Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Trường TH liêm tiết t việt lại thị hương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (142.82 KB, 16 trang )

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh của sáng kiến
Xuất phát từ kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, từ khả năng nhận biết
và vận dụng kiến thức về từ và câu của học sinh trong phân môn Luyện từ và
câu nói chung, trong mơn học Tiếng Việt nói chung tơi đã mạnh dạn áp dụng
kinh nghiệm phát huy tính tích cực của học sinh trong phân mơn Luyện từ và
câu 5 tại đơn vị mình và bước đầu đã đạt được kết quả như mong muốn.
2. Lí do chọn đề tài.
Trong chương trình mơn Tiếng Việt ở tiểu học, luyện từ và câu được tách
thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với các phân mơn khác như
Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn... Như vậy nội dung dạy về luyện từ và câu
trong chương trình mơn Tiếng Việt nói riêng, các mơn học nói chung ở Tiểu học,
chiếm một tỷ lệ đáng kể. Điều đó nói lên ý nghĩa quan trọng của việc dạy luyện
từ và câu ở Tiểu học. Nói đến dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học người ta thường
nói tới 3 nhiệm vụ chủ yếu là giúp học sinh phong phú hố vốn từ, chính xác
hố vốn từ và tích cực hố vốn từ. Phong phú hố vốn từ cịn gọi là mở rộng vốn
từ, phát triển vốn từ nghĩa là xây dựng một vốn từ ngữ phong phú, thường trực
và có hệ thống trong trí nhớ học sinh, để tạo điều kiện cho từ đi vào hoạt động
ngôn ngữ (nghe - đọc, nói - viết) được thuận lợi. Chính xác hoá vốn từ là giúp
học sinh hiểu nghĩa của từ một cách chính xác - nhất là đối với những từ ngữ mà
học sinh thu nhận được qua cách học tự nhiên, đồng thời giúp học sinh nắm
được nghĩa của những từ ngữ mới. Tích cực hố vốn từ là giúp học sinh luyện
tập, sử dụng từ ngữ trong nói - viết, nghĩa là giúp học sinh chuyển hoá những từ
ngữ tiêu cực ( từ ngữ mà chủ thể nói năng hiểu nhưng khơng hoặc ít dùng) thành
những từ ngữ tích cực (từ ngữ được chủ thể nói năng sử dụng trong nói - viết)
phát triển kỹ năng, kỹ xảo phát triển từ ngữ cho học sinh. Trong 3 nhiệm vụ cơ
bản nói trên, nhiệm vụ phong phú hố vốn từ, phát triển, mở rộng vốn từ được
coi là trọng tâm. Bởi vì, đối với học sinh tiểu học, từ ngữ được cung cấp trong
phân môn Luyện từ và câu giúp các em hiểu được các phát ngôn khi nghe - đọc.
Ngồi ra, ở một chừng mực nào đó, phân mơn Luyện từ và câu ở Tiểu học cịn
có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một số khái niệm có tính chất sơ giản ban


đầu về cấu tạo từ và nghĩa của từ Tiếng Việt (như các khái niệm từ đồng nghĩa,
từ trái nghĩa, từ đồng âm, nghĩa của từ ...). Những kiến thức có tính chất lý
thuyết về từ này có tác dụng làm cơ sở, làm chỗ dựa cho việc thực hành luyện
tập về từ ngữ cho học sinh. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của phân môn
này, tôi mạnh dạn nghiên cứu : '' Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy
Luyện từ và câu lớp 5”
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

3


3. Phạm vi và đối tượng của sáng kiến:
3.1. Phạm vi áp dụng của sáng kiến:
Sáng kiến này được áp dụng trong dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp 5.
3.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Chỉ đi sâu nghiên cứu các dạng bài của phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Các kiến thức cơ bản và kĩ năng cần đạt về luyện từ và câu của học sinh
lớp 5.
4. Mục đích của sáng kiến:
- Bản thân tơi được tích lũy thêm kinh nghiệm khi dạy Tiếng Việt nói
chung, dạy Luyện từ và câu nói riêng.
- Giúp học sinh có kĩ năng dùng từ, đặt câu đúng ngữ pháp, ngữ nghĩa.
- Phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt.
- Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sử dụng Tiếng Việt, bồi dưỡng vốn sống,
bồi dưỡng hứng thú học Tiếng Việt ở học sinh.
- Giúp học sinh biết yên mến và có thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu
đẹp của Tiếng Việt.
- Qua đề tài, tôi mong muốn được trao đổi, học hỏi kinh nghiệm cùng với
các bạn đồng nghiệp để nâng cao hiệu quả dạy Tiếng Việt nói chung, Luyện từ

và câu cho học sinh lớp 5 nói riêng. -

rộng hệ hoá vốn từ tran cho học
sinh một số hiểu biết sơ về từ và c.
2- Rèn PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY LUYỆN TỪ VÀ CÂU
1. Cơ sở lý luận
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thơng được dùng trong giao tiếp chính thức
của cộng đồng các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Bởi thế, dạy Tiếng Việt
có vai trị rất quan trọng trong đời sống cộng đồng và đời sống mỗi con người.
Những thay đổi quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục,
thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học nói chung đã dẫn tới những yêu
cầu mới trong việc dạy Tiếng Việt ở nhà trường.
Mặt khác, Tiếng Việt được dạy ở Tiểu học là Tiếng Việt thực hành.
Chương trình này đề cao quan điểm giao tiếp, coi trọng thực hành. Do đó, mỗi
giáo viên tiểu học phải biết vận dụng sáng tạo các thành tựu nghiên cứu Tiếng
Việt, những tri thức hiện đại về phương pháp giảng dạy Tiếng Việt để có thể rèn
luyện, phát triển các kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ cho học sinh, giúp học sinh phát
triển cả 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết đạt hiệu quả cao.
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

4


Để Tiếng Việt ngày càng trở thành công cụ đắc lực trong giao tiếp, trong
sự phát triển giáo dục, việc dạy Tiếng Việt cần nhằm vào cả hai chức năng của
ngôn ngữ: vừa là công cụ của tư duy, vừa là công cụ của giao tiếp giúp học sinh
chiếm lĩnh hội kiến thức ở tất cả các môn học khác. Nó là chìa khố của nhận
thức, của học vấn, của sự phát triển trí tuệ đúng đắn. Nó chiếm vị trí ưu tiên
xứng đáng, bằng một phần ba tổng số tiết học của chương trình. Nó đã, đang và

sẽ ln luôn là môn học quan trọng trong trường tiểu học.
Ngôn ngữ của chúng ta là ngôn ngữ của từ. từ có vai trị đặc biệt quan
trọng trong hệ thống ngơn từ, là đơn vị trung tâm của ngôn ngữ dùng để tạo nên
câu. Con người muốn tư duy phải có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là công cụ, là hiện
thực của tư duy. Bởi lẽ đó, tư duy và ngơn ngữ có quan hệ mật thiết với nhau,
tác động qua lại lẫn nhau. Người có tư duy tốt sẽ nói năng mạch lạc, trơi chảy.
Cịn nếu trau dồi ngơn ngữ được tỉ mỉ, chu đáo thì sẽ tạo điều kiện cho tư duy
phát triển tốt.
Chính vì vậy, trong chương trình mơn Tiếng Việt ở tiểu học, luyện từ và
câu được tách thành một phân mơn độc lập, có vị trí ngang bằng với các phân
mơn khác như Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn... Đây là phân môn cung cấp
những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và rèn luyện kĩ năng dùng từ đặt câu
( nói, viết), kĩ năng đọc cho học sinh, góp phần khơng nhỏ trong việc thực hiện
để đạt được mục tiêu của môn Tiếng Việt ... Nội dung dạy về luyện từ và câu
trong chương trình môn Tiếng Việt chiếm một tỷ lệ đáng kể ( 2 tiết/ tuần). Điều
đó nói lên ý nghĩa quan trọng của việc dạy luyện từ và câu ở Tiểu học.
2. Cơ sở thực tiễn
Nói đến dạy Luyện từ và câu ở Tiểu học người ta thường nói tới 3 nhiệm
vụ chủ yếu là giúp học sinh phong phú hoá vốn từ, chính xác hố vốn từ và
tích cực hố vốn từ. Phong phú hố vốn từ cịn gọi là mở rộng vốn từ, phát
triển vốn từ nghĩa là xây dựng một vốn từ ngữ phong phú, thường trực và có hệ
thống trong trí nhớ học sinh, để tạo điều kiện cho từ đi vào hoạt động ngôn ngữ
(nghe - đọc, nói - viết) được thuận lợi. Chính xác hố vốn từ là giúp học sinh
hiểu nghĩa của từ một cách chính xác - nhất là đối với những từ ngữ mà học sinh
thu nhận được qua cách học tự nhiên, đồng thời giúp học sinh nắm được nghĩa
của những từ ngữ mới. Tích cực hố vốn từ là giúp học sinh luyện tập, sử dụng
từ ngữ trong nói - viết, nghĩa là giúp học sinh chuyển hoá những từ ngữ tiêu cực
( từ ngữ mà chủ thể nói năng hiểu nhưng khơng hoặc ít dùng) thành những từ
ngữ tích cực (từ ngữ được chủ thể nói năng sử dụng trong nói - viết) phát triển
kỹ năng, kỹ xảo phát triển từ ngữ cho học sinh.

Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

5


Do Luyện từ và câu là một phân môn mới và khó, cho nên giáo viên cịn lúng
túng trong việc tổ chức một tiết dạy - học Luyện từ và câu sao cho đúng yêu cầu
của phân môn, đúng đặc trưng của phân môn và đạt được hiệu quả dạy - học
cao. Dưới cái nhìn của giáo viên, có thể nói một số nội dung giảng dạy (được
trình bày trong sách giáo khoa) cịn ít nhiều xa lạ và phương pháp dạy phân mơn
này hầu như chưa định hình, cho nên giáo viên gặp nhiều khó khăn trong giảng
dạy. Giáo viên có tâm lý ngại dạy Luyên từ và câu. Hiệu quả dạy - học giờ
Luyện từ và câu nhìn chung cịn thấp. Đại thể có mấy ngun nhân cơ bản sau:
a. Giáo viên
- Vốn từ ngữ của một số giáo viên chưa phong phú, chưa đáp ứng được
yêu cầu hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ. Đa số giáo viên
còn lúng túng khi miêu tả, giải thích nghĩa của từ. Vì vậy việc giáo viên hướng
dẫn học sinh tập giải nghĩa từ, làm bài tập giải nghĩa từ cũng chưa đạt hiệu quả
cao. Kiến thức về từ vựng - ngữ nghĩa học của một số giáo viên còn hạn chế,
nên bộc lộ những sơ suất, sai sót về kiến thức.
- Cách dạy của nhiều giáo viên trong giờ Luyện từ và câu còn đơn điệu, lệ
thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, hầu như rất ít sáng tạo, chưa sinh
động, chưa cuốn hút được học sinh.
- Điều kiện giảng dạy của giáo viên còn hạn chế, các tài liệu tham khảo
phục vụ việc giảng dạy Luyện từ và cầu cũng như tranh ảnh, vật chất và các đồ
dùng dạy học khác chưa phong phú.
b. Học sinh:
- Học sinh ít hứng thú học phân môn này. Hầu hết các em được hỏi ý kiến
đều cho rằng: Luyện từ và câu là một môn học khơ và khó. Một số chủ đề cịn
trừu tượng, khó hiểu, khơng gần gũi quen thuộc. Bên cạnh đó, cách miêu tả, giải

thích nghĩa một số từ trong sách giáo khoa cịn mang tính chất ngơn ngữ học,
chưa phù hợp với lối tư duy trực quan của các em. Trong sách giáo khoa, có
những loại bài tập hoặc xuất hiện quá nhiều, gây tâm lý nhàm chán (điền từ),
cách dạy của giáo viên thì nặng về giảng giải khơ khan, nặng nề về áp đặt. Điều
này gây tâm lý mệt mỏi, ngại học phân môn Luyện từ và câu.
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Các giải pháp mới đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1.1. Nghiên cứu để nắm vững nội dung chương trình phân mơn Luyện từ và
câu lớp 5.
Chương trình phân mơn Luyện từ và câu lớp 5 gồm 62 tiết được dạy trong
31 tuần, mỗi tuần 2 tiết bao gồm các nội dung:
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

6


+ Nghĩa của từ ( từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa).
+ Mở rộng vốn từ: ( Tổ quốc, Nhân dân, Hịa bình, Hữu nghị - Hợp tác,
Thiên nhiên, Bảo vệ môi trường, Hạnh phúc, Công dân, Trật tự -An ninh,
Truyền thống, Nam và nữ, Trẻ em)
+ Từ loại: ( Đại từ; Quan hệ từ ; ôn tập về từ loại)
+ Cấu tạo từ ( ôn tập từ và cấu tạo từ)
+ Tổng kết vốn từ
+ Câu ( Câu đơn, câu ghép, Cách nối các vế câu ghép)
+ Các phép liên kết câu
+ Ôn tập về dấu câu ( dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu
hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang).
1.2. Các biện pháp áp dụng để phát huy tính tích cực của học sinh trong
phân môn Luyện từ và câu lớp 5.
Từ các mạch kiến thức của phân môn Luyện từ và câu trong chương trình

lớp 5, xin đưa ra một số giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh khi học
phân môn này.
1.2.1. Mở rộng vốn từ cho học sinh thông qua các dạng bài tập:
a. Mở rộng vốn từ qua quan sát tranh (nối từ cho sẵn với hình vẽ tương ứng,
dựa vào tranh tìm từ tương ứng...)
Đối với những dạng bài tập này, giáo viên cần biết khai thác triệt để kênh
hình ở sách giáo khoa, hình ảnh giáo viên và học sinh sưu tầm được để phục vụ
cho tiết dạy. Giáo viên có thể thiết kế các nội dung này trên máy chiếu để giúp
học sinh quan sát, như thế vừa không mất thời gian gắn tranh, tìm tranh, tiện lợi
lại vừa có thể sử dụng trong nhiều năm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin
trong giảng dạy giúp tơi đưa các hình ảnh tư liệu phục vụ cho bài giảng có hiệu
quả rõ rệt, giáo viên có nhiều thời gian quan tâm đến các đối tượng học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “Mở rộng vốn từ: Bảo vệ môi trường” (TV 5 tập 1,tuần
13 – chủ điểm “Giữ lấy màu xanh”), giáo viên sưu tầm các hình ảnh về các lồi
động vật, thực vật, các lồi bị sát… vào bài giảng và giới thiệu cho học sinh biết
về sự đa dạng của “khu bảo tồn đa dạng sinh học” nơi đó có các lồi vật như:
hổ, báo, gấu, chim, ếch, nhái…Qua đó, học sinh nhận biết được những gì mình
đã quan sát vừa gần gũi vừa xa lạ với cuộc sống các em. Vì thế, các em có cơ
hội tiếp xúc với thế giới xung quanh làm tăng sự nhạy bén, óc quan sát và trí
tưởng tượng phong phú…Hoặc bài “Mở rộng vốn từ: “Trật tự -an ninh”(TV 5
tập 2, Tuần 24 – chủ điểm “Vì cuộc sống thanh bình”), giáo viên sưu tầm các
đoạn phim nói về các hoạt động trật tự - an ninh và các hình ảnh về những cơng
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

7


việc liên quan đến bài tập 3 như: công an, đồn biên phịng, tịa án…, từ đó các
em sẽ làm được các câu hỏi ở bài tập 2 và 3 (SGK trang 59).
Đối với một số dạng bài tập dạy nhận diện từ (từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa)

cũng có thể sử dụng tranh ảnh. Học sinh khi nhìn vào hình ảnh có thể đốn được
hoạt động đó là gì? Nhưng có những hoạt động học sinh trung bình và học sinh
yếu khơng có khả năng tìm được từ chỉ hoạt động tương ứng, giáo viên phải có
những câu hỏi gợi ý:
Ví dụ: Ở bài “Từ trái nghĩa” (TV 5 tập 1, tuần 4 – chủ điểm: “cánh chim
hịa bình”). Trong bài tập 3, tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: hịa bình, thương
u, đồn kết, giữ gìn. Giáo viên giới thiệu một số biểu tượng hoặc hình ảnh thể
hiện rõ ý nghĩa các từ đã cho, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh trung bình,
yếu bằng các câu hỏi gợi ý: Bức tranh trên ứng với từ nào trong 4 từ đã cho? Ý
nghĩa của các từ đó?
Từ việc hiểu ra nghĩa từ đã cho ta tìm được từ trái nghĩa. Với học sinh chậm
tiếp thu giáo viên có thể trưng bày một số bức tranh phản diện để học sinh phát
hiện ra từ cần tìm và hiểu nghĩa của nó. Giáo viên có thể giải thích thêm cho học
sinh hiểu một số từ khó bằng hình ảnh, bằng đặt câu hoặc giải thích bằng lời…
Đối với học sinh tiếp thu nhanh giáo viên có thể kiểm tra thêm bằng cách đưa ra
một số từ mới, yêu cầu học sinh dựa vào bài đã học ở tiết trước (từ đồng nghĩa)
để làm bài tập sau:
Ví dụ: Tìm từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong các từ sau: nhân hậu, trung thực,
dũng cảm
Từ
Đồng nghĩa
Trái nghĩa
Nhân hậu
Phúc hậu, nhân đức, nhân ái…
Bạc ác, thất đức, ác đức…
Trung thực
Thật thà, ngay thẳng, chân
Gian dối, lừa dối, dối trá…
thật…
Dũng cảm

Anh dũng, gan dạ, kiên cường…
Hèn nhát, nhát gan…
Sau khi cho học sinh tìm từ và giải nghĩa giáo viên nên chốt lại những ý
đúng, giải nghĩa từ để tăng thêm vốn từ vựng cho học sinh.
b. Mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa: (“Tìm từ ngữ cùng chủ điểm”,
“Tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa với từ cho sẵn”…)
Khi dạy dạng bài tập này, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động
nhóm thi tìm từ tiếp sức, tìm bạn đồng hành. Nếu từ cho sẵn có nghĩa trừu
tượng, khó nhận biết, để trợ giúp hoạt động tìm từ của học sinh, giáo viên giải
thích nghĩa của từ cho sẵn và nêu một số ngữ cảnh điển hình, trong đó có sử
dụng từ cho sẵn ấy.
Ví dụ: Tìm từ trái nghĩa với mỗi từ sau: trẻ con, xuất hiện, cuối cùng, bình
tĩnh.
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

8


Đối với bài tập này, tìm từ trái nghĩa với từ “bình tĩnh” học sinh khó nhận
biết, giáo viên hướng dẫn học sinh bằng cách giải thích nghĩa của từ “bình tĩnh”
thơng qua ví dụ (“bình tĩnh” có nghĩa là: làm chủ bản thân trước khó khăn bất
ngờ xảy đến). Sau đó, lấy ví dụ bằng cách đặt câu: Sau mấy phút hoảng hốt, bạn
ấy bình tĩnh lại. Từ đó học sinh dễ dàng hiểu nghĩa của từ và tìm từ. (Ví dụ: trái
nghĩa với từ “bình tĩnh” là “cuống quýt, luống cuống, hốt hoảng”). Những từ
còn lại cho học sinh làm tương tự.
Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm thi kể tiếp sức tìm từ theo chủ điểm.
Ví dụ: Thi tìm từ nhanh theo chủ điểm đưa ra: tìm từ nói về chủ điểm hịa
bình, hạnh phúc ….( Sử dụng trong các tiết ơn tập giữa kì, cuối kì)
Để học sinh có được vốn từ khá phong phú, tơi đã cho học sinh thi tìm từ
điền vào bài thơ sau khi học bài mở rộng vốn từ Nhân dân (Bài tập 3/ Sgk 5) yêu

cầu học sinh tìm một số từ có tiếng “đồng” (theo nghĩa là cùng).
.................son sắt một lòng (đồng lòng)
.................là chỗ cùng làng, cùng quê (đồng hương)
.................ý hợp tâm đầu (đồng tình)
.................sát cánh chẳng hề xa nhau (đồng đội)
..................chung lớp chung trường (đồng môn)
...................tiến bước trước sau nhịp nhàng (đồng hành)
...................tay nắm chặt tay (đồng chí)
...................sum họp bốn phương một nhà (đồng bào)
..................quần áo quả là đẹp thay (đồng phục)
...................hội tụ một nơi (đồng qui)
..................cộng khổ ngọt bùi sẻ chia (đồng cam)
..................cộng tác cùng nghề (đồng nghiệp)
..................thống nhất xin mời giờ tay (đồng ý)
c. Mở rộng vốn từ theo quan hệ cấu tạo từ (tìm thêm từ mới, ghép nghĩa của
từ với cụm từ thích hợp…):
Dựa vào một yếu tố cấu tạo từ cho sẵn, tìm những từ có liên quan đến từ đã
cho. Dạng bài tập này có tác dụng rất lớn trong việc giúp học sinh phát triển, mở
rộng vốn từ. Trong các tiết có những loại bài tập này, người giáo viên có thể
thiết kế một số trị chơi giúp học sinh mở rộng vốn từ: trị chơi tiếp sức tìm từ,
tìm bạn đồng hành, tìm tiếng trung tâm,…

Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

9


Ví dụ: Thảo luận nhóm: Thi ai nhanh tay nhanh mắt : Giáo viên dán lên
bảng 2 bảng phụ ghi bài tập 2 (Mở rộng vốn từ: Công dân, TV 5 tập 2, tuần 21 –
chủ điểm “Người công dân”), giáo viên làm sẵn 3 mũi tên sau đó chia lớp làm 2

nhóm để chơi.
Cách chơi: Sau khi giáo viên đếm (3, 2, 1) học sinh 2 nhóm thay nhau lên
ghép làm sao cho từ có nghĩa. Mỗi bạn trong nhóm tối đa một lần, nhóm nào
phạm lỗi bị trừ điểm, nhóm nào nhanh sẽ đàn phần thắng.
Ví dụ: Trị chơi: Ai nhanh, ai khéo: Giáo viên chia lớp làm 3 nhóm, mỗi
nhóm được phát một tờ giấy Ao và một ngòi bút dạ làm bài tập 2 (Mở rộng vốn
từ: Trật tự - an ninh, TV 5 tập 2, tuần 23 – chủ điểm “Vì cuộc sống thanh bình”)
Cách chơi: Trò chơi trong vòng 5 phút, đội nào viết nhanh, tìm nhiều từ đúng,
trình bày đẹp lên gián trên bảng trước đội đó sẽ dành phần thắng.
Ví dụ : Trị chơi: Thi tìm từ trung tâm: Ở bài “Từ đồng âm” (TV 5 tập 1,
tuần 5 – chủ điểm “Cánh chim hịa bình”) Giáo viên có thể chuẩn bị trước hai
bơng hoa có vẽ cánh và nhụy hoa. Phần cánh hoa có các từ cho sẵn, yêu cầu học
sinh tìm từ đồng nghĩa (viết vào phần nhụy hoa)
Cách chơi: Giáo viên cho học sinh hoạt động cá nhân. Ví dụ: Các cánh hoa
viết: cái bàn, bàn bạc trao đổi…thì nhụy hoa là tiếng gì nào? (bàn). Giáo viên
gọi học sinh trả lời theo hình thức xung phong phát biểu.
d. Mở rộng vốn từ bằng cách phát huy tính tích cực của học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học là phải phát huy tính tích cực của học sinh
giáo viên cần chú ý phân ra theo nhóm đối tượng tùy theo mức độ để có phương
pháp dạy thích hợp. Muốn phát huy được tính tích cực của học sinh người giáo
viên phải có hệ thống câu hỏi trong mỗi bài thật cụ thể phù hợp với mọi đối
tượng học sinh.
Ví dụ : Khi dạy bài ‘Mở rộng vốn từ : Thiên nhiên’ (TV 5 tập 1,tuần 9 – chủ
điểm Con người với thiên nhiên)
- Bài tập 1 : Đọc mẩu chuyện Bầu trời mùa thu và tìm những từ ngữ tả bầu
trời....
Từ bài tập trên học sinh xác định: những từ ngữ tả bầu trời trong mẫu chuyện,
những từ ngữ thể hiện sự so sánh, những từ thể hiện sự nhân hóa của bầu trời.
- Những từ ngữ tả bầu trời:…rất nóng và cháy lên những tia sáng của ngọn
lửa; xanh như mặt nước mệt mỏi trong ao; được rửa mặt sau cơn mưa; xanh

biếc; dịu dàng; buồn bã; trầm ngâm; ghé sát mặt đất…
- Những từ ngữ thể hiện sự so sánh: …xanh như mặt nước mệt mỏi trong ao…

Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

10


- Những từ ngữ thể hiện sự nhân hóa bầu trời: …được rửa mặt sau cơn mưa;
dịu dàng; buồn bã; trầm ngâm; nhớ đến; ghé sát mặt đất; cúi xuống lắng nghe để
tìm thêm…
Giáo viên có thể đặt câu hỏi: Hằng ngày em thấy bầu trời thế nào? Em thấy
vào ban ngày và ban đêm bầu trời có gì khác nhau khơng?... Hay giáo viên có
thể chia lớp làm các nhóm nhỏ. Gọi nhóm đại diện đóng vai người hỏi và người
trả lời về đề tài “Thiên nhiên”. Các nhóm khác quan sát, nhận xét và đưa ra tình
huống ứng xử.
Có thể nói mở rộng vốn từ trong phân mơn Luyện từ và câu là công cụ hỗ
trợ đắc lực và không thể thiếu chiếm tỉ lệ trọng yếu khi học môn Tiếng Việt và
các môn học khác. Vậy học sinh cần phải có vốn từ ngữ, hiểu về nghĩa của từ và
câu một cách hiệu quả thông qua ngữ cảnh.
Xuất phát từ cuộc sống và sinh hoạt con người hàng ngày thì hoạt động
ngơn ngữ tái hiện lại những sự vật, sự việc, hiện tượng xung quanh ta. Nên khi
dạy phân môn này giáo viên cần phải gắn với ngữ cảnh, những cái gần gũi với
học sinh nhìn thấy và tiếp cận.
Vì thế khi dạy giáo viên cần hướng học sinh vào mối quan hệ giữa ngữ
cảnh để học sinh tự khám phá nắm bắt kiến thức một cách chủ động và chắc
chắn giúp học sinh có hứng thú tích cực hơn và nhớ lâu hơn, có vốn hiểu biết cơ
bản khi vận dụng học tập cho phân môn cũng như các môn học khác tốt hơn.
1.2.2. Phân loại hệ thống nhóm từ, từ loại và phát triển từ gắn với phân
nhóm đối tượng học sinh:

Song song với dạy học phù hợp đối tượng học sinh thì việc chia nhóm và
phân loại hệ thống từ, phát triển từ cũng rất quan trọng giúp các em phát triển từ
theo chủ đề, chủ điểm dẫn đến học sinh không lẫn lộn và nhầm lẫn về từ, về
nghĩa của nó vừa phù hợp đối tượng học sinh. Từ đó giáo viên giúp học sinh lựa
chọn nội dung phù hợp vận dụng khi thực hành luyện tập.
Ví dụ: Khi dạy bài Từ nhiều nghĩa:
Để chuyển tải được khái niệm nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ khi dạy
bài Từ nhiều nghĩa, tôi đã tìm cách đặt từ vào trong câu, nói rộng hơn là đặt từ
trong ngữ cảnh. Ngữ cảnh có tác dụng hiện thực hoá, cụ thể hoá nghĩa của từ và
để học sinh hiểu vấn đề, tôi cung cấp: trong các nghĩa khác nhau của từ nhiều
nghĩa, nghĩa nào là nghĩa trực tiếp, gần gũi, quen thuộc “dễ hiểu” thì đó là nghĩa
gốc; còn nghĩa nào là nghĩa gián tiếp, phải suy ra, hiểu rộng ra từ nghĩa gốc,
không thật gần gũi quen thuộc lắm, có phần “khó hiểu” thì đó là nghĩa chuyển.
Với cách dẫn dắt cụ thể như vậy, học sinh đã nhận biết được nghĩa gốc, nghĩa
chuyển của từ rất nhạy bén.
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

11


Hay, khi dạy bài Từ đồng nghĩa (tiết 1, tuần 1) chẳng hạn. Mặc dù sách
giáo viên có hướng dẫn nhưng để học sinh dễ nắm bắt kiến thức về từ đồng
nghĩa, hiểu dễ dàng thế nào là từ đồng nghĩa, tôi đã tiến hành như sau:
* Khởi động:
Giáo viên dẫn dắt học sinh vào bài bằng một mẩu chuyện ngắn:
“ Hôm qua cô giáo Chim Én dẫn học sinh ra cánh đồng mùa xn. Đám
học trị tíu tít:
- Đồng xanh xanh bao la, mây trắng trắng xóa….
- Cánh đồng bát ngát mênh mơng.
- Cánh đồng ….rộng thùng thình. Sáo Nâu hổi hả chen vào khiến các bạn

cười vang.”
Em có biết vì sao các bạn lại cười Sáo Nâu khơng?
Như vậy học sinh sẽ phát hiện ra đó là cách dùng từ của Sáo Nâu khi miêu
tả độ rộng của cánh đồng.
Sau đó, để giúp HS có cách hiểu về từ đồng nghĩa khi học bài Từ đồng
nghĩa, trước khi cho HS thực hiện các yêu cầu của phần Nhận xét để phát hiện
kiến thức tôi đã đưa ra một quả cam và hỏi học sinh: Đây là quả gì?. Học sinh dễ
dàng trả lời được " Đó là quả cam.". Sau đó tơi hỏi tiếp: " Quả cam cịn có cách
gọi khác là gì?, học sinh trả lời được ngay " Quả cam còn gọi là trái cam." Như
vậy, những học sinh yếu, hoặc trung bình cũng tự tin giơ tay trả lời câu hỏi mà
GV đưa ra. Rồi sau đó tơi cho học sinh so sánh nghĩa của từ "quả" và "trái". Lúc
này, các em khá hơn một chút sẽ giải quyết được vấn đề.
Tiếp đó, tơi cho học sinh quan sát tranh một chiếc máy bay bay trên bầu
trời. Để tìm từ thay thế cho từ máy bay, bất ngờ chúng tôi lại đưa ra một chiếc
tàu bay gấp bằng giấy rồi mơ hình một chiếc phi cơ... để các em nhận biết và so
sánh nghĩa của từ máy bay, tàu bay, phi cơ.
Như vậy, qua quan sát và tìm hiểu các em dễ dàng hiểu được thế nào là từ
đồng nghĩa.
1.2.3. Giúp học sinh nắm chắc cấu trúc ngữ pháp:
Giáo viên cần có hệ thống câu hỏi gợi mở ngắn gọn và rõ ràng để giúp
học sinh phát hiện ra các yếu tố ngữ pháp cấu thành câu dựa vào kiến thức đã
học ở lớp dưới.
Ví dụ: Khi dạy bài Câu ghép, để giúp HS hiểu được thế nào là câu ghép
tôi tiến hành hướng dẫn HS tìm hiểu phần Nhận xét như sau:
+ Gọi HS đọc và nêu yêu cầu của từng bài tập.
+ Yêu cầu HS nhắc lại cách xác định thành phần câu:
GV: Muốn tìm chủ ngữ trong câu em đặt câu hỏi nào?
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

12



HS: .... em đặt câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì?
GV: Để xác định bộ phận vị ngữ trong câu em đặt câu hỏi nào?
HS: ..... em đặt câu hỏi: Làm gì?, Thế nào?, Là gì?
+ HS xác định bộ phận chủ ngữ, vị ngữ của các câu trong đoạn văn bằng cách
gạch 1 gạch dưới bộ phận chủ ngữ, 2 gạch dưới bộ phận vị ngữ.
+ HS nêu và nhận xét về số lượng cụm chủ ngữ, vị ngữ trong mỗi câu vừa xác
định.
+ Dựa vào số lượng cụm chủ - vị trong câu HS trả lời: Thế nào là câu đơn, Thế
nào là câu ghép?
1.2.4. Tạo hứng thú trong giờ học cho học sinh.
Như chúng ta đã biết, trong cuộc sống làm việc gì cũng cần phải có lịng
đam mê, hứng thú thì mới đạt kết quả cao trong công việc. Đối với sự phát triển
nhân cách và hình thành tri thức ở học sinh, hứng thú học tập có ý nghĩa rất
quan trọng. Trong thực tế, học sinh cũng có nhiều em say mê, chăm chỉ học tập
nhưng cũng cịn có một số em có thái độ học tập chưa đúng đắn, còn lơ là và
chán học nhất là đối với phân môn Luyện từ và câu. Chính vì vậy, việc lựa chọn
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong một tiết học có tầm quan trọng
đặc biệt, nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả của giờ học. Vì vậy,
với mỗi bài dạy, giáo viên cần phải nghiên cứu kĩ nội dung, mục tiêu bài dạy và
yêu cầu cần đạt để xác định rõ việc chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy
học tối ưu nhất ở từng vấn đề, từng hoạt động của tững bài dạy để có thể sử
dụng linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp và tiết kiệm thời gian, công sức chuẩn bị mà
học sinh tiếp thu kiến thức tốt nhất. Bởi thế, khi tổ chức các giờ dạy Luyện từ và
câu, tôi luôn chú ý tạo nhu cầu giao tiếp cho từng học sinh, tạo hứng thú tìm tịi
và mở rộng vốn từ, khuyến khích động viên các em mạnh dạn trình bày ý kiến
trước lớp. Có nhiều cách tạo hứng thú học tập cho học tập cho học sinh như:
chia nhóm ngẫu nhiên, chia nhóm theo trình độ, ứng dụng cơng nghệ thơng tin
để thiết kế bài giảng trên phần mềm Pwerpoint, sưu tầm tranh, ảnh minh họa,

thiết kế các phiếu bài tập, các câu hỏi dạng trắc nghiệm để học sinh cả lớp cùng
làm, cũng có thể tổ chức cho học sinh thi giải ơ chữ,...
Tổ chức giờ học theo hình thức như trên, tất cả học sinh đều được hoạt
động, được nhận xét, góp ý và khen ngợi hoặc sửa sai nên các em rất thích thú
và ln hăng hái phát biểu ý kiến sôi nổi, giờ học sinh động, nhẹ nhàng, mỗi em
đều bộc lộ được suy nghĩ về vốn sống, vốn từ ngữ của mình.
Ví dụ, khi dạy bài Mở rộng vốn từ " Truyền thống" tuần 27, với BT2 tôi
thiết kế bài giảng trên phần mềm Powerpoint kết hợp cho học sinh thi giải các ơ
chữ thì tiết học sẽ sinh động, khơng mất nhiều thời gian mà lại rất có hiệu quả.
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

13


1.2.5. Thường xuyên thay đổi các hình thức học tập cho học sinh:
Việc đổi mới phương pháp dạy học có thành cơng, hiệu quả hay khơng là
một phần phải có hình thức tổ chức học tập phong phú và đa dạng.
Hình thức phải xây dựng phù hợp với nội dung và đối tượng học sinh.
Hình thức phù hợp thì tạo nên tiết học sinh động, đạt hiệu quả cao và phát huy
được tính cực tự học, chủ động và tự sáng tạo của học sinh.
Qua việc giảng dạy, tôi nhận thấy, muốn giờ học nhẹ nhàng, tự nhiên thì
hệ thống câu hỏi, bài tập phải được xây dựng rõ ràng, dễ thực hiện đối với học
sinh. Do đó, với mỗi bài dạy, giáo viên cần nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung bài,
ý đồ SGK để thiết kế bài giảng cho phù hợp.
Chẳng hạn, với các tiết dạy lí thuyết về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ
nhiều nghĩa thì nên coi trọng hoạt động cá nhân để các em luyện tập, thực hành.
Ví dụ: Dạy bài Từ nhiều nghĩa, sau khi học sinh tìm hiểu bài và làm bài
tập 1 xong, đến bài tập 2, tôi tổ chức cho học sinh thi tìm nhanh từ bằng cách ghi
các từ tìm được vào bảng phụ trong thời gian quy định. Hết thời gian, nhóm nào
tìm được nhiều từ và đúng là nhóm thắng cuộc. Sau đó GV tổng kết trị chơi và

chốt lại các nhóm từ:
Lưỡi: lưỡi liềm, lưỡi hái, lưỡi dao, lưỡi cày, lưỡi rìu, lưỡi cưa, lưỡi lê, ...
Miệng: miệng bát, miệng giếng, miệng vết thương, miệng hố, miệng tui,
miệng bình,.....
Cổ: cổ tay, cổ áo, cổ chân, cổ lọ, cổ bình, cổ chày,....
Tay: tay áo, tay ghế, tay quay, tay nghề, .....
Lưng: lưng núi, lưng trời, lưng đồi, lưng ghế, lưng áo,....
1.2.6. Luôn tổ chức và tạo cơ hội cho học sinh thực hành kĩ năng giao tiếp:
Đây là một hoạt động vừa học vừa chơi, kích thích được sự năng động và
ham tìm tịi ở từng học sinh trong một tập thể để xây dựng một kết quả học tập .
Trong giải pháp này tôi thường tạo các tình huống giao tiếp, tạo điều kiện và cơ
hội cho học sinh giao tiếp, tổ chức cho học sinh cùng tìm ra nội dung kiến thức
theo chủ điểm, theo chủ đề nội dung kiến thức nào đó. Kết quả cho thấy học sinh
rất tích cực, hăng say phát biểu xây dựng bài và có được kĩ năng trình bày, phát
huy được vốn từ ngữ và biết vận dụng nó vào trong thực hành giao tiếp một cách
hiệu quả.
Ví dụ: Khi yêu cầu HS thực hiện BT3 phần Luyện tập của bài Câu ghép
có thể cho HS điền vế câu còn thiếu bằng cách thi điền nhanh, đúng, nhiều vế
câu thích hợp vào chỗ chấm hoặc cũng có thể cho HS nêu vế câu cần điền bằng
trờ chơi " truyền điện". Chẳng hạn:
Mùa xuân đã về, cây cối đâm chồi, nảy lộc.
Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

14


Mùa xuân đã về, muôn hoa khoe sắc thắm.
Mùa xuân đã về, khơng khí ấm áp hẳn lên.
Mùa xn đã về, vạn vật như được tiếp thêm sức sống mới.
Mùa xuân đã về, làng quê em ngập tràn sắc cờ, hoa.

1.2.7. Tổ chức các hoạt động vui chơi lồng ghép học sinh hệ thống kiến thức
và tự chữa lỗi:
Có thể nói đây là một giải pháp rất quan trọng giúp cho người giáo viên
nắm bắt và đo được kết quả học tập của học sinh qua một quá trình dạy học.
Qua hoạt động vừa chơi vừa học các em biết chia sẻ với nhau kinh nghiệm học
tập, các em biết tự mình kiểm tra kết quả học tập của mình và giúp nhau cùng
tiến bộ. Các em không những ham thích đến trường mà cịn dần u thích mơn
học này.
Ví dụ, khi dạy bài Từ trái nghĩa, phần củng cố tơi tổ chức cho học sinh
chơi trị chơi " Ai nhanh, ai đúng?" để tìm các từ trái nghĩa thích hợp điền vào
các câu thành ngữ sau:
Kẻ đứng người .....( ngồi)
Chân cứng đá ......( mềm)
Yếu trâu còn hơn ..... bò ( khỏe)
Kẻ...... người cười ( khóc)
Nói trước quên.......( sau)
2. Hiệu quả của đề tài khi được áp dụng
Những biện pháp trên đây tôi đã áp dụng để giảng dạy ở lớp 5 của
Trường Tiểu học Liêm Tiết. Trong quá trình thực hiện tôi nhận thấy:
- Giờ học Luyện từ và câu trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả hơn.
- Học sinh tích cực, chủ động hơn trong giờ học.
- Học sinh được bộc lộ khả năng của mình trước lớp qua các bài tập, trò
chơi, câu đố.
- Vốn từ ngữ của học sinh phong phú hơn.
- Trong giao tiếp học sinh nhạy bén, tự tin, nói năng dùng từ chuẩn hơn.
- Những đoạn, bài văn mắc lỗi dùng từ, lỗi viết câu, sắp xếp ý,... đã hạn
chế rất nhiều. Đặc biệt các em có hứng thú hơn trong các tiết học Luyện từ và
câu.
- Chất lượng giờ học được nâng lên: tỉ lệ học sinh hiểu bài, phát biểu bài
nhiều hơn, chính xác hơn.

III. Khả năng áp dụng của sáng kiến

Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

15


Những biện pháp này có thể áp dụng đồng loạt cho học sinh lớp 4, lớp 5 ở
tất cả các Trường tiểu học trong toàn tỉnh nhằm trang bị cho các em những kiến
thức, kĩ năng cần thiết về từ và câu để học tốt phân môn và các môn học khác.
IV. Kết luận và kiến nghị
* Kết luận:
Qua quá trình áp dụng các biện pháp phát huy tính tích cực cho học sinh
trong phân môn Luyện Từ và câu lớp 5, tôi rút ra bài học quý báu:
- Giáo viên cần phải nghiên cứu bài thật kỹ trước khi dạy.
- Giáo viên nắm vững nội dung cần dạy cho học sinh.
- Giáo viên cần nắm vững và lựa chọn những phương pháp dạy học, các
hình thức tổ chức dạy học linh hoạt cho phù hợp với nội dung của bài dạy và
chủ điểm của bài học đó để hấp dẫn học sinh nhằm đạt kết quả cao trong giờ học
mà học sinh không nhàm chán.
- Đồ dùng dạy học cần chuẩn bị đa dạng phong phú càng nhiều vật thật
càng tốt.
- Giáo viên chịu khó sưu tầm hoặc sáng tác các bài thơ, câu đố vui liên
quan đến bài học để làm phong phú và sinh động thêm bài học.
- Giáo viên cần có những hình thức động viên kịp thời đối với những học
sinh có tiến bộ.
- Cố gắng phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của học sinh trong học
tập.
Trên đây là một số vấn đề tôi đã suy nghĩ, học hỏi và thể hiện trong q
trình giảng dạy, đặc biệt là phân mơn Luyện từ và câu. Tơi rất mong được sự

nhận xét, góp ý của các đồng chí, đồng nghiệp để giúp đỡ tơi hồn thành tốt hơn
nữa trọng trách của người giáo viên trong “ Sự nghiệp trồng người”.
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí!
Liêm Tiết, ngày 9 tháng 3 năm 2020
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
Người viết
ĐƠN VỊ

Lại Thị Hương

Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

16


Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

17


Kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu lớp 5

18



×