh, làm giảm sút sức lao động và chất lượng cuộc sống.
1.1.2. Nguyên nhân
Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến hội chứng đau vai gáy. Các
nguyên nhân thông thường nhất có thể kể đến như ngồi làm việc sai tư thế
trong thời gian dài, ngồi làm việc liên tục với máy tính, sai tư thế khi lái xe,
gối đầu, nằm ngủ tựa đầu lên ghế, nằm xem tivi,…
Ngồi trước quạt, máy lạnh (máy điều hoà) lâu, dầm mưa dãi nắng lâu,
ra ngồi trời khơng đội mũ, nón để ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào vùng
gáy, tắm rửa ban đêm,... làm giảm sự cung cấp oxy cho các tế bào cơ, gây
thiếu máu cục bộ ở các cơ dẫn đến hội chứng đau vai gáy.
Ngoài ra, hội chứng đau vai gáy cịn có thể do các ngun nhân bệnh lý
như: thối hóa cột sống cổ, thốt vị đĩa đệm cột sống cổ, vẹo cổ bẩm sinh, dị
tật, viêm, chấn thương vùng cổ. Đơi khi có những trường hợp hội chứng đau
vai gáy xuất hiện tự phát mà khơng có nguyên nhân rõ rệt.
Người hay nằm nghiêng, co quắp, khi cơ thể yếu mệt, tốc độ hoạt động

của hệ tuần hồn giảm, việc lưu thơng máu và trao đổi oxy trong cơ thể giảm
cũng sẽ dễ bị đau nhức khi ngủ dậy.

3


Thông thường, từ tuổi trung niên trở đi, hệ mạch máu đã giảm tính dẻo
dai, đàn hồi nên hay mắc chứng đau cổ, vai, gáy nhất.
1.1.3. Chẩn đoán
1.1.3.1.

Triệu chứng lâm sàng

 Triệu chứng cơ năng:
Các biểu hiện của hội chứng đau vai gáy thường gặp nhất là đau âm ỉ
hoặc dữ dội ở vùng cổ, gáy, cảm giác nhức nhối khó chịu, có khi đau nhói
như điện giật. Đau có thể lan lên mang tai, thái dương hoặc lan xuống vai,
cánh tay.
Tính chất đau: Đau có thể xuất hiện tự phát hoặc sau khi lao động
nặng, mệt mỏi, căng thẳng, nhiễm lạnh. Đau có thể cấp tính (xuất hiện đột
ngột) hoặc mãn tính (âm ỉ, kéo dài). Đau thường có tính chất cơ học: tăng khi
đứng, đi, ngồi lâu, ho, hắt hơi, vận động cột sống cổ; giảm khi nghỉ ngơi. Đau
cũng có thể tăng khi thời tiết thay đổi. Nhiều trường hợp tình trạng đau vai
gáy kéo dài dẫn đến người bệnh luôn cảm thấy vô cùng mệt mỏi, khó chịu,
khơng tập trung, tư duy kém,... ảnh hưởng lớn tới tinh thần và hiệu quả lao
động.
 Khám thực thể:
Có thể thấy có khối cơ thang, cơ ức địn chũm co cứng, có thể một bên
hoặc cả hai bên. Một số trường hợp có thể kèm theo, tê ở cánh tay, cẳng tay,
bàn ngón tay. Có thể có các điểm đau khi ấn vào các gai sau và cạnh cột sống

cổ kèm hạn chế vận động cột sống cổ.
Nếu do viêm nhiễm: Đau và hạn chế vận động vùng vai gáy, nhìn cột
sống cổ và xung quanh sưng đỏ, sờ nóng, bệnh nhân có sốt, có hội chứng nhiễm
trùng.
1.1.3.2.

Các xét nghiệm cận lâm sàng

- Xét nghiệm huyết học, sinh hóa
- X – quang cột sống cổ (các tư thế thẳng, nghiêng và chếch ¾)
- Chụp cắt lớp vi tính (CT scaner), chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống
cổ.
- Đo điện cơ, đo lỗng xương
1.1.3.3.

Chẩn đốn ngun nhân:
4




-

Cấp tính:
Đau vai gáy cấp đơn thuần do sai tư thế.
Viêm nhiễm, chấn thương vùng cổ.
Do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ.
Mạn tính :
Thối hóa cột sống cổ, thốt vị đĩa đệm cột sống cổ.
Vẹo cổ bẩm sinh, dị tật.

Bệnh nghề nghiệp: Do tư thế làm việc.

1.1.4. Điều trị
1.1.4.1. Nguyên tắc điều trị
 Giảm đau, giãn cơ
Nếu chỉ bị nhẹ, cơn đau không kéo dài, bản thân người bệnh có thể tự
điều trị bớt đau bằng cách dùng hai bàn tay xoa bóp, gõ, vuốt cho vùng cổ,
vai, gáy nhiều lần có thể giảm đau.
Các thuốc thường dùng trong điều trị hội chứng đau vai gáy bao gồm
thuốc giảm đau chống viêm, phong bế thần kinh, giãn cơ và vitamin nhóm B.
 Phục hồi chức năng
Ngồi ra, các phương pháp vật lý trị liệu như nhiệt trị liệu, điện xung,
sóng ngắn, siêu âm trị liệu, kéo dãn cột sống cổ, xoa bóp bấm huyệt, tập vận
động cột sống cổ cũng giúp ích rất nhiều cho việc điều trị. Tuy nhiên nếu do
ngun nhân viêm nhiễm khơng nên xoa bóp.
 Điều trị nguyên nhân: Một số trường hợp người bệnh cần được điều
trị bằng phẫu thuật: thoát vị đĩa đệm, trượt đốt sống, vẹo cột sống,...
1.1.4.2. Điều trị cụ thể
 Thuốc giảm đau:
Tuỳ mức độ đau, có thể dùng đơn thuần hoặc phối hợp các thuốc sau:
- Thuốc giảm đau thông thường: Hapacol đau nhức (Efferalgan,
Panadol,…): viên 0,5 – 0,65g x 2 – 4 viên /24h.
- Paracetamol kết hợp với codein hoặc tramadol (Efferalgan – codein,
Ultracet): liều 2 – 4 viên /24h.
- Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID): diclofenac 75 –
150mg/ngày; meloxicam 7,5 – 15mg/ngày; celecoxib 100 – 200mg/ngày. Nếu
có nguy cơ tiêu hố có thể dùng phối hợp với nhóm ức chế bơm proton
(Esomeprazole 20 – 40mg/ngày,…)
5



 Thuốc giãn cơ:
- Thường dùng trong đợt đau cấp hoặc có tình trạng co cứng cơ.
- Các thuốc thường dùng: Epirisone 50mg x 3viên/ngày, mephenesine
250mg x 2 – 4 viên /ngày.
 Các thuốc khác :
- Thuốc giảm đau thần kinh (đối với đau thần kinh): Gabapentin : 600 –
1200mg/ngày; Pregabalin: 150 – 300mg/ngày.
- Vitamin nhóm B (B1, B6, B12).
1.2. QUAN NIỆM VỀ ĐAU VAI GÁY DO THỐI HĨA CỘT SỐNG
CỔ THEO YHHĐ
1.2.1.

Khái niệm

Thối hóa cột sống cổ là bệnh lý mạn tính khá phổ biến, tiến triển
chậm. Tổn thương cơ bản là tình trạng thối hóa của đốt sống, khớp, sụn, đĩa
đệm thuộc vùng cột sống cổ, với triệu chứng chủ yếu là đau và biến dạng,
khơng có biểu hiện viêm. Thối hóa cột sống cổ nằm trong nhóm nguyên
nhân gây đau vai gáy mạn tính. Bệnh nhân thường có triệu chứng đau vùng
vai gáy âm ỉ, kéo dài kèm theo các hạn chế về vận động và có thể xuất hiện
đợt cấp khi gặp các yếu tố nguy cơ như gặp lạnh, vận động cột sống cổ sai tư
thế,… .
1.2.2.

Ngun nhân của Thối hóa cột sống cổ

- Sự lão hóa của tế bào sụn, đĩa đệm.
- Yếu tố cơ giới: đẩy nhanh q trình lão hóa.
- Một số nguyên nhân khác: di truyền, rối loạn nội tiết, chuyển hóa, bệnh

lý tự miễn.
1.2.3.

Triệu chứng và tiến triển của thối hóa cột sống cổ

1.2.3.1. Triệu chứng lâm sàng
Trên lâm sàng, Thối hóa cột sống cổ biểu hiện rất đa dạng, thường gồm 4 hội
chứng sau:
 Hội chứng cột sống cổ:
- Đau vùng cột sống cổ (cấp hoặc mạn tính), thường xuất hiện sau khi cúi
lâu, nằm gối cao, làm việc căng thẳng kéo dài, sau khi thay đổi thời tiết (đặc
biệt bị nhiễm lạnh), hay đột ngột sau khi vận động cột sống cổ.
- Có điểm đau và co cứng cơ tại cột sống cổ hoặc hai bên cột sống cổ.
- Có thể có tư thế chống đau
6


- Hạn chế vận động cột sống cổ .

Hình 1.1: Tầm vận động bình thường của cột sống cổ
 Hội chứng rễ thần kinh:
- Rối loạn cảm giác kiểu rễ:
+ Đau âm ỉ lan dọc theo đường đi của rễ thần kinh.
+ Đau tăng khi ho, hắt hơi, rặn (dấu hiệu Dèjerine); đau tăng khi trọng
tải trên cột sống cổ tăng (khi đi, đứng, ngồi lâu) và khi vận động.
+ Dị cảm vùng da do rễ thần kinh bị chèn ép: tê bì, kiến bị, nóng rát…
+ Dấu hiệu Spurling: khi ấn đầu xuống trong tư thế ngửa cổ và nghiêng
đầu về bên đau, tạo ra đau nặng từ vùng cổ lan xuống vai, cánh tay, cẳng tay
và bàn tay. Đây là dấu hiệu quan trọng đánh giá đau kiểu rễ. Đau ở đây xuất
hiện do động tác làm hẹp lỗ gian đốt sống và tăng thể tích phần đĩa đệm lồi

ra .
- Rối loạn vận động kiểu rễ: giảm vận động một số cơ chi trên tùy thuộc
vào rễ thần kinh bị chèn ép (thường ít khi liệt). Giảm hoặc mất phản xạ gân
xương do rễ thần kinh chi phối bị chèn ép.
- Teo cơ chi trên: ít gặp .
 Hội chứng động mạch đốt sống (HC giao cảm cổ sau Barré Liéou):
Nhức đầu vùng chẩm, thái dương, trán và hai hố mắt, thường vào buổi
sáng, có khi kèm theo chóng mặt, ù tai, đau tai, hoa mắt, mờ mắt, nuốt vướng,
loạn cảm thành sau họng .
7


 Hội chứng tủy cổ (hay gặp trong thoát vị đĩa đệm cột sống cổ)
- Dáng đi không vững, đi lại khó khăn, dị cảm chi trên, chi dưới hoặc
thân, yếu hoặc liệt chi, teo cơ ngọn chi, rối loạn vận động và rối loạn cơ tròn.
- Dấu hiệu Lhermitte: cảm giác như điện giật đột ngột lan từ cột sống cổ
xuống cột sống lưng khi cúi cổ .
1.2.3.2. Triệu chứng cận lâm sàng
 X quang cột sống cổ: thường chụp ở tư thế thẳng, nghiêng và chếch
¾:
- Gai xương ở thân đốt sống, mặt khớp đốt sống, lỗ gian đốt sống…
- Hẹp khoang gian đốt sống, hẹp lỗ tiếp hợp (tư thế chếch ¾).
- Đặc xương dưới sụn, phì đại mấu bán nguyệt…
- Mất đường cong sinh lý cột sống cổ
 Cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ:
- Các hình ảnh như phim X-quang, giảm chiều cao, vị trí đĩa đệm.

Hình 1. 2 - Hình 1. 3: Hình ảnh THCSC trên film X-quang
1.2.4.


Cơ chế gây đau trong THCS cổ

Lushka đã phát hiện một nhánh của rễ thần kinh cổ xuất phát từ hạch
cạnh sống. Nhánh này được bổ sung những sợi giao cảm thuộc chuỗi hạch
giao cảm cạnh cột sống cổ quay trở lại chui qua lỗ gian đốt sống vào trong
ống sống. Các dây thần kinh này chi phối cho bao khớp gian đốt sống, cốt
mạc đốt sống, dây chằng dọc sau, các màng của tủy sống và mạch máu. Khi
dây này bị kích thích sẽ gây ra triệu chứng đau.
8


Khớp mỏm móc đốt sống cũng được phủ bằng sụn và cũng có một bao
khớp chứa dịch. Nhiệm vụ của khớp là giữ cho đĩa đệm không bị lệch sang
hai bên. Khi khớp này bị thối hóa, gai xương của mỏm móc nhơ vào lỗ gian
đốt sống và chèn ép vào rễ thần kinh ở đó gây đau.
Đĩa đệm được các nhánh màng tủy phân bố cảm giác. Đây là một
nhánh của dây thần kinh sống từ hạch sống phân bố các nhánh cảm giác cho
những nhánh ngoài cùng của vòng sợi đĩa đệm bằng những sợi li tâm và giao
cảm. Khi đĩa đệm bị thối hóa hay thốt vị, chiều cao các khoang gian đốt sẽ
giảm gây chùng lỏng các khớp, dẫn tới sai lệch vị trí khớp, chèn ép vào các
thành phần nhận cảm đau như rễ thần kinh, tủy, dây chằng dọc sau,…gây đau.
Phì đại dây chằng vàng là nguyên nhân chính gây hẹp ống sống cổ từ
phía sau gây chèn ép vào tủy hay màng cứng gây đau.
Ở các tổ chức dây chằng, gân, màng xương và tổ chức cạnh khớp có rất
nhiều điểm nhận cảm thực vật. Khi tổ chức này bị kích thích, bệnh nhân sẽ
đau âm ỉ, rất khó chịu, đau ở đây không liên quan đến khu vực cảm giác của
rễ thần kinh cổ.
Đám rối thần kinh cánh tay và động mạch dưới địn bình thường phải
chui qua khe cơ giữa bậc thang giữa và cơ bậc thang trước. Khi khe này bị
hẹp chèn ép vào đám rối thần kinh cánh tay. Dây trụ và dây giữa rất dễ bị tổn

thương, bệnh nhân sẽ đau như kim châm dọc mặt trong cánh tay lan đến tận
ngón 4, 5. Đau có thể lan lên vùng chẩm, tới ngực.
Các hạch giao cảm cổ còn chia nhánh vào các rễ, cho các nhánh tim,
đám rối giao cảm quanh động mạch và các cơ quan nội tạng khác. Khi các
nhánh này bị chèn ép hoặc kích thích sẽ gây đau.
1.2.5.

Chẩn đốn đau vai gáy do thối hóa cột sống cổ

 Chẩn đốn xác định: Dựa vào các triệu chứng lâm sàng đau vai gáy
(biểu hiện mạn tính, khơng có triệu chứng viêm) và triệu chứng cận lâm sàng
(có hình ảnh tổn thương thối hóa cột sống cổ trên phim X – quang) .
 Chẩn đoán phân biệt: đau vai gáy do các nguyên nhân khác:
- Đau vai gáy cấp đơn thuần do sai tư thế, do co cứng cơ (gặp lạnh): chủ
yếu dựa vào tổn thương trên phim X – quang.
- Đau vai gáy cấp do viêm nhiễm: lâm sàng và xét nghiệm có hội chứng
viêm.
9


- Đau vai gáy cấp do chấn thương cột sống cổ, do thoát vị đĩa đệm cột
sống cổ: yếu tố khởi phát, tính chất đau và tổn thương trên phim chụp (X –
quang, MRI, CT – scaner).
- Vẹo cổ cấp bẩm sinh, dị tật: tuổi khởi phát, biểu hiện lâm sàng.
1.2.6.

Điều trị và phòng bệnh đau vai gáy do THCSC

1.2.6.1. Điều trị
- Điều trị bảo tồn: tương tự như đối với điều trị đau vai gáy nói chung, có

thể kết hợp với các thuốc điều trị vào bệnh nguyên thoái hóa như Glucosamin
sulfat, Chondroitin sulfat, Atrodar,….
- Điều trị phẫu thuật: khi cần thiết.
1.2.6.2. Phòng bệnh
- Chống các tư thế xấu trong sinh hoạt và lao động.
- Tránh các động tác quá mạnh và đột ngột, sai tư thế khi mang vác, xách
nặng.
- Giữ ấm vùng cổ vai, tránh nhiễm mưa, gió, lạnh…
- Tránh giữ lâu cổ ở tư thế cúi cổ ra trước, ưỡn ra sau hay nghiêng về một
bên.
- Khi ngồi làm việc lâu hoặc ngồi xe đường dài cần dùng ghế có tấm đỡ
cổ và lưng, có thể đeo đai cổ để giữ tư thế sinh lý thích hợp và tránh các vận
động quá mức của cột sống cổ.
- Đối với những người làm việc có liên quan tới tư thế bất lợi của cột
sống cổ cần có chế độ nghỉ ngơi thích hợp để thư giãn cột sống cổ, xoa bóp và
tập vận động cột sống cổ nhẹ nhàng; kiểm tra định kỳ phát hiện sớm các biểu
hiện bệnh lý và điều trị kịp thời.
- Phát hiện sớm các dị dạng cột sống cổ để có biện pháp chỉnh hình phù
hợp, tránh thối hóa khớp thứ phát.
1.3. QUAN NIỆM VỀ ĐAU VAI GÁY THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
1.3.1. Bệnh danh
Đau vai gáy có bệnh danh lạc chẩm và được mô tả trong chứng tý. Đây là
loại bệnh có chủ chứng là vùng vai gáy cứng đau, thường đau một bên, đôi khi
đau cả hai bên; kèm theo thường quay đầu, cổ hoặc vận động khớp vai khó khăn
do đau.

10


Vùng cổ gáy là nơi cốt yếu của sự vận động chi trên và đầu mặt cổ.

Vùng này có sáu kinh dương (thủ, túc tam dương kinh) đi qua và phân bố ở
đây. Bệnh đau vai gáy có quan hệ mật thiết với các kinh dương (chủ yếu là
thái dương) và can thận (can chủ cân, thận chủ cốt tủy).
1.3.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
- Tà khí phong hàn thấp xâm phạm vào cơ thể, dồn vào kinh lạc, cân cơ
làm cho khí huyết trở tắc, vận hành không thông lợi gây đau và hạn chế vận
động.
- Do mang vác nặng quá sức, do vấp ngã, do bị sang thương, bị đánh,
hay do làm việc sai tư thế, gối đầu cao, thoát vị đĩa đệm, … làm cho khí trệ
huyết ứ, khơng thơng mà gây đau, hạn chế vận động cổ.
- Do thấp nhiệt: viêm nhiễm cột sống và cân cơ quanh vùng cột sống gây
đau và hạn chế vận động.
- Do can thận hư: Người bẩm tố tiên thiên không đủ, lại do lao động
nặng nhọc quá độ hoặc bệnh lâu người hư, hoặc người già, hoặc phòng dục
quá độ làm cho thận tinh suy yếu, thận hư không tư dưỡng được can mộc, can
thận âm hư, âm hư thì dương thiếu. Can thận hư nên khơng nhu dưỡng, khơng
chủ được cân cốt, tà khí phong hàn thấp kết hợp với nhau thừa hư xâm phạm
gây bệnh.
1.3.3. Thể bệnh
- Cấp tính: đau vai gáy do phong hàn thấp, do huyết ứ và do viêm nhiễm.
- Mạn tính: đau vai gáy do can thận hư.
1.3.4. Triệu chứng các thể lâm sàng và điều trị
1.3.4.1. Thể phong hàn (phong hàn thấp tý)
- Triệu chứng: Đột nhiên vai gáy cứng đau, vận động cổ khó, ấn vào cơ
thang, cơ ức đòn chũm đau, cơ co cứng hơn bên lành, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng,
mạch phù khẩn.
- Chẩn đoán bát cương: biểu, thực, hàn.
- Pháp điều trị: khu phong, tán hàn, ôn thông kinh lạc.
- Điều trị không dùng thuốc:
+ Châm cứu. Cơng thức huyệt: A thị, Phong trì, Thiên trụ, Kiên tỉnh,

Phong môn, Thiên tông, Dương lăng tuyền, Hợp cốc, Huyền chung (bên
đau ). Châm tả kết hợp với điện châm, ơn châm hoặc cứu. Liệu trình: Mỗi
ngày châm 1 lần, mỗi lần 25 – 30 phút.

11


+ Xoa bóp bấm huyệt: Dùng các thủ thuật xoa, miết, day, bóp, lăn, bấm
huyệt, vùng các cơ ức địn chũm, cơ thang, vận động cột sống cổ.
+ Thuỷ châm: Dùng dung dịch thuốc Vitamin nhóm B( B1, B6, B12 ),
Piroxicam 20mg thuỷ châm các huyệt Kiên tỉnh, A thị. Liều lượng mỗi huyệt
từ 1 –1,5 ml. Liệu trình ngày 1 lần, 7 đến 10 lần là một đợt điều trị. Lưu ý nên
thay đổi vị trí thuỷ châm để tránh xơ hố.
- Điều trị dùng thuốc: “Ma hồng quế chi thang”, “Quyên tý thang” gia
giảm.
1.3.4.2. Thể huyết ứ
- Triệu chứng: Đột nhiên vai gáy cứng đau, vận động cổ khó, ấn vào cơ
thang, cơ ức địn chũm đau, cơ co cứng hơn bên lành, thường xảy ra sau khi
mang vác nặng, do sai tư thế (nằm ngủ gối đầu quá cao, ngồi làm việc quá lâu
một tư thế…), vận động cổ gáy khó khăn, có thể kèm theo tê lan xuống vai
cánh tay, rêu lưỡi mỏng, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch phù sáp.
- Chẩn đoán bát cương: biểu, thực
- Pháp điều trị: Hoạt huyết tiêu ứ, thư cân hoạt lạc
- Điều trị không dùng thuốc:
+ Châm cứu. Công thức huyệt: A thị, Phong trì, Thiên trụ, Kiên tỉnh,
Phong môn, Thiên tông, Dương lăng tuyền, Hợp cốc, Huyền chung (bên
đau). Châm tả, kết hợp với điện châm.
+ Liệu trình: Mỗi ngày châm 1 lần, mỗi lần 25 – 30 phút.
+ Xoa bóp bấm huyệt: Dùng các thủ thuật xoa, miết, day, bóp, lăn, bấm
huyệt, vùng các cơ ức địn chũm, cơ thang, vận động cột sống cổ.

+ Thuỷ châm: Dùng dung dịch thuốc Vitamin nhóm B ( B1, B6, B12 ),
Piroxicam 20mg thuỷ châm các huyệt Kiên tỉnh, A thị. Liều lượng mỗi huyệt
từ 1 –1,5 ml. Liệu trình ngày 1 lần, 7 đến 10 lần là một đợt điều trị. Lưu ý nên
thay đổi vị trí thuỷ châm để tránh xơ hoá.
- Điều trị dùng thuốc: “Thân thống trục ứ thang” gia giảm, “Tứ vật đào
hồng” gia giảm; hoặc dùng ngải cứu sao muối, rượu chườm tại chỗ đau.
1.3.4.3. Thể thấp nhiệt
- Triệu chứng: Đau và hạn chế vận động vùng vai gáy, nhìn cột sống cổ và
xung quanh sưng, nóng đỏ, bệnh nhân có sốt, hạn chế vận động cổ gáy, mạch hoạt
sác.
- Chẩn đoán bát cương: biểu thực nhiệt
12


- Pháp điều trị: Khu phong, thanh nhiệt giải độc, hành khí hoạt huyết.
- Điều trị khơng dùng thuốc:
+ Châm cứu (châm tả, điện châm): A thị, Phong trì, Thiên trụ, Kiên tỉnh,
Phong môn, Thiên tông, Dương lăng tuyền, Huyền chung (Bên đau), Đại
chuỳ, Khúc trì, Hợp cốc.
+ Khơng nên xoa bóp bấm huyệt.
- Điều trị dùng thuốc: “ Bạch hổ quế chi thang” gia vị.
1.3.4.4. Thể can thận hư ( can thận hư kèm phong hàn thấp)
- Triệu chứng: đau mỏi vai gáy kéo dài, thích xoa chườm, khi lao động
khó nhọc thì đau tăng, nghỉ ngơi đỡ đau, thường phát đi phát lại, kèm theo các
triệu chứng của can thận hư như đau đầu, hoa mắt chóng mặt, đau lưng mỏi
gối, mất ngủ, tâm phiền,… và tùy vào tính chất hàn nhiệt mà xác định thiên
về âm hư hay dương hư.
- Chẩn đoán bát cương: Lý, hư; hoặc biểu lý tương kiêm, hư trung hiệp
thực (trong đợt cấp của đau vai gáy mạn tính).
- Pháp điều trị: Bổ can thận, khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh lạc.

- Điều trị không dùng thuốc: giống với thể phong hàn thấp tý đơn thuần,
thường cứu hoặc châm bổ các huyệt Quan nguyên, Khí hải, Thận du, Can du,
Tam âm giao.
- Điêu trị dùng thuốc: “Quyên tý thang” gia giảm, “Độc hoạt tang ký
sinh thang” gia giảm, “Tam tý thang” gia giảm.
1.3.5. Đau vai gáy do Thối hóa cột sống cổ
Đối chiếu với YHHĐ, THCSC chủ yếu biểu hiện bởi đau vùng cổ gáy
mạn tính hay tái phát, có thể đau lan xuống vai, tay, vận động nặng nề, khó
khăn và khơng sưng nóng đỏ các khớp. Bệnh lý này tương ứng với thể phong
hàn thấp tý kèm can thận hư (nếu có thêm các biểu hiện can thận hư khi khai
thác tứ chẩn).
1.4. ĐIỆN CHÂM VÀ XOA BÓP BẤM HUYỆT
1.4.1.

Phương pháp điện châm

1.4.1.1. Khái niệm
Châm cứu là một trong các phương pháp phòng và chữa bệnh của Y
học cổ truyền. Châm là dùng kim châm vào huyệt, cứu là dùng ngải đốt cháy
gây sức nóng trên huyệt. Điện châm (châm điện) là phương pháp chữa bệnh
13


phối hợp tác dụng của châm với tác dụng của xung điện phát ra từ máy điện
châm.
Người ta ứng dụng những dòng điện khác nhau để chữa bệnh như:
dòng điện một chiều, dòng xung điện, dòng điện giao thoa… hiện nay người
ta dùng máy phát xung điện đều nhịp, có nhiều đầu kích thích, tính năng ổn
định, an tồn và sử dụng đơn giản. Kích thích của dịng điện có tác dụng làm
giảm đau, ức chế cơn đau (điển hình là tác dụng của châm tê), kích thích hoạt

động của các cơ, các tổ chức và tăng cường dinh dưỡng các tổ chức; làm giảm
viêm, giảm xung huyết, phù nề tại chỗ.
1.4.1.2. Cơ chế tác dụng của châm cứu
 Theo YHHĐ: Theo học thuyết thần kinh – nội tiết – thể dịch:
- Châm cứu gây phản ứng tại chỗ: Châm cứu là một kích thích gây ra
một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế, phá vỡ và dập tắt cung phản xạ
bệnh lý nên làm giảm các cơn đau, giải phóng sự co cơ.
- Châm cứu gây phản ứng theo tiết đoạn: Khi nội tạng có tổn thương
bệnh lý thì có những thay đổi cảm giác vùng da ở cùng tiết đoạn thần kinh với
nó và ngược lại. Việc sử dụng các huyệt ở một vùng da để chữa bệnh của các
nội tạng cùng tiết đoạn với vùng này sẽ gây ra một phản ứng tiết đoạn, gây ra
các luồng xung động thần kinh hướng tâm rồi qua phản xạ khoanh tủy tới các
cơ quan, nội tạng tương ứng làm điều hòa mọi cơ năng sinh lý như bài tiết,
dinh dưỡng,…
- Châm cứu gây ra phản ứng toàn thân: kích thích tới hệ thần kinh trung
ương, hệ thần kinh thực vật và và hệ nội tiết sẽ ảnh hưởng đến các cơ quan
nội tạng, biến đổi về thể dịch, nội tiết và mọi tổ chức trong cơ thể.
 Theo YHCT
- Sự mất thăng bằng về âm dương dẫn tới sự phát sinh ra bệnh tật và cơ
chế tác dụng của châm cứu là điều hòa âm dương.
- Bệnh tật phát sinh ra làm rối loạn hoạt động bình thường của hệ kinh
lạc và cơ chế tác dụng của châm cứu cơ bản là điều chỉnh cơ năng hoạt động
của hệ kinh lạc.
1.4.1.3. Chỉ định, chống chỉ định của điện châm
 Chỉ định

14


- Dùng để cắt cơn đau trong một số bệnh: đau khớp, đau răng, đau dây

thần kinh, cơn đau nội tạng…
- Chữa tê liệt, teo cơ trong các chứng liệt như liệt nửa người, liệt các dây
thần kinh ngoại biên.
Châm tê để tiến hành phẫu thuật.
 Chống chỉ định
Các trường hợp bệnh lý thuộc cấp cứu.
Người có sức khỏe yếu, thiếu máu, có tiền sử mắc bệnh tim, phụ
nữ có thai hoặc hành kinh.
Cơ thể ở trạng thái không thuận lợi: vừa lao động xong, mệt mỏi,
đói…
1.4.1.4. Cách tiến hành điện châm
- Sau khi đã chẩn đoán xác định bệnh, chọn phương huyệt và tiến hành
châm kim đạt tới đắc khí: nối các huyệt cần được kích thích bằng xung điện
tới máy điện châm.
- Cần kiểm tra lại máy điện châm trước khi vận hành để đảm bảo an
toàn.
- Tránh mọi động tác vội vàng khiến cường độ kích thích quá ngưỡng
gây cơn co giật mạnh khiến bệnh nhân hoảng sợ.
- Thời gian kích thích điện tùy thuộc yêu cầu chữa bệnh, có thể từ 15
phút tới 1 giờ (như trong châm tê).
1.4.2.

Phương pháp Xoa bóp bấm huyệt

1.4.2.1. Khái niệm
Xoa bóp bấm huyệt là một phương pháp chữa bệnh ra đời sớm nhất,
được xây dựng và phát triển trên cơ sở những kinh nghiệm được tích lũy
trong q trình bảo vệ sức khỏe của con người. Xoa bóp có tác dụng phịng
bệnh và chữa bệnh. Đặc điểm của nó là dùng sự khéo léo và sức mạnh chủ
yếu của đôi bàn tay tác động lên cơ thể người được xoa bóp một lực thích hợp

tạo cho người được xoa bóp cảm giác sảng khoái nhằm làm dịu đi chứng đau
mỏi của cơ, khớp, thần kinh… Bấm huyệt là một thủ thuật nằm trong tập hợp
các thủ thuật xoa bóp nhưng là một thủ thuật có tác dụng mạnh và mang đặc
thù của YHCT.
1.4.2.2. Tác dụng của Xoa bóp bấm huyệt
15


 Theo Y học hiện đại:
- Tác dụng đối với da: xoa bóp có tác dụng trực tiếp trên da, làm cho hô
hấp của da tốt hơn, giãn mạch ở da làm cho tăng cường dinh dưỡng ở da.
Đồng thời thơng qua tác dụng trực tiếp tại da mà có tác dụng đến tồn thân
thơng qua phản xạ thần kinh.
- Tác dụng đối với hệ thần kinh: Xoa bóp kích thích các ngọn dây thần
kinh, kích thích các trung khu thần kinh, ảnh hưởng đối với hệ thần kinh thực
vật, nhất là đối với hệ giao cảm, qua đó gây ra những thay đổi trong một số
hoạt động nội tạng và mạch máu.
- Tác dụng đối với cơ, gân, khớp: Xoa bóp có tác dụng tăng sức bền của
cơ, tăng dinh dưỡng cho cơ, vì vậy có tác dụng chữa teo cơ rất tốt. Đồng thời
xoa bóp làm tăng tính co giãn, đàn hồi của dây chằng, gân, thúc đẩy việc tiết
dịch trong ổ khớp và tuần hoàn quanh khớp.
- Tác dụng đối với hệ tuần hồn: xoa bóp có tác dụng chuyển một lượng
máu từ nội tạng qua da và ngược lại; làm cho máu tĩnh mạch lưu thông được
dễ dàng và làm tăng lượng bạch cầu đến nơi được xoa bóp.
- Tác dụng đối với hơ hấp, tiêu hóa và q trình trao đổi chất: xoa bóp có
tác dụng chữa các bệnh như hen phế quản, khí phế thũng,… Có tác dụng tăng
cường nhu động của dạ dày, ruột, cải thiện chức năng tiêu hóa. Đồng thời xoa
bóp làm tăng lượng nước tiểu bài tiết ra.
 Theo Y học cổ truyền
Xoa bóp bấm huyệt là một phương pháp phòng bệnh và chữa bệnh của

Y học cổ truyền và dựa trên cơ sở lý luận cơ bản của Y học cổ truyền. Cơ thể
con người được bảo vệ bởi vệ khí, được dinh khí và huyết ni dưỡng. Bệnh tà
khi xâm nhập vào cơ thể thì thơng qua “huyệt” vào lạc mạch trước, sau đó vào
“kinh” rồi mới vào tạng phủ. Vì vậy khi bệnh tà xâm nhập làm dinh vệ mất
điều hịa, kinh lạc bế tắc, khí huyết ứ trệ hoặc làm rối loạn chức năng tạng phủ.
Những biểu hiện bệnh đó được phản ánh ra huyệt và kinh lạc. Xoa bóp bấm
huyệt thơng qua tác động vào huyệt và kinh lạc, có thể đuổi ngoại tà, điều hịa
dinh vệ, thơng kinh lạc, điều hịa chức năng tạng phù và lập lại cân bằng âm
dương.

16


1.4.2.3. Ứng dụng của Xoa bóp bấm huyệt
 Chỉ định
Xoa bóp bấm huyệt là phương pháp đơn giản, dễ làm, dễ phổ biến,
khơng phụ thuộc vào máy móc và thuốc, phạm vi ứng dụng rất rộng rãi, có tác
dụng chữa bệnh và có giá trị phịng bệnh lớn. Thầy thuốc có thể sử dụng
phương pháp XBBH để điều trị nhiều bệnh thuộc các chuyên khoa như: cơ
xương khớp, thần kinh, tim mạch, tiêu hóa, hơ hấp… và đem lại hiệu quả cao.
Xoa bóp bấm huyệt có khả năng chữa một số chứng bệnh cấp tính và nhiều
khi đạt kết quả nhanh chóng. Dùng Xoa bóp bấm huyệt để chữa một số bệnh
mạn tính tương đối an tồn, làm giảm triệu chứng. Xoa bóp có tác dụng
phịng bệnh và giữ sức khỏe tương đối tốt, và là phương pháp rất phù hợp để
chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng.
 Chống chỉ định
Tuy là phương pháp an toàn, hiệu quả, phạm vi chữa bệnh rộng nhưng Xoa
bóp bấm huyệt vẫn có những chống chỉ định nhất định:
- Một số trạng thái sốt, viêm cấp tính hay sưng mủ ở bất kì nơi nào.
- Một số bệnh lý ác tính, bệnh về máu, tình trạng chảy máu.

- Các bệnh cấp cứu ở các chuyên khoa
- Bệnh lao tiến triển.
- Bệnh nhân mệt mỏi về thể lực và tinh thần quá mức hay mắc bệnh tâm
thần với những biến đổi rõ rệt về mặt tâm lý.
Thêm vào đó, có những vùng trên cơ thể cấm được xoa bóp. Đó là
những vùng tập trung nhiều hạch bạch huyết như: hố thượng đòn, rãnh dưới
đòn, hõm nách, hõm khuỷu, hõm khoeo, vùng bẹn,…
1.4.2.4. Thủ thuật Xoa bóp bấm huyệt
Có nhiều thủ thuật Xoa bóp bấm huyệt, tuy nhiên trên lâm sàng thường
dùng 19 thủ thuật thơng dụng, đó là: xoa, xát, miết, phân, hợp, véo, day, lăn,
bóp, đấm, chặt, vê, vờn, rung, phát, ấn, bấm, điểm và vận động. Trong các thủ
thuật trên, có những động tác nhẹ nhàng, êm dịu, ở nông nhưng cũng có
những động tác mạnh mẽ, tác dụng sâu. Tùy vào vị trí bị bệnh và thể bệnh mà
có sự lựa chọn và phối hợp các động tác một các thích hợp.
Yêu cầu thủ thuật: thủ thuật phải làm dịu dàng, song có tác dụng thấm
sâu, làm được lâu và có sức.
17


Tác dụng bổ tả của thủ thuật: nhìn chung, thủ thuật làm nhẹ nhàng,
chậm rãi, thuận theo đường kinh có tác dụng bổ, thủ thuật làm mạnh, nhanh,
ngược chiều đường kinh có tác dụng tả.
1.4.3.

Phương pháp chọn huyệt

Trong điều trị bệnh bằng châm cứu và Xoa bóp bấm huyệt có rất nhiều
cách lấy huyệt và phối hợp huyệt để đạt được kết quả chống đau và khống chế
rối loạn sinh lý các tạng phủ. Trên lâm sàng thường chọn theo các cách:
-


Lấy huyệt theo mốc giải phẫu
Lấy huyệt tại chỗ (cục bộ thủ huyệt) và lân cận;
Lấy huyệt theo kinh (tuần kinh thủ huyệt);
Lấy huyệt đặc biệt;
Lấy huyệt theo sự phân bố của tiết đoạn thần kinh.

1.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐAU VAI GÁY DO THỐI HĨA
ĐỐT SỐNG CỔ
1.5.1. Trên thế giới
Thối hóa đốt sống cổ là bệnh thường gặp đặc biệt ở người trung và cao
tuổi, trong đó đau là triệu chứng chủ yếu, thường xuyên và nổi bật nhất. Đây
là một trong những bệnh rất phổ biến khơng kể nghề nghiệp, giới tính.
Ngày nay, trong thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa hoạt động của con
người đòi hỏi cường độ lao động ngày càng cao và phức tạp hơn nên các
bệnh lí về Thối hóa đốt sống cổ có chiều hướng ngày càng gia tăng .
Tại Mỹ hàng năm Thối hóa đốt sống cổ tiêu tốn thới 40 tỷ USD ,
những người trên 55 tuổi có dấu hiệu thối hóa khớp trên X-quang chiếm
80%, trong khi những người từ 15 – 24 tuổi chỉ là 10% . Chỉ tính riêng Thối
hóa đốt sống cổ ở những bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện có khoảng
151000 người .
Tại Pháp cũng chi tới 6 tỷ Franc cho những bệnh nhân thối hóa . Theo
tài liệu của Reuter Health, ở châu Âu, đau mạn tính tiêu tới 34 tỷ Euro mỗi
năm, trong đó đau do viêm khớp và thối hóa khớp chiếm 34% bệnh nhân.

18


Năm 2003, Konig đánh giá hiệu quả điều trị đau cổ mạn tính bằng
châm cứu và xoa bóp ở 177 BN. Nghiên cứu cho thấy sau 14 ngày điều trị,

biên độ vận động cột sống cổ của các bệnh nhân đã tăng lên.
He.Dose (khoa Y, Đại học Tổng hợp Oslo, Nauy) đã nghiên cứu tác
dụng của châm cứu trong điều trị đau cột sống cổ và đau vai gáy mạn tính ở
24 bệnh nhân và đưa ra kết luận rằng châm cứu ngồi tác dụng giảm đau, cịn
giúp cải thiện giấc ngủ, làm bớt các triệu chứng lo lắng, trầm uất và cải thiện
chất lượng cuộc sống.
Nghiên cứu của Gross cho thấy rằng Xoa bóp bấm huyệt điều trị các
chứng đau cổ có độ an tồn cao, tỉ lệ các trường hợp đau tăng hoặc khơng có
hiệu quả rất thấp (1-2%).
1.5.2. Tại Việt Nam
Thối hóa cột sống cổ là tổn thương hay gặp nhất của cột sống cổ và
đứng hàng thứ hai sau thoái hoá cột sống thắt lưng trong bệnh lý thoái hoá cột
sống . Trần Ngọc Ân đã tổng kết tại khoa cơ xương khớp Bệnh viện Bạch
Mai, Hà Nội trong 10 năm thấy các bệnh về thoái hố chiếm 10,41%, trong đó
2/3 thối hố cột sống. Vị trí của thối hóa các khớp là: thối hóa cột sống
thắt lưng 31%, thối hóa cột sống cổ 14%, nhiều đoạn cột sống 7%, gối
13%, háng 8%, ngón tay 6%, các khớp khác 20%.
Năm 2003, Trần Tử Phú Anh tiến hành so sánh điều trị đau cổ vai có
Thối hóa cột sống cổ bằng các phương pháp vật lý trị liệu và bằng
phương pháp dùng thuốc, tác giả thấy rằng: tỉ lệ nam và nữ là tương đương
nhau; nghề nghiệp cán bộ chiếm tỉ lệ cao nhất (59,4%); bệnh nhân không ảnh
hưởng chức năng sau 2 tuần điều trị bằng thuốc là 18,8%, vật lí trị liệu
đơn thuần là 31,1%; không hạn chế tầm vận động khớp là 81,2% .
Năm 2004, Lưu Thị Hiệp khảo sát điều trị Thối hóa cột sống cổ bằng
phương pháp châm cứu kết hợp kéo giãn cột sống cổ, thấy rằng: khơng cịn triệu
chứng đau ở nhóm kéo giãn và châm cứu là 69,3%; nhóm dùng thuốc là 67,0%
[0].
Năm 2008, Phạm Văn Minh khi đánh giá hiệu quả điều trị THCSC
bằng máy kéo giãn, thấy rằng: tỉ lệ bệnh nhân nữ gặp nhiều hơn nam (64,9%


19


×