BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
----------
TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC THI CHÍNH SÁCH VĂN HĨA Ở
TỈNH QUẢNG NINH
BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Quản lí nhà nước về văn hóa
Mã phách:.........................................................
Hà Nội - 2021
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
NỘI DUNG...........................................................................................................2
1. Ban hành và thực thi chính sách văn hóa của nhà nước.................................2
2. Thực thi chính sách văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh............................................9
2.1. Khái quát về tỉnh Quảng Ninh và việc thực thi chính di sản văn hóa.........9
2.2. Thực trạng.................................................................................................10
2.2.1 Cơng tác thực thi chính sách di sản văn hóa...........................................12
2.2.1.1 Di sản văn hóa vật thể..........................................................................12
2.2.1.2 Di sản văn hóa phi vật thể..............................................................14
2.2.2 Kết quả thực hiện chính sách di sản văn hóa..........................................15
2.3. Đánh giá ưu điểm nhược điểm..................................................................16
2.4. Giải pháp khắc phục những hạn chế.........................................................17
KẾT LUẬN........................................................................................................18
MỞ ĐẦU
Nói đến văn hóa Việt Nam là nói đến nền tảng tinh thần trước hết phải là
tinh thần tự hào, độc lập dân tộc tự cường. Đây là nội dung cực kỳ quan trọng
của văn hóa Việt Nam và là yếu tố cấu thành phẩm chất của toàn thể nhân dân
Việt Nam. Điều này đã chỉ ra một cách rõ rệt trong những lần Việt Nam phải đối
phó với họa xâm lăng từ bên ngoài. Tinh thần dân tộc cao sẽ là động lực và sức
mạnh thúc đẩy một dân tộc phát triển tới đỉnh cao. Vấn đề đang đặt ra hiện nay
cho Việt Nam là làm thế nào để động viên được đến mức cao nhất sức mạnh này
trong công cuộc xây dựng đất nước và cạnh tranh quốc tế.
Trong 63 tỉnh thành của Việt Nam ta có thể thấy Quảng Ninh là một tỉnh
tiềm năng trong việc thực thi các chính sách văn hóa. Di sản văn hóa và thiên
nhiên được coi là nguồn tài nguyên quý giá tạo nên sức hút du lịch cho tỉnh
Quảng Ninh nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung. Thực tế cho thấy, di sản
văn hóa và tạo nên sức hấp dẫn cho mọi điểm du lịch. Trong những năm qua,
tỉnh Quảng Ninh đã hết quyền sử dụng nguồn tài nguyên quý giá và ưu tiên
nguồn lực lớn để bảo vệ và phát huy giá trị của di sản, tạo lực mạnh cho du lịch
phát triển. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục.
Bài được vận dụng những kiến thức được học trong học phần quản lý nhà
nước về văn hóa để chỉ ra những phần quan trọng của việc thực thi chính sách
văn hóa qua đó đánh giá những ưu điểm nhược điểm và đề xuất những giải pháp
khắc phục để góp phần đưa văn hóa hơn nữa trong tương lai.
1
NỘI DUNG
1. Ban hành và thực thi chính sách văn hóa của nhà nước
* Khái niệm
Chính sách văn hố (của nhà nước) là tổng thể các quan điểm, các nguyên
tắc, các chuẩn mực, các mục tiêu, các giải pháp và các công cụ mà nhà nước sử
dụng để tác động lên lĩnh vực văn hoá nhằm bảo vệ, thực hiện mục tiêu xây
dựng và phát văn hóa.
Chính sách văn hố là một bộ phận hợp thành của chính sách phát triển
kinh tế - xã hội nói chung và có một ý nghĩa vơ cùng to lớn nhằm sử dụng có
hiệu quả nhất mọi nguồn lực về con người để phát triển đất nước.
* Chủ thể của Chính sách văn hố là Nhà nước
Nhà nước Việt Nam được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến các địa
phương, quyền quản lý được phân cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các
thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc
thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện, phường thuộc quận). Quản lý nhà nước về
văn hóa ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý. Quản lý nhà
nước về văn hóa ở cấp xã thì ủy ban nhân dân xã là chủ thể quản lý nhà nước.
Công chức làm công tác văn hóa - xã hội ở cấp xã có trách nhiệm giúp ủy ban
nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn cấp xã. [4]
Theo luật di sản văn hóa năm 2013:
Điều 5.
Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn hóa thuộc sở hữu nhà nước; cơng
nhận và bảo vệ các hình thức sở hữu tập thể, sở hữu chung của cộng đồng, sở
hữu tư nhân và các hình thức sở hữu khác về di sản văn hóa theo quy định của
pháp luật. Quyền sở hữu, quyền tác giả đối với di sản văn hóa được xác định
theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật
có liên quan.
2
Điều 6.
Mọi di sản văn hóa ở trong lịng đất thuộc đất liền, hải đảo, ở vùng nội
thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu nhà nước.
Điều 7. Di sản văn hóa phát hiện được mà không xác định được chủ sở
hữu, thu được trong q trình thăm dị, khai quật khảo cổ đều thuộc sở hữu nhà
nước.
Điều 8.
1. Mọi di sản văn hóa trên lãnh thổ Việt Nam, có xuất xứ ở trong nước
hoặc từ nước ngồi, thuộc các hình thức sở hữu, đều được bảo vệ và phát huy
giá trị.
2. Di sản văn hóa của Việt Nam ở nước ngồi được bảo hộ theo tập quán
quốc tế và theo quy định của các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Điều 9.
1. Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm
nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngồi đóng
góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
2. Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu
di sản văn hóa. Chủ sở hữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa.
3. Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa. : [2]
3
Theo Hiến pháp năm 2013 các chính sách vĩ mơ của Nhà nước về văn hóa
được ghi cụ thể như sau:
+ Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam: Dân tộc, hiện
đại, nhân văn; kế thừa, phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt
Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.
+ Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa; nghiêm cấm truyền bá
tư tưởng và văn hóa phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục.
+ Văn học, nghệ thuật góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn cao đẹp
của người Việt Nam. Nhà nước đầu tư phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật;
tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật
có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn học, nghệ thuật. Nhà
nước phát triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn hóa, nghệ thuật;
khuyến khích hoạt động nghệ thuật văn hóa, nghệ thuật quần chúng.
+ Nhà nước và xã hội bảo tồn và phát triển các di sản văn hóa dân tộc;
chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng
của di tích lịch sử, cách mạng, di sản văn hóa, cơng trình nghệ thuật, danh lam,
thắng cảnh. Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách
mạng, cơng trình nghệ thuật, danh lam, thắng cảnh. [3]
Điều 60 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: [3]
+ Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
+ Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tỉnh hoa văn hóa nhân loại (khoản 1
Điều 60). Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu
cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện
thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc(khoản 2 Điều 60).
4
+ Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm
no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn
hóa, giàu lịng u nước, có tinh thần đồn kết, ý thức làm chủ, trách
nhiệm cơng dân (khoản 3 Điều 60).
Chính sách của Nhà nước về văn hóa thể hiện trong các luật và các
chương trình mục tiêu, chiến lược phát triển văn hóa.
- Các luật và pháp lệnh về văn hóa, như:
+ Luật sở hữu trí tuệ.
+ Luật di sản văn hóa.
+ Luật xuất bản.
+ Luật điện ảnh.
+ Luật quảng cáo.
+ Pháp lệnh thư viện.
- Các chương trình mục tiêu và cuộc vận động như:
- Chương trình mục tiêu bảo tồn và tơn tạo di tích danh thắng.
+ Chương trình mục tiêu chấn hưng điện ảnh.
+ Chương trình mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
+ Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
+ Một số chương trình liên quan khác như: Chương trình 135; Chương
trình xóa đói giảm nghèo; Chương trình xây dựng nông thôn mới... Để giúp cán
bộ, công chức làm cơng tác văn hóa.
5
- Xã hội ở cấp xã thực thi chính sách của Nhà nước có hiệu quả trên địa
bàn, xin được nêu mấy điểm khái quát sau:
- Tính nhất quán giữa chính sách của Nhà nước và quan điểm của Đảng
thể hiện ở mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa là: Xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; góp phần nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tính nhất qn ấy cịn thể
hiện ở đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về văn hóa đều nhằm
thực hiện nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc là:
Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, khơng ngừng phát triển văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn,
dân chủ và khoa học. Phát triển văn hóa vì sự hồn thiện nhân cách con người
và xây dựng con người để phát triển văn hóa.
- Mọi chính sách của Nhà nước về văn hóa đều được xây dựng trên cơ sở
yêu cầu thực tiễn khách quan ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trong
điều kiện mở cửa, hội nhập, xây dựng Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời có chú ý yếu tố phát triển không đồng
đều giữa các vùng, miền, yếu tố đa dân tộc, đa văn hóa... Bởi vậy, chính sách
của Nhà nước về văn hóa có tính đồng bộ và tính pháp lý cao.
- Đối với công chức làm công tác văn hóa - xã hội ở cấp xã cần đặc biệt
chú ý tính đồng bộ và tính pháp lý của chính sách của Nhà nước về văn hóa,
khơng được vượt thẩm quyền trong thực thi chính sách, tùy tiện vận dụng làm
sai lệch chính sách của Nhà nước về văn hóa. Làm như vậy khơng những khơng
đảm bảo tính pháp lý của các chính sách về văn hóa, mà cịn ảnh hưởng xấu đến
việc thực thi các chính sách khác của Nhà nước trên địa bàn. [1]
* Đối tượng của Chính sách văn hố gồm:
+ Cộng đồng văn hố: Các nghệ sỹ, nghệ nhân, nhà khoa học, nhà giáo
dục, nhà hoạt động văn hoá, nhà sáng tạo, người làm phim, người xuất bản...
6
+ Cộng đồng công chúng: Công dân và tập thể, công chúng hiện thực và
công chúng tiềm năng.
+ Cộng đồng chính trị: Các cơ quan Đảng, chính quyền ở TW và địa phương.
Đảng ta cũng đã xác định, chủ thể xây dựng và phát triển văn hoá là Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo; đội ngũ trí thức, văn
nghệ sĩ đóng vai trị quan trọng; nhấn mạnh đến phát huy tối đa các nguồn lực từ
Nhà nước và xã hội, từ trong nước và nước ngồi để phát triển văn hố. [5]
* Khách thể của Chính sách văn hố
Khách thể của chính sách văn hóa là các vấn đề nảy sinh trong hoạt
động văn hố.
Ví dụ: Triển lãm ảnh chủ đề “Nghề truyền thống Việt Nam” cũng được tổ
chức, giới thiệu 60 tác phẩm nhiếp ảnh chọn lọc từ cuộc thi ảnh Di sản Việt Nam
“Nghề truyền thống Việt Nam”. Thông qua các triển lãm, trưng bày, công chúng
và du khách cảm nhận sâu hơn sức sống trường tồn của di sản nghề truyền
thống, sức sáng tạo bền bỉ của các nghệ nhân, thợ thủ công làng nghề trong công
cuộc gắn kết các giá trị truyền thống và hiện đại. [6]
* Mục tiêu của Chính sách văn hố:
Mục tiêu của chính sách văn hố là trạng thái mong đợi, cần có của nhà
nước đối với lĩnh vực văn hoá trong các chặng đường phát triển của đất nước.
Thực hiện đường lối chủ trương của Đảng về phát triển văn hố, hồn
thiện luật pháp và các chương trình, dự án của Nhà nước trong lĩnh vực văn hố.
* Hình thức của chính sách văn hóa:
Chính sách của văn hố là văn bản của cơ quan Nhà nước (các Nghị định,
Thông tư, Quyết định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Thơng tư của Bộ
trưởng bộ Văn hố Thơng tin)
* Phân loại Chính sách văn hoá:
+ Theo đối tượng tác động (3 cộng đồng).
7
+ Phạm vi tác động (chung cho xã hội, riêng cho từng nhóm đối tượng).
+ Nguồn kinh phí: Hồn tồn từ ngân sách Nhà nước, Nhà nước và nhân
dân, Nhà nước và tài trợ nước ngồi.
- Các chính sách văn hố địi hỏi phải đáp ứng được mối quan tâm của cả
3 nhóm cộng đồng, phân định rõ các mục tiêu và điều chỉnh hướng ưu tiên. Văn
hoá phát triển hay trì là tùy thuộc vào sự tác động của ba nhóm cộng đồng, tùy
theo cách giải quyết các mâu thuẫn, khác biệt giữa ba nhóm cộng đồng.
- Chính sách văn hoá phải tăng cường hợp tác với các cơ quan công quyền
ở mọi cấp, đặc biệt là với địa phương, các tổ chức tư nhân và xã hội có kế hoạch
hành động thực hiện các chương trình, dự án văn hoá, tạo điều kiện để phát huy
sáng kiến, đáp ứng văn hố của đơng đảo quần chúng, chú trọng tới người
nghèo, chống tệ nạm xã hội.
- Ở cấp độ thực thi Chính sách văn hố, nhà Quản lý quan tâm đến mọi
mục tiêu mà trong chính sách văn hố đề cập với những mức độ đậm, nhạt, tỷ
trọng nặng nhẹ khác nhau, đó là:
+ Mục tiêu phát triển hoạt động sáng tạo văn hoá, nhằm sáng tạo được
nhiều giá trị và sản phẩm văn hố , nghệ thuật có chất lượng.
Văn học, nghệ thuật góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn cao đẹp
của người Việt Nam. Nhà nước đầu tư phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật;
tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật
có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn học, nghệ thuật. Nhà
nước phát triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn hóa, nghệ thuật;
khuyến khích hoạt động nghệ thuật văn hóa, nghệ thuật quần chúng. [3]
+ Mục tiêu nghiên cứu sưu tầm, bảo tồn và phát huy tài sản văn
hoá, nghệ thuật dân tộc.
Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam: Dân tộc, hiện
đại, nhân văn; kế thừa, phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt
8
Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân. [3]
+ Mục tiêu phát triển văn hố nhằm thu hút đơng đảo quần chúng tham
gia sáng tạo và hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật.
Đời sống văn hố ở cơ sở đã có bước phát triển, thu hút đông đảo quần
chúng lao động tham gia hoạt động, sáng tạo và hưởng thụ văn hoá. Các hoạt
động văn hoá dân gian truyền thống được phục hồi và tổ chức với sự hưởng ứng
rộng rãi của nhân dân. Đời sống văn hoá ở miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa
đã có những cải thiện rõ rệt. Xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở, tạo điều kiện để
các tầng lớp nhân dân được hưởng thụ và tham gia vào các hoạt động văn hóa,
văn nghệ, thể dục thể thao, là một trong những chủ trương, chính sách văn hóa
lớn của Đảng và Nhà nước, cũng là một trong những nội dung trọng tâm của
Phong trào tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hố, đã tạo điều kiện cho
phong trào văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao quần chúng cả ở khu vục nông
thôn, đô thị và cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đều duy trì và phát triển... [6]
+ Mục tiêu phát triển xuất nhập khẩu những giá trị và sản phẩm văn hoá,
nghệ thuật nhằm tăng cường hợp tác giao lưu văn hoá quốc tế, giới thiệu văn
hoá dân tộc mình vào cộng đồng thế giới.
Tiếp xúc - giao lưu - đối thoại văn hố ngày nay nhằm mục đích tăng
cường hiểu biết, thúc đẩy hợp tác, củng cố tình hữu nghị giữa các dân tộc, các
nước trên thế giới tạo ra sức mạnh chung để bảo vệ nền hoà bình bền vững lâu
dài trên trái đất, ngăn ngừa chiến tranh, chống khủng bố, các hành vi bạo lực gây
tội ác, các tội phạm đe doạ sự bình yên của cuộc sống. [8]
+ Phát triển hệ thống các cơ quan sản xuất, bảo quản, phân phối các giá trị
văn hoá, nghệ thuật một cách hợp lý, ngày càng hiện đại và có hiệu quả.
+ Mục tiêu đào tạo và phát triển đội ngũ trí thức, nghệ sỹ, cán bộ văn hố
một cách đồng bộ, có trình độ cao.
9
+ Mục tiêu đảm bảo ngân sách, điều kiện vật chất và điều kiện vật chất và
điều kiện pháp lý cho sự phát triển văn hoá nghệ thuật.
+ Mục tiêu tăng cường sự tự quản và phân cấp quản lý văn hố.
2. Thực thi chính sách văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh
2.1. Khái quát về tỉnh Quảng Ninh và việc thực thi chính di sản văn hóa
Quảng Ninh là tỉnh thành có lịch sử lâu đời. ở khu vực ven biển Vinh Hạ
Long vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc
Bộ. Đây là một tỉnh khai thác than lớn ở Việt Nam, và có Vịnh Hạ Long là một
di sản văn hóa kỳ quan thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận.
Di sản văn hóa và thiên nhiên được coi là nguồn tài nguyên quý giá tạo
nên sức hút du lịch cho tỉnh Quảng Ninh nói riêng và đất nước Việt Nam nói
chung. Thực tế cho thấy, di sản văn hóa và tạo nên sức hấp dẫn cho mọi điểm du
lịch. Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ninh đã hết quyền sử dụng nguồn tài
nguyên quý giá và ưu tiên nguồn lực lớn để bảo vệ và phát huy giá trị của di sản,
tạo lực mạnh cho du lịch phát triển.
Theo điều 9 luật di sản văn hóa năm 2013 nêu rõ:
Có thể thấy Quảng Ninh là một tỉnh có hệ thống di sản văn hóa phong phú
và đặc sắc. Trên hiện tỉnh có 632 di sản văn hóa và danh lam thắng cảnh. Trong
đó, có 5 di tích đặc biệt cấp quốc gia (danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long, Di
tích lịch sử Bạch Đằng, Di tích lịch sử Yên Tử, Khu nhà Đông Chu Chen và
Khu nhà Đông Chu Trần). Cửa Ông-Cặp Tiên).
Đồng thời, hơn 360 hạng mục di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào
danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Nghi lễ then cổ của người Tày,
hát nhà tơ…) (hát, múa cửa đình), hội đền Cửa Ơng. (TP. Cẩm Phả), Lễ hội Tiên
Cơng (TX Quảng n), Lễ hội đình Trà Cổ (Móng Cái), Lễ hội đình Quan Lạn
(Vân Đồn). Riêng thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam mà
Quảng Ninh có đại diện là Then của người Tày ở Bình Liêu đã được UNESCO
cơng nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Với tài nguyên
10
du lịch rất hấp dẫn, ngày càng thu hút nhiều khách hàng trong và ngoài nước đến
với Quảng Ninh.
2.2. Thực trạng
Nhìn về Quảng Ninh, tỉnh ta có số lượng di sản văn hóa lớn, phong phú,
đa dạng, đặc sắc với 632 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh, nhiều
giá trị văn hóa phi vật thể quý giá. Con người Quảng Ninh có nhiều giá trị đặc
trưng được hun đúc, hình thành qua nhiều thế hệ, một trong những giá trị đó là
tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”. [9]
Trong số hơn 600 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh, nhiều di tích
văn hóa đã trở thành điểm du lịch tâm linh, thu hút lượng lớn du khách trong
những năm vừa qua. Quảng Ninh tận dụng lợi thế này để phát triển du lịch tâm
linh với hàng loạt di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu: Di tích lịch sử nhà Trần (TX
Đơng Triều), quần thể di tích danh thắng Yên Tử, chùa Ba Vàng (TP ng Bí),
chùa Lơi Âm và chùa Long Tiên (TP Hạ Long), đền Cửa Ông (TP Cẩm Phả),
chùa Cái Bầu (huyện Vân Đồn)…
Theo báo cáo của Sở Du lịch, hiện khoảng 120 di tích, di sản đã nằm
trong các điểm tour, tuyến du lịch cố định của Quảng Ninh, trong đó có những di
tích được các đơn vị lữ hành lựa chọn để thiết kế nhiều sản phẩm riêng, trọn gói
để đưa vào khai thác. Vào dịp Tết Nguyên đán mỗi năm (từ mồng 1 - 6/1 âm
lịch), Quảng Ninh đón khoảng 70 - 100 vạn du khách, thì 70% trong đó là lượng
du khách có mặt tại các di tích, di sản trên địa bàn. Điều này cho thấy di tích, di
sản đã và đang là thành tố rất quan trọng của du lịch Quảng Ninh.
Thời gian qua, với nguồn lực của tỉnh, địa phương và xã hội hóa, hệ thống
các di tích, danh thắng trên địa bàn thị xã đã được đầu tư khang trang những vẫn
giữ được nguyên vẹn những giá trị về cảnh quan, kiến trúc, lịch sử. Tiêu biểu
nhất phải kể đến khu di tích nhà Trần được xếp hạng là di tích Quốc gia đặc biệt
vào năm 2013, đồng thời lại có sự kết nối với di tích n Tử, góp phần càng làm
lan tỏa giá trị của di tích. Từ đây, đã tạo điều kiện để địa phương thúc đẩy phát
triển thế mạnh loại hình du lịch tâm linh. Bằng chứng là lượng khách về khu di
11
tích nhà Trần tại Đơng Triều tăng liên tục, năm sau cao hơn năm trước 30-40%
và cao gấp hàng chục lần so với năm 2013 trở về trước.
Có thể thấy di sản văn hóa và du lịch tâm linh có sự liên kết chặt chẽ với
nhau. Chính nhờ các di tích, danh thắng, di sản văn hóa khi được cơng nhận, xếp
hạng cấp tỉnh, quốc gia hay quốc tế đã được quan tâm trùng tu, tôn tạo tốt hơn,
trở thành tiền đề quan trọng để du lịch tâm linh phát triển và ngược lại du lịch
tâm linh phát triển cho thấy hiệu quả từ công tác bảo tồn, khai thác tốt các giá trị
của di sản. Để du lịch tâm linh phát triển đúng hướng, mang lại những giá trị
truyền thống, tinh thần, giá trị văn hóa lịch sử, bên cạnh nhiệm vụ trọng tâm là
bảo tồn và gìn giữ các giá trị cảnh quan của di sản, Quảng Ninh đã và đang tích
cực đẩy mạnh cơng tác xúc tiến tuyên truyền quảng bá du lịch.
Cùng với đó, xây dựng những tour, tuyến du lịch hợp lý, đầu tư vào các
khu du lịch tâm linh tạo ra sự đồng bộ về hạ tầng giao thông, kỹ thuật; tiếp tục
xây dựng mới, nâng cấp các điểm đến thành các khu du lịch tham quan nghỉ
dưỡng, khu du lịch sinh thái, vui chơi giải trí gắn kết các hoạt động tín ngưỡng,
lễ hội; quan tâm thúc đẩy sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống, các sản
vật quý của từng vùng để phục vụ nhu cầu tham quan du lịch của du khách.
Đồng thời, tăng cường đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không
chỉ về nghiệp vụ du lịch mà còn chú trọng bồi dưỡng kiến thức văn hoá, lịch sử
địa phương, địa danh để giới thiệu cho du khách...
Hệ thống di tích lịch sử, di sản văn hóa trên địa bàn hiện nay chính là
nguồn tài ngun quý, góp phần tạo nên sức hút, thương hiệu, giá trị của du lịch
tâm linh Quảng Ninh. Tin tưởng, với những định hướng đúng đắn, công tác đầu
tư đồng bộ sẽ đưa loại hình du lịch tâm linh phát triển đúng tầm, góp phần quan
trọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. [9]
2.2.1 Công tác thực thi chính sách di sản văn hóa
Quảng Ninh là tỉnh có 43 dân tộc anh em cùng cư trú nên kho tàng di sản
văn hóa vật thể và phi vật thể rất đa dạng, phong phú . Về công tác thực thi chính
sách di sản văn hóa ở tỉnh Quảng Ninh trong hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện
12
Nghị quyết số 11 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh thống nhất
ban hành kết luận về điều chỉnh, bổ sung một số quan điểm chỉ tiêu, mục tiêu,
biện pháp cho phù hợp với thực tiễn.
2.2.1.1 Di sản văn hóa vật thể
Tiếp tục là một tiêu chí trong xây dựng các nghị quyết, một tiêu
chuẩn trong đánh giá thực thi các nghị quyết và là một thước đo năng lực
lãnh đạo và trình độ tổ chức thực tiễn của các cấp ủy và chính quyền các
cấp đã nêu rõ một số nội dung cần phải triển khai: Đầu tiên cần đẩy mạnh
phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp trong
việc huy động các nguồn lực để tu bổ, tơn tạo, phát huy giá trị văn hóa, gắn
với quảng bá hình ảnh các di tích.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc bảo tồn các di sản văn hóa,
tỉnh đã đẩy mạnh cơng tác tun truyền nâng cao nhận thức của người dân
trong địa bàn tỉnh về việc bảo vệ các di tích, di sản gắn với bảo tồn, sưu tầm.
Qua đó với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước nhiều di tích đã được
đầu tư, tu bổ, phục hồi theo đúng trình tự, quy định của nhà nước, chất lượng
cơng trình kiến trúc được đảm bảo, những yếu tố lịch sử lâu đời vẫn được giữ
gìn, tạo tiền đề quan trọng trong các hoạt động phát huy các giá trị di tích lịch
sử.
Trong hai năm 2020-2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, hầu hết các
hoạt động văn hóa, lễ hội khơng được tổ chức, các di tích, thắng cảnh một thời
gian dài khơng mở cửa đón khách. Tận dụng thời gian này, tỉnh và các địa
phương đã đẩy mạnh công tác đầu tư tôn tạo các di tích, danh thắng, nhằm tạo
nên những điểm nhấn, sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, đặc trưng cho
Quảng Ninh khi hoạt động du lịch sôi động trở lại.
Cùng với đó, tỉnh tiếp tục tập trung thực hiện lập hồ sơ khoa học quần thể
di tích danh thắng Yên Tử (Quảng Ninh, Bắc Giang, Hải Dương) trình
UNESCO cơng nhận là di sản văn hóa thế giới; phối hợp với TP Hải Phòng tiếp
13
tục hoàn thiện hồ sơ đề cử Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) - quần đảo Cát Bà (TP
Hải Phịng) trình UNESCO cơng nhận di sản văn hóa thế giới; triển khai xây
dựng hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đối với quần thể di
tích thương cảng Vân Đồn (huyện Vân Đồn).
Tỉnh cũng chỉ đạo các sở, ngành, địa phương phối hợp xây dựng những
tour, tuyến du lịch hợp lý; đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá; quan tâm thúc đẩy
sản xuất các sản phẩm thủ công truyền thống, các sản vật quý của từng vùng để
phục vụ nhu cầu tham quan du lịch của du khách; tăng cường đào tạo nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch…
Với hoạch địch bài bản, cụ thể, tin tưởng Quảng Ninh đã, đang và sẽ khai
thác, phát huy hiệu quả giá trị của di sản văn hóa cho phát triển du lịch bền vững.
[10]
2.2.1.2 Di sản văn hóa phi vật thể
Bên cạnh đó, duy trì, phát triển, đáp ứng yêu cầu hưởng thụ của nhân
dân trong sinh hoạt văn hóa, văn nghệ ở các CLB tại một số địa phương
như: CLB hát đối dân tộc Dao ở TP Hạ Long, CLB hát then dân tộc Tày
huyện Bình Liêu, CLB hát đúm TX Quảng Yên... Thực hiện khai thác sưu
tầm vốn văn nghệ dân gian, ngành Văn hóa đã phối hợp với các nhà trường,
đồn thể tổ chức gặp gỡ các nghệ nhân nhằm bảo tồn các loại hình văn hóa
dân gian; tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động bảo tồn, gìn giữ giá trị và đưa
di sản văn hóa phi vật thể phát huy tích cực trong đời sống. [11]
Trong các lễ hội đình, hội làng, hội miếu Tiên Công ở Quảng Yên, Đông
Triều, Uông Bí thường tổ chức các trị chơi đánh đu, tổ tôm điếm, bịt mắt đập
niêu, bịt mắt bắt vịt. TP Cẩm Phả, huyện Vân Đồn thường tổ chức chơi cờ
người, kéo co, đẩy gậy, chọi gà dịp đầu xuân, lễ hội đền Cửa Ông, đền Cặp Tiên.
Tại lễ hội truyền thống Vân Đồn tổ chức tại xã Quan Lạn vào trung tuần tháng 6
âm lịch hàng năm có đua thuyền chải truyền thống giữa hai giáp Đông Nam Văn
14
và Đoài Bắc Võ của làng. Ngoài hoạt động thể thao thì đây cịn là nghi thức tơn
vinh chiến thắng Vân Đồn chống giặc Nguyên Mông của quân dân nhà Trần
năm 1288. Ở lễ hội đình Trà Cổ tổ chức cuối tháng 6 âm lịch hàng năm có các
trị kéo co, cờ tướng, nhảy bao bố, đi cà kheo…
Đáng mừng là những năm qua, có rất nhiều lễ hội, ngày hội văn hóa - thể
thao của đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh được phục
dựng, tổ chức đều đặn hàng năm. Đi liền với lễ hội là những trị chơi dân gian và
các mơn thể thao.
Những trị chơi, mơn thể thao đã trở thành cốt lõi, trung tâm của các sự
kiện văn hoá, lễ hội và được cộng đồng, du khách nhiệt liệt hưởng ứng tham gia.
Đó là yếu tố quan trọng để các trị chơi, mơn thể thao truyền thống có sức sống
lâu bền. Có những mơn thể thao truyền thống đã vượt khỏi ranh giới Quảng
Ninh, trở thành “hiện tượng” lạ, độc đáo khơng đâu trên đất nước Việt Nam có
được và đã nhiều cơ quan truyền thơng, báo chí quan tâm thơng tin như các trận
đá bóng của các cơ gái dân tộc Sán Chỉ Bình Liêu, giao lưu mở rộng với các cơ
gái Dao Thanh Y ở Hải Hà, Móng Cái.
Khác với nhiều mơn thể thao khác, những trị chơi dân gian, thể thao
truyền thống có sức sống là bởi nó ra đời và tồn tại, phát triển từ chính nhu cầu
giải trí, một số liên quan đến tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc, được cộng
đồng dễ dàng đón nhận. Thêm nữa là tính phổ cập, tập thể, nhiều người có thể
chơi. Ẩn sau nhiều mơn thể thao là nét đẹp văn hoá, thể hiện sự cầu mong, ước
vọng về một năm mới sức khoẻ, mưa thuận, gió hồ, một vụ mùa bội thu. Thơng
qua hoạt động thể thao còn là cơ hội để đồng bào giao lưu văn hoá, học hỏi kinh
nghiệm lao động, sản xuất giữa địa phương này với địa phương khác và hơn hết,
nhiều hoạt động thể thao truyền thống như các cô gái Sán Chỉ đá bóng kia cịn
góp phần quảng bá vẻ đẹp con người, vùng đất Quảng Ninh. [12]
2.2.2 Kết quả thực hiện chính sách di sản văn hóa
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội được quan tâm đầu tư, đạt được nhiều kết
quả tích cực. Trên địa bàn thị xã có hơn 200 di tích lịch sử - văn hóa với 34 di
15
tích được xếp hạng cấp quốc gia, 15 di tích cấp tỉnh được phục dựng, bảo tồn và
phát huy giá trị. Trong đó, Di tích lịch sử Chiến thắng Bạch Đằng được cơng
nhận Di tích quốc gia đặc biệt; Lễ hội Tiên Cơng được cơng nhận Di sản Văn
hóa phi vật thể cấp quốc gia. Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 92,2%, chất lượng
giáo dục được nâng lên.
Từ năm 2015 đến nay, tỉnh đã có 4 di sản văn hóa phi vật thể được đưa
vào danh mục di sản văn hóa quốc gia đó là lễ hội Tiên Cơng, lễ hội đền Cửa
Ơng, hát nhà tơ, hát cửa đình và nghi lễ Then của người Tày. Riêng thực hành
Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam mà Quảng Ninh có đại diện là
Then của người Tày ở Bình Liêu đã được UNESCO cơng nhận là Di sản văn
hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Nhiều chương trình, dự án liên quan đến
bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đã và đang được thực hiện hiệu quả như:
Nghiên cứu, phục dựng hát then - đàn tính, Sng cọ, lễ hội đền Lục Nà (huyện
Bình Liêu); hát giao duyên, hát ru của người Dao… [13]
2.3. Đánh giá ưu điểm nhược điểm
* Ưu điểm của việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể
Di sản mang tính đa nghĩa, nhiều mục đích và khơng ổn định theo thời
gian. Đây chính là cách bảo tồn trong phát triển của tỉnh Quảng Ninh. Qua đó
tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện đối với một số loại hình di sản phi vật thể là đi
liền với lễ hội là những trị chơi dân gian, các mơn thể thao. Những trị chơi,
môn thể thao đã trở thành cốt lõi, trung tâm của các sự kiện văn hoá, lễ hội và
được cộng đồng, du khách nhiệt liệt hưởng ứng tham gia.. Điểm mạnh của mơ
hình này là tạo nên sức hấp dẫn đối với cơng chúng đương đại, tạo nên tính sinh
động, độc đáo của di sản, tiếp thêm nguồn sinh khí cho di sản, tạo lên sự mới mẻ
cho các di sản văn hóa phi vật thể.
* Nhược điểm của việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể
16
Tuy nhiên, mặt trái của nó là dễ sa vào tình trạng con người sẽ qn đi các
trị chơi dân gian, quên đi những cái đã gắn liền với các lễ hội truyền thống mà
bản sắc văn hóa của nó là những trò chơi dân gian truyền thống.
* Ưu điểm của việc bảo tồn di sản văn hóa vật thể
Đây là quan điểm đã phát triển từ những năm 1850 trên thế giới và thịnh
hành trong một thời gian khá dài, gần giống như đóng vai trị chủ đạo đối với
cách thức quản lý di sản văn hóa ở nhiều quốc gia. Về việc đẩy mạnh phân cấp,
phân quyền, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp trong việc huy
động các nguồn lực để tu bổ, phục hồi các di sản văn hóa phi việc này sẽ
giúp các di sản văn hóa vật thể khơng bị mai một theo thời gian và sẽ phát
huy được hết giá trị văn hóa của tỉnh Quảng Ninh, gắn với quảng bá hình
ảnh các di tích và phát triển du lịch.
* Nhược điểm của việc bảo tồn di sản văn hóa vật thể
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo tồn di sản văn hóa vẫn cịn
gặp khơng ít khó khăn và thách thức. Về việc đây mạnh trong việc huy động các
nguồn lực sẽ khiến cho tỉnh cần nhiều nguồn lực hơn trong việc tu bổ các di tích
lịch sử văn hóa qua đó sẽ phải cần nhiều kinh phí hơn từ nhà nước.
2.4. Giải pháp khắc phục những hạn chế
* Giải pháp khắc phục nhược điểm của việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể
- Việc đưa các môn thể thao vào các lễ hội là việc tốt, tuy nhiên cần hạn
chế quá nhiều các môn thể thao, chỉ nên đưa 1 hoặc 2 môn thể thao vào để tăng
sự mới mẻ vì các trị chơi dân gian vẫn là một thứ không thể thiếu của lễ hội,
được xem như là linh hồn của lễ hội.
* Giải pháp khắc phục nhược điểm của việc bảo tồn di sản văn hóa vật thể
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh, trước hết là tập trung bảo
tồn các di tích thực sự cần được bảo tồn để tránh việc tốn kém kinh phí từ nhà
nước.
17
KẾT LUẬN
Văn hóa là tồn bộ phát minh và sáng tạo của lồi người như là: ngơn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hố. Mục đích của
việc thực thi các chính sách văn hóa là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa
18
truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa truyền thống của Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Vì thế việc thực thi các chính sách văn hóa đang là vấn đề rất
cần thiết.
Tỉnh Quảng Ninh cũng là tỉnh có cơng tác thực thi các chính sách văn hóa
của nhà nước và đạt được một số thành công nhất định. Tuy nhiên vẫn cịn
những khó khăn, thách thức và cả những hạn chế trong q trình triển khai các
chính sách văn hóa của nhà nước. Vì vậy để khắc phục những khó khan thách
thức này tỉnh Quảng Ninh cần phải nâng cao hiệu quả việc thực thi các chính
sách văn hóa hơn, đặc biệt phải đứng vững trên quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
về văn hóa, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc đi đơi với mở rộng hội nhập quốc
tế. Bên cạnh đó trách nhiệm của các cơ quan quản lý nằm trong hệ thống nhà
nước phải xác định rõ vai trò và trách nhiệm của mình. Có như vậy thì việc tổ
chức thực hiện tham mưu, chỉ đạo, thực hiện, kiểm tra giám sát việc hoạt động
việc triển khai thực thi các chính sách văn hóa mới đạt kết quả tốt nhất.
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Vũ Đăng Minh - ThS. Nguyễn Thế Vịnh (2016), Kỹ năng nghiệp
vụ công tác văn hóa-xã hội ở xã, phường, thị trấn, NXB CTQG - ST, Hà Nội
2. Quốc hội (2013). Luật di sản văn hóa
3. Quốc hội (2013). Hiến pháp 2013
4. rơi
5. />6. />7. />8. />9. />10. />11. />12. />13. />