Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
PHẦN THỨ NHẤT: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh của sáng kiến.
Xuất phát từ tình hình thực tế ở nhà trường nơi tôi đang công tác, bản thân
tôi đang là giáo viên giảng dạy Môn Tiếng Việt lớp 4, trong thời gian qua, tôi
nhận thấy việc giảng dạy, học tập và thực hành làm các bài tập Luyện từ và câu
của học sinh có nhiều điểm cần lưu tâm và đó chính là lý do bản thân tôi đã đúc
kết kinh nghiệm và áp dụng cụ thể vào thực tiễn giảng dạy.
2. Lí do chọn đề tài:
Mơn Tiếng Việt trong chương trình bậc Tiểu học nhằm hình thành và phát
triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập
và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi; giúp học sinh có cơ sở
tiếp thu kiến thức ở các lớp trên. Trong bộ môn Tiếng Việt phân mơn Luyện từ
và câu có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và rèn luyện
kỹ năng dùng từ đặt câu (nói - viết), kỹ năng đọc cho học sinh. Cụ thể là:
- Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ.
- Trang bị cho học sinh các kiến thức sơ giản về từ, rèn luyện kĩ năng dùng
từ.
- Trang bị các kiến thức sơ giản về câu, rèn luyện kĩ năng đặt câu và sử
dụng dấu câu.
- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng nói và viết thành câu, có
ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.
Trong thực tiễn, việc hướng dẫn học sinh lớp 4 giải quyết các dạng bài tập
Luyện từ và câu thực sự có hiệu quả khơng phải là dễ. Điều đó đặt ra cho các
Giáo viên Tiểu học những băn khoăn, trăn trở. Qua thực tế giảng dạy tơi đã gặp
phải khơng ít những khó khăn, nhất là khi dạy các dạng câu chia theo mục đích
nói và cách phân biệt hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?. Khi dự giờ đồng
nghiệp, giáo viên hướng dẫn làm các bài tập này chỉ mang tính máy móc, khơng
mở rộng, khắc sâu kiến thức bài học cho học sinh. Cịn về phía người học, nhiều
khi làm bài tập chỉ biết làm mà không hiểu tại sao làm như vậy, dẫn đến học sinh
không có hứng thú trong việc giải quyết vấn đề học tập, ngại tiếp nhận kiến
thức. Đặc biệt là các kiến thức về câu, kĩ năng đặt câu và sử dụng dấu câu học
sinh còn nhiều hạn chế. Do vậy việc dạy các dạng câu chia theo mục đích nói
và cách phân biệt hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?, đang là vấn đề trăn trở
cho các giáo viên và ngay bản thân tơi.
Từ những lí do trên, tơi cố gắng học hỏi, tìm tịi: Một số biện pháp dạy
các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt hai kiểu câu Ai làm gì?
và Ai thế nào?
1
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:
* Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 phân
môn Luyện từ và câu, tìm hiểu kĩ hơn các dạng câu chia theo mục đích nói và
cách phân biệt hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào? cho học sinh lớp 4.
* Đối tượng nghiên cứu:
- Chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việt 4.
- Phương pháp dạy phân môn Luyện từ và câu (Phương pháp dạy mạch
kiến thức: Các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt hai kiểu câu
kể Ai làm gì?, Ai thế nào?).
- Học sinh lớp 4.
4. Mục đích nghiên cứu:
Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là tìm phương pháp tổ chức
thích hợp nhất trong quá trình dạy Các dạng câu chia theo mục đích nói và cách
phân biệt hai kiểu câu kể Ai làm gì? Và Ai thế nào?. Từ đó vận dụng linh hoạt
vào hướng dẫn rèn kỹ năng làm các dạng bài tập về câu nói riêng và phân mơn
Luyện từ và câu nói chung cho học sinh một cách hiệu quả nhất.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu).
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG CỦA SÁNG KIẾN.
1. Cơ sở lí luận.
Nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục
con người, từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng Tiếng Việt một cách tự giác nhằm để
giáo dục trẻ nhỏ.
Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà;
lớn lên chút nữa là những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dịng sữa ngọt
ngào ni dưỡng tâm hồn trẻ để rèn luyện các em thành con người có nhân cách,
có bản sắc dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã
hội.
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như một
điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường. Cả thế giới đang mở trước
mắt các em. Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ
đẳng nhất. Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn
học.
2
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụng
ngơn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh. Ngôn ngữ là thứ cơng cụ có tác
dụng vơ cùng to lớn. Nó có thể diễn tả tất cả những gì con người nghĩ ra, nhìn
thấy biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan không thể vươn tới
được. Các mơn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn
diện học sinh phải kể đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lượng khá
lớn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Nó tách thành một phân mơn độc lập, có vị
trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn ... song song tồn tại với các
môn học khác. Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần
thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở
hình thành ngơn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức
mới trong các môn học khác. Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa, luyện tập
nhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các bài tập trong phân mơn Luyện từ và
câu lớp 4 nói chung và các kiến thức sơ giản về câu nói riêng nhằm rèn luyện
cho học sinh kĩ năng đặt câu, sử dụng dấu câu phục vụ cho viết đoạn văn, bài
văn.
2. Cơ sở thực tiễn.
2.1. Đối với chương trình sách giáo khoa:
Số tiết Luyện từ và câu của chương trình Sách giáo khoa lớp 4 gồm 2
tiết/tuần. Sau mỗi tiết hình thành kiến thức là một loạt các bài tập củng cố bài.
Để việc viết đoạn văn, bài văn tốt hơn thì học sinh cần nắm chắc các kiến thức
về câu, cách đặt câu và sử dụng dấu câu thành thạo. Thời lượng học nội dung
kiến thức này cịn ít: Câu hỏi: 4 tiết; Câu kể: 12 tiết; Câu khiến: 3 tiết; Câu cảm:
1 tiết. Nên việc xác định phương pháp tổ chức cho một tiết, xác định yêu cầu
của bài và hướng giải quyết phải phát huy triệt để vốn kiến thức cho học sinh
khi luyện tập, thực hành.
2.2. Đối với giáo viên:
Phân môn “Luyện từ và câu” tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để học
sinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản
về Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp, từ đó nâng cao các
kỹ năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh. Giáo viên là một trong 3 nhân tố cần
được xem xét của quá trình dạy học “Luyện từ và câu”, là nhân tố quyết định sự
thành cơng của q trình dạy học này. Khi nghiên cứu quá trình dạy hướng dẫn
học sinh làm các dạng bài tập “Các dạng câu chia theo mục đích nói và cách
phân biệt các kiểu câu kể” cho học sinh lớp 4, tôi thấy thực trạng của giáo viên
như sau:
- Đây là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫn học sinh nắm được yêu
cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm lý giáo viên ngại bởi
việc vận dụng của giáo viên cịn lúng túng gặp khó khăn.
3
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
- Giáo viên chưa đầu tư nhiều thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác
kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vào đáp án, gợi
ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này.
- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách
giáo khoa, sách giáo viên, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh.
- Đôi khi, giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển
vốn từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng
Việt.
- Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mới
phương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này. Nhưng kết quả giảng
dạy và hiệu quả cịn bộc lộ khơng ít những hạn chế.
2.3. Đối với học sinh:
Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân
môn “Luyện từ và câu” nên chưa dành thời gian thích đáng để học phân mơn
này.
Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu, cách sử dụng dấu câu
khi viết đoạn văn, bài văn ... Từ đó dẫn đến việc nhận diện phân loại, xác định
hướng làm bài lệch lạc. Việc xác định các kiểu câu còn nhầm lẫn.
Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ
sót, làm sai hoặc khơng làm hết yêu cầu của đề bài.
Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trơi
chảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài khơng
đạt u cầu. Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụ
động và tỏ ra yếu kém thiếu chắc chắn.
Qua khảo sát và thực tế giảng dạy chương trình sách giáo khoa mơn Tiếng
Việt lớp 4 tơi nhận thấy:
+ Phần Tập đọc: đọc đúng và đọc hiểu học sinh thực hiện tương đối tốt.
Phần kiến thức về Luyện từ và câu và Tập làm văn học sinh thực hiện chưa tốt.
Nguyên nhân là do kỹ năng đặt câu và sử dụng câu còn yếu, đặc biệt là việc
phân biệt hai mẫu câu: “Ai làm gì?” và “Ai thế nào?”.
+ Tơi có cho HS xác định câu: “Xe chạy trên đường.” thuộc mẫu câu nào
thì đa số HS xác định đó là mẫu câu: “Ai làm gì?” - nhưng thực tế đó lại là mẫu
câu “Ai thế nào?”
* Nguyên nhân
- Học sinh chưa hiểu kỹ cách xác định các kiểu câu; GV chưa chỉ cho HS
cách phân biệt giữa các kiểu câu, từ đó học sinh xác định sai.
- Các em còn lúng túng và rất hay nhầm lẫn các kiểu câu chia theo mục
đích nói, nhất là phần kiến thức về câu hỏi dùng với mục đích khác, HS thường
4
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
nhầm với câu kể, câu khiến. Đặc biệt là sự nhầm lẫn giữa 2 kiểu câu Ai làm gì?
và Ai thế nào?
- Trong quá trình làm bài, học sinh chưa biết trình bày khoa học rõ ràng, câu
trả lời chưa đầy đủ.
Vì vậy, để giúp các em học tốt các kiến thức sơ giản về câu, kĩ năng đặt câu
và sử dụng dấu câu, tôi xin đề xuất: Một số biện pháp dạy các dạng câu chia
theo mục đích nói và cách phân biệt hai kiểu câu Ai là gì? và Ai thế nào?
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Những biện pháp chung:
1.1. Nắm vững nội dung chương trình.
Việc nắm vững nội dung, chương trình là yêu cầu cần thiết và bắt buộc đối
với mọi giáo viên. Bởi vì mỗi đơn vị kiến thức Tiếng Việt nói chung và Luyện từ
và câu nói riêng ở Tiểu học như những mắt xích nằm trong hệ thống logic kiến
thức và kỹ năng của chương trình. Nếu khơng nắm vững nội dung chương trình
tồn cấp học người giáo viên khơng thể cung cấp cho HS một cách có hệ thống
các kiến thức, kĩ năng mà HS cần lĩnh hội.
1.2. Giáo viên cần được định hướng đổi mới phương pháp dạy học nói
chung và phương pháp dạy học mơn Tiếng Việt (dặc biệt là dạy Luyện từ và
câu) nói riêng.
- Muốn cho các em học tập môn Tiếng Việt đạt hiệu quả cao đặc biệt là
phân môn Luyện từ và câu lớp 4, đòi hỏi giáo viên phải tạo cho HS niềm say mê
hứng thú. Vì vậy phải lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp để phát huy
tính tích cực, chủ động sáng tạo trong HS, tính hiệu quả của từng bài học, từng
đơn vị kiến thức tránh nhàm chán.
- Qua nghiên cứa tài liệu chuyên môn và thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: về
mặt bản chất đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các
phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên
cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt
một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo
của HS. Như vậy mục đích cuối cùng của đổi mới phương pháp nói chung và
phương pháp dạy học Tiếng Việt nói riêng là làm thế nào để HS phải thực sự
tích cực, chủ động, tự giác, ln trăn trở tìm tịi, suy nghĩ và sáng tạo trong q
trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội các cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát
triển và hoàn thiện nhân cách mình.
1.3. Học sinh phải nắm vững kiến thức cũ.
Các kiểu câu Ai thế nào? và Ai làm gì? Ai là gì? đã được học từ lớp 2 vì vậy
để học tốt phần Luyện từ và câu lớp 4 thì học sinh phải nắm vững các kiến thức
về các kiểu câu này. Đầu năm học nên tiến hành kiểm tra các kiến thức này nếu
5
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
học sinh nắm chưa vững thì giáo viên nên có kế hoạch bổ sung để các em nắm
chắc kiến thức cũ thì việc dạy Luyện từ và câu của lớp 4 mới có hiệu quả.
1.4. Tạo niềm say mê, hứng thú cho HS khi học Luyện từ và câu.
Khi dạy Luyện từ và câu, tôi luôn cố gắng cho HS sử dụng đồ dùng học tập
để nắm bài một cách bản chất hơn. Ngoài ra tơi cịn tổ chức các hình thức học
tập sinh động như: trị chơi học tập, sưu tầm những câu khó để các em thảo luận
… Tơi ln khuyến khích các em tự sưu tầm những câu văn, những từ ngữ khó
để cả lớp cùng tham khảo.
1.5. Lựa chọn biện pháp dạy học đa dạng vừa sức với học sinh.
- GV cần nêu đề bài một cách rõ ràng, sau đó yêu cầu HS nhắc lại đề bài,
GV cần giải thích để em nào cũng nắm rõ yêu cầu của bài tập.
- Khi hướng dẫn HS làm bài tập, GV cần nắm chắc trình tự giải bài tập và dự
tính trước các khó khăn và những lỗi HS mắc phải để kịp thời sửa chữa.
- Quan tâm đến đối tượng học sinh trong giảng dạy chính là chú ý đến việc
nâng cao chất lượng đại trà.
- Quan tâm tới việc trình bày của học sinh. Các em làm bài có thể tốt nhưng
cách trình bày bố cục bài làm của học sinh còn là cả một vấn đề cần chấn chỉnh.
- Cuối cùng là bước kiểm tra, đánh giá. Việc kiểm tra, đánh giá vừa kích
thích hứng thú học tập của HS vừa cho HS một mẫu sản phẩm tốt nhất nên GV
cần dành nhiều thời gian cho khâu này. Phải có một mẫu giải đúng và dùng nó
đối với bài làm của HS. Với những bài làm sai, GV không nhận xét chung chung
mà chỉ ra cho HS biết sai ở đâu, như thế nào một cách chi tiết, cụ thể cho HS có
thể sửa chữa hoặc GV đưa ra một mẫu giải đúng để HS căn cứ vào đó để đối
chiếu và tự chữa bài của mình.
2. Những biện pháp cụ thể:
2.1. Dạy các dạng câu chia theo mục đích nói.
2.1.1. Biện pháp 1: Dạy kĩ phần lí thuyết cho học sinh trong từng loại
câu cụ thể:
- Giúp học sinh nắm rõ cấu tạo của từng kiểu câu (về cấu tạo ngữ pháp; dấu
câu).
- Hiểu rõ tác dụng của mỗi câu - dùng trong trường hợp nào, văn cảnh nào
cho phù hợp.
2.1.2. Biện pháp 2: Dạy cách phân biệt từng dạng câu trong văn cảnh
cụ thể:
a) Câu hỏi:
Trong chương trình Sách giáo khoa lớp 4 mới, phần học về Câu hỏi có đưa
vào kiến thức: “Câu hỏi dùng với mục đích khác”. Đây là kiến thức khó khơng
chỉ với HS mà bản thân giáo viên khi dạy còn rất lúng túng. Qua thực tế giảng
dạy tôi thấy các em rất dễ nhầm lẫn giữa câu hỏi với các kiểu câu khác như:
VD: Tơi khơng rõ anh có đồng ý với tôi không.
6
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
Câu này là một câu kể dùng với mục đích khác nhưng trong thực tế HS hay
nhầm là câu hỏi vì trong câu này có từ nghi vấn “không”.
VD: Bài tập số 5 trang 137 (Luyện tập về câu hỏi) yêu cầu của bài là: Xác
định câu nào không phải là câu hỏi, không được dùng dấu chấm hỏi.
Tơi khơng biết là bạn có thích chơi diều không?
Đa số HS nhầm đây là câu hỏi bởi từ nghi vấn “Không”.
- Khi dạy bài này tôi hướng dẫn HS muốn xác định được câu này có phải là
câu hỏi hay không phải xác định được:
+ Câu này dùng để hỏi ai? Hỏi người khác hay hỏi chính người nói?.
+ Từ nghi vấn trong câu là từ nào?
Bất cứ câu hỏi nào cũng phải có hai điều kiện trên nếu khơng đủ hai điều
kiện trên thì khơng phải là câu hỏi.
Câu: “Tơi khơng biết bạn có thích chơi diều khơng.” Câu này chỉ có một
điều kiện là từ nghi vấn: “Không”. Câu này không dùng để hỏi người khác cũng
khơng dùng để hỏi người nói, mà dùng để kể về suy nghĩ của người nói, nên câu
này là câu kể.
b) Câu khiến:
Cũng tương tự như câu hỏi khi dạy câu khiến HS cũng hay bị nhầm lẫn:
+ Nhầm lẫn giữa câu khiến và câu hỏi.
VD : - Anh có thể cho biết mấy giờ có xe đi miền Đơng?
- Anh hãy cho biết mấy giờ có xe đi miền Đông!
Cả 2 câu này đều dùng với mục đích là yêu cầu mong muốn người khác cho
biết “mấy giờ có xe đi miền Đơng” nếu khơng có dấu câu ở cuối thì học sinh khó
xác định được đâu là câu hỏi, đâu là câu khiến.
Câu “Anh hãy cho tơi biết mấy giờ có xe đi miền Đơng!” có dấu chấm than,
có từ “hãy” đứng trước động từ.
Câu “Anh có thể cho tơi biết mấy giờ có xe đi miền Đơng?”. Cuối câu có dấu
chấm hỏi, có từ nghi vấn là “có thể”
Khi xác định các câu trên học sinh thường căn cứ vào dấu câu để xác định.
Nhưng đối với bài tập như:
Bài 5 (trang 137) Trong các câu dưới đây câu nào không phải là câu hỏi và
khơng được dùng dấu chấm hỏi.
- Bạn có thích chơi diều khơng?
- Tơi khơng biết bạn có thích chơi diều khơng?
- Hãy cho biết bạn thích trị chơi nào nhất?
Khi dạy các bài tập dạng này tôi hướng dẫn HS muốn xác định câu này có
phải câu khiến hay khơng phải xác định được:
+ Câu khiến dùng để yêu cầu, đề nghị, mong muốn của người nói, người viết
với người khác.
+ Câu khiến thường có các từ: hãy, đừng, chớ, phải … trước các động từ.
Các từ: lên, đi, thôi, nào … ở cuối câu. Các từ: đề nghị, xin, mong… ở đầu câu.
7
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
Tơi hướng dẫn HS xác định trong câu xem câu nào đảm bảo cả 2 điều kiện
trên thì đó là câu khiến: câu c: “Hãy cho biết bạn thích trị chơi nào nhất?” thoả
mãn cả hai điều kiện trên (có nội dung: là yêu cầu, mong muốn và có từ “hãy”
đứng trước động từ) nên nó là câu khiến.
c) Câu kể .
Ở câu này HS dễ nhầm lẫn với các câu khiến vì có trường hợp câu khiến kết
thúc câu có dấu chấm.
VD :
a. Ơng lão nghe xong bảo rằng:
- Con đi chặt cho đủ một trăm đốt tre mang về đây cho ta.
b. Một lần Nhím đến thăm Rắn nước và bảo:
- Anh rắn nước ơi, anh cho tôi vào tổ của anh ở nhờ ít lâu.
Đa số HS khi xác định câu này chỉ nhìn vào một điều kiện đó là dấu chấm ở
cuối câu và cho đó là câu kể nên đã nhầm lẫn với câu khiến, vì câu khiến cũng
có dấu chấm ở cuối câu. Khi dạy bài này tôi chú ý HS xác định nội dung trong
câu để phân biệt. Vì nội dung của câu khiến và câu kể hồn toàn khác nhau: câu
kể dùng để kể, tả, giới thiệu về sự vật, sự việc hoặc nói lên ý kiến tâm tư tình
cảm của mỗi người. Cịn câu khiến dùng để yêu cầu, đề nghị mong muốn của
người nói, người viết với người khác .
Như vậy dựa vào nội dung HS xác định được ở câu a: yêu cầu “chặt cho
đủ” cịn câu b là mong muốn “cho tơi” vì vậy là 2 câu khiến.
Mặt khác đối với kiểu câu khiến mà có dấu chấm câu ở cuối câu thường có
trong đoạn hội thoại trực tiếp hoặc gián tiếp giữa các nhân vật nên rất dễ xác
định nội dung của câu đó.
d) Câu cảm.
Đối với kiểu câu này HS thường nhầm với câu khiến vì về hình thức cả hai
kiểu câu này cuối câu đều có dấu chấm than.
VD: - Sao vườn hoa đẹp thế mẹ nhỉ! (Câu cảm)
- Mẹ ơi, mẹ hãy giả vờ quay đi chỗ khác một tí, để cho con ngắt
bơng hoa đi, mẹ! (Câu khiến)
Nếu chỉ nhìn vào hình thức là cuối câu có dấu chấm than thì khơng thể xác
định được đó là câu cảm hay câu khiến. Để hướng dẫn HS xác định đúng không
nhầm lẫn tôi hướng dẫn HS đọc kĩ để xác định nội dung. Nếu là câu cảm thì nội
dung của câu cảm nó bộc lộ cảm xúc của người nói và thường có các thán từ: ơi,
chao ơi, ối, ái, ái chà …
2.2. Cách phân biệt kiểu câu Ai làm gì? với kiểu câu Ai thế nào?
2.2.1. Biện pháp 1: Dạy kĩ phần lí thuyết cho học sinh khi học câu kể Ai
làm gì?, Ai thế nào?
- Nắm vững khái niệm về hai kiểu câu kể.
- Hiểu cấu tạo, ý nghĩa của các bộ phận chủ ngữ, vị ngữ trong câu.
- Nhận biết và nêu tác dụng của từng loại câu kể đã học trong đoạn văn.
8
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
- Viết được đoạn văn ngắn có sử dụng các kiểu câu kể đã học.
2.2.2. Biện pháp 2: Dạy cách phân biệt câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?
trong văn cảnh cụ thể:
a) Câu kể Ai làm gì?: Chủ ngữ thường chỉ người, động vật, ít khi chỉ bất
động vật và trả lời câu hỏi: Ai? Con gì? ít khi trả lời cho câu hỏi Cái gì? trừ
trường hợp sự vật (bất động vật) nêu ở chủ ngữ được nhân hoá. Vị ngữ kể về
hoạt động của chủ ngữ là động từ (hoặc cụm động từ) chỉ hoạt động đảm nhiệm.
VD:
+ Em nhỏ đùa vui trước nhà sàn. (CN chỉ người, VN là động từ chỉ hoạt
động)
+ Chim sơn ca hót líu lo. (CN chỉ động vật, VN là động từ chỉ hoạt động)
+ Trong vườn, chị Bưởi đang bế hàng trăm đứa con trịn trùng trục. (CN
chỉ bất động vật được nhân hố, VN là động từ chỉ hoạt động)
b) Câu kể Ai thế nào?: Chủ ngữ chỉ người, động vật, bất động vật và trả lời
câu hỏi: Ai? Con gì? Cái gì? Vị ngữ miêu tả đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái
của chủ ngữ là động từ (cụm động từ) trạng thái hoặc tính từ. Vị ngữ có khi cịn
là một cụm chủ vị.
VD :
+ Anh ấy trẻ và thật khoẻ mạnh. (CN chỉ người, VN là tính từ, cụm tính từ)
+ Đàn voi thật hiền lành. (CN chỉ động vật, VN là cụm tính từ )
+ Con mèo đang ngủ. (CN chỉ động vật, VN là cụm động từ chỉ trạng thái)
+ Bên đường, cây cối xanh um. (CN chỉ bất động vật, VN là tính từ )
Trong thực tế đa số HS xác định nhầm kiểu câu: Ai thế nào? thành kiểu câu:
Ai làm gì?
c) Trường hợp: Câu kể “Ai thế nào?” có chủ ngữ chỉ bất động vật, vị ngữ
là động từ chỉ trạng thái:
VD: + Ngôi nhà tôi núp dưới rừng cọ.
+ Cánh đồng lúa đã trổ hoa vàng.
+ Bức tranh treo trên tường.
Những câu ở dạng này các động từ làm vị ngữ (núp, trổ, treo) thường gợi
hình ảnh hoạt động của người và động vật vì vậy HS thường xác định nhầm là
động từ chỉ hoạt động nhưng chủ ngữ ở các câu này (ngôi nhà, cánh đồng, bức
tranh) là bất động vật không được nhân hoá nên động từ chỉ hoạt động đã
chuyển đổi ý nghĩa thành động từ chỉ trạng thái vì vậy học sinh đã xác định
nhầm đây là kiểu câu “Ai làm gì?” nhưng thực chất những câu này thuộc kiểu
câu “Ai thế nào?” vì chủ ngữ của chúng chỉ bất động vật khơng được nhân hố
cịn vị ngữ là động từ chỉ trạng thái.
Khi dạy học sinh tôi yêu cầu học sinh dựa vào đặc điểm của chủ ngữ (chỉ
người, chỉ vật, hay bất động vật thì có được nhân hố khơng) để phân loại. Cịn
vị ngữ của các động từ chỉ bất động vật khơng được nhân hố thường là động từ
chỉ trạng thái ... nên HS dễ dàng xác định các kiểu câu trên là kiểu câu “Ai thế
9
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
nào? vì chủ ngữ các câu trên là: ngôi nhà, cánh đồng lúa, bức tranh là bất động
vật khơng được nhân hố cịn vị ngữ là động từ chỉ trạng thái.
d) Trường hợp: Chủ ngữ chỉ người, vị ngữ là động từ chỉ hoạt động
chuyển đổi ý nghĩa thành động từ chỉ sự tồn tại.
VD: Các bà đeo những vòng bạc, vòng vàng. Các chị mặc những chiếc váy
thêu rực rỡ.
Ở hai câu này mục đích chính là để diễn tả cái đẹp của các bà, các chị (các
bà, các chị có những vật đó) nên các động từ: “đeo, mặc” là động từ chỉ hoạt
động nó chuyển đổi ý nghĩa thành động từ chỉ sự tồn tại có thể thay thế bằng
động từ “có” vẫn không làm thay đổi ý nghĩa của câu. Nếu chỉ căn cứ vào chủ
ngữ, vị ngữ thì HS sẽ xác định đây là kiểu câu: “Ai làm gì?” nhưng thực tế nó là
kiểu câu: “Ai thế nào?”. Vì vậy khi dạy kiểu câu này tôi yêu cầu HS căn cứ vào
nội dung xem câu đó muốn diễn tả điều gì để xác định cho đúng.
e) Trường hợp: Câu kể: Ai thế nào? có thể lược bỏ động từ mà không ảnh
hưởng đến ý nghĩa chung của câu:
VD : + Áo này mặc đẹp.
+ Cam này ăn ngon.
+ Gạo này nhìn ngon.
+ Chè này uống bổ.
Các câu này có mở đầu là danh từ (cụm danh từ), kế đến là động từ (cụm
động từ), cuối cùng là một tính từ (cụm tính từ). Danh từ (cụm danh từ) đứng ở
đầu câu thường chỉ đồ vật, cây cối, khái niệm được nêu ra để nhận xét, đánh giá.
Rất ít khi gặp danh từ (cụm danh từ) chỉ động vật ở vị trí này. Ta nhận thấy trong
các câu trên, động từ khơng phải là bộ phận chính của vị ngữ vì chúng có thể
được lược bỏ mà khơng ảnh hưởng gì đến ý nghĩa chung của câu.
+ Áo này mặc đẹp.
Áo này đẹp.
+ Cam này ăn ngon.
Cam này ngon.
+ Gạo này nhìn ngon.
Gạo này ngon.
+ Chè này uống bổ.
Chè này bổ.
Ta có thể thấy bộ phận chính là tính từ. Danh từ (cụm danh từ) đứng đầu câu
biểu thị sự vật có đặc điểm được miêu tả bằng tính từ và trả lời câu hỏi: Cái gì?
Khi dạy các câu dạng này học sinh thường không biết xác định vị ngữ chính là
từ nào vì vậy khi tơi dạy học sinh lần lượt lược bỏ trong từ ngữ có thể làm vị
ngữ nếu thấy khi lược bỏ ý nghĩa của các câu khơng thay đổi thì đó là vị ngữ
chính từ đó dễ dàng xác định đó là kiểu câu gì.
Chè này uống bổ.
Chè này uống (ý nghĩa của câu thay đổi - không
thành câu)
Chè này uống bổ.
Chè này bổ (ý nghĩa của câu không thay đổi)
3. Hiệu quả của việc áp dụng sáng kiến
10
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
3.1. Sau khi áp dụng những biện pháp trên vào dạy Các dạng câu chia
theo mục đích nói và cách phân biệt hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?, tơi
đã cho học sinh làm các bài tập sau:
BÀI TẬP
Bài 1. Tìm câu hỏi, câu kể, câu cảm, câu khiến trong đoạn văn sau:
Ngày chủ nhật, mẹ dẫn con đi chơi vườn hoa. Sao vườn hoa đẹp thế mẹ
nhỉ! Con nhìn đâu cũng thấy những bơng hoa đủ màu sắc. Sao lại có bơng hoa
đẹp thế hả mẹ? Giữa vịm lá um tùm, xanh mướt, cịn ướt đẫm sương đêm, bơng
hoa dập dờn trước gió, khi ẩn khi hiện. Lại gần, con mới biết đó là một bơng
hồng. “Mẹ ơi, mẹ hãy giả vờ quay đi chỗ khác một tí, để cho con ngắt bông hoa
đi, mẹ!” Đến gần trưa, các bạn con vui vẻ chạy lại. Con khoe với các bạn về
bông hoa.
(Theo Trần Hồi Dương)
Bài 2. Chuyển câu kể: “Chim hót.” thành câu hỏi, câu cảm, câu khiến.
Bài 3. Viết một đoạn văn ngắn nói về một con vật ni trong nhà, trong
đoạn văn có sử dụng hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?
3.2. Kết quả đạt được như sau: (Tổng số học sinh: 38 em)
- Học sinh nắm chắc kiến thức, kĩ năng cơ bản của các kiểu câu chia theo
mục đích nói và phân biệt được hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?, thực
hành làm tốt các dạng bài tập theo quy định: 26 em = 68.4 %
- Học sinh nắm tương đối chắc kiến thức, kĩ năng cơ bản của các kiểu câu
chia theo mục đích nói và phân biệt được hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế
nào?, thực hành làm khá tốt các dạng bài tập theo quy định: 7 em = 18.4 %
- Học sinh nắm được kiến thức, kĩ năng cơ bản của các kiểu câu chia theo
mục đích nói và phân biệt được hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?, thực
hành làm được các dạng bài tập theo quy định: 5 em = 13.2 %
3.3. Như vậy, khi học sinh đã được củng cố, khắc sâu, mở rộng và rèn kĩ
năng luyện tập thực hành về Các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân
biệt hai kiểu câu Ai làm gì?, Ai thế nào?, tôi nhận thấy:
- Học sinh được tổ chức hoạt động một cách độc lập, tìm tịi kiến thức, tầm
nhận thức đối với mọi đối tượng học sinh là phù hợp, nên học sinh tiếp thu một
cách có hiệu quả.
- Các em biết dựa vào kiến thức lý thuyết để vận dụng làm các bài tập một
cách chủ động.
- Với phương pháp tổ chức này học sinh nắm kiến thức một cách sâu sắc có
cơ sở, được đối chứng qua nhận xét của bạn, của giáo viên.
- Các em đã hình thành được thói quen đọc kỹ bài, xác định u cầu của bài,
khơng cịn tình trạng bỏ sót yêu cầu của đề bài.
11
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
- Học sinh có ý thức rèn cách trình bày sạch sẽ, khoa học, biết dùng từ đặt
câu hợp lý. Ngồi ra học sinh cịn có thêm thói quen kiểm tra, sốt lại bài của
mình.
III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
Sáng kiến này tôi đã áp dụng thử tại đơn vị đối với phân môn Luyện từ và
câu lớp 4. Qua thời gian áp dụng tôi thấy thật sự hiệu quả trong việc nâng cao
chất lượng dạy và học phân môn Luyện từ và câu Lớp 4 nói riêng, mơn Tiếng
Việt nói chung. Tơi thiết nghĩ sáng kiến này có thể áp dụng rộng rãi trong các
trường tiểu học.
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
1. Kết luận:
Thơng qua q trình nghiên cứu đề tài và thực tế giảng dạy Các dạng câu
chia theo mục đích nói và cách phân biệt hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4, tôi xin đề
xuất một số biện pháp như sau:
- Giáo viên cần nắm vững trình độ học sinh trong lớp, tìm hiểu nguyên nhân
dẫn đến chất lượng học Luyện từ và câu còn hạn chế, những sai lầm học sinh
thường mắc phải khi học phần kiến thức này.
- Giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình mơn Tiếng Việt tồn cấp nói
chung và phần kiến thức Luyện từ và câu nói riêng trong tổng thể chương trình
của bậc học.
- Điều quan trọng nhất là GV phải nắm được tinh thần đổi mới phương pháp
dạy học nói chung, định hướng đổi mới phương pháp dạy học mơn Tiếng Việt
nói riêng để từ đó áp dụng vào giảng dạy vận dụng linh hoạt.
- Coi trọng các phương pháp dạy học mới, với các hình thức dạy học đa
dạng, phong phú để học sinh làm việc tích cực, chủ động, tự giác sáng tạo trong
việc chiếm lĩnh tri thức.
- Giáo viên cần vững các kiến thức về các kiểu câu chia theo mục đích nói
đặc biệt là phần kiến thức về câu hỏi dùng với mục đích khác, phát hiện ra
những nhầm lẫn học sinh thường mắc phải khi học các loại câu này.
- Đối với kiểu câu: Ai làm gì? và Ai thế nào? HS rất hay nhầm lẫn vì vậy khi
dạy GV cần cho HS nắm vững đặc điểm của hai kiểu câu này và đưa ra những ví
dụ để so sánh chúng, đặc biệt là những ví dụ học sinh hay nhầm lẫn.
- GV cần nêu đề bài một cách rõ ràng, sau đó yêu cầu HS nhắc lại đề bài,
giáo viên cần giải thích để em nào cũng nắm rõ yêu cầu của bài tập.
- Khi hướng dẫn HS làm bài tập, giáo viên cần nắm chắc trình tự giải bài tập
và dự tính trước các khó khăn và những lỗi HS mắc phải để kịp thời sửa chữa.
- Cuối cùng là bước kiểm tra, đánh giá. Đây là việc làm quan trọng mà nhiều
giáo viên không chú ý hay bỏ qua. Việc kiểm tra, đánh giá vừa kích thích hứng
12
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
thú học tập của học sinh vừa cho học sinh một mẫu sản phẩm tốt nhất. Giáo viên
nên dành thời gian cho khâu này và phải đưa ra một mẫu giải đúng để học sinh
căn cứ vào đó để đối chiếu và tự chữa bài.
2. Kiến nghị:
Dạy các dạng bài tập “Luyện từ và câu” là nguồn cung cấp vốn từ, lối
diễn đạt bồi dưỡng tư duy văn học cho học sinh. Muốn vậy:
* Đối với học sinh: Các em cần quan tâm, xác định được tầm quan trọng
của môn này. Các em cần được động viên, khích lệ kịp thời, đúng lúc của mọi
người để kích thích các em có nhiều cố gắng vươn lên trong học tập, đó chính là
gia đình – nhà trường xã hội.
* Đối với giáo viên: Không ngừng học hỏi tìm tịi tích luỹ kinh nghiệm từ
đồng nghiệp, từ thơng tin, sách vở và từ chính học sinh.
+ Nắm chắc nội dung chương trình, ý đồ của sách giáo khoa, dạy sát đối
tượng học sinh, lựa chọn phương pháp hình thức tổ chức phù hợp với mỗi dạng
bài.
+ Giáo viên phải tâm huyết với nghề, luôn đặt học sinh là trung tâm, có
trách nhiệm với việc học của học sinh và bài dạy của mình. Động viên gần gũi
giúp đỡ học sinh.
* Đối với nhà trường:
+ Nhà trường cần tạo điều kiện cơ sở vật chất để giáo viên và học sinh có
thể học tập nâng cao kiến thức.
+ Động viên khuyến khích kịp thời những giáo viên, học sinh đạt nhiều
thành tích cao trong giảng dạy và học tập.
+ Quan tâm xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có trình độ chun
mơn nghiệp vụ.
Trên đây là một số kinh nghiệm của tơi trong q trình dạy Các dạng câu
chia theo mục đích nói và cách phân biệt hai kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế
nào?. Với đề tài này, tơi hi vọng đóng góp một phần nhỏ bé nhằm nâng cao chất
lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu. Tôi rất mong nhận được sự góp ý quý
báu của Hội đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm cùng các bạn đồng nghiệp.
XÁC NHẬN CỦA BAN LÃNH ĐẠO
Hà Nam, ngày 5 tháng 3 năm 2020
NGƯỜI THỰC HIỆN
Phạm Thị Thoại
13
Một số biện pháp dạy các dạng câu chia theo mục đích nói và cách phân biệt
hai kiểu câu Ai làm gì? và Ai thế nào?
14