Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Vai trò của chủ nghĩa máclenin đối với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự khác biệt trên con đường đến với chủ nghĩa Mác Lênin của Hồ Chí Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (116.23 KB, 18 trang )

1

MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU....................................................................................................3
II. NỘI DUNG...............................................................................................3
1.

Lý do Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa Mác- Lênin?.......................3

2.
Vai trò của chủ nghĩa Mác- Lenin đối với việc hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh?............................................................................................5
3.
Sự khác biệt trên con đường đến với chủ nghĩa Mác- Lenin của
Hồ Chí Minh?........................................................................................................5
3.1.
Động lực cá nhân................................................................................5
3.2.
So với các nhà tiền bối đi trước..........................................................6
3.2.1.
Phan Bội Châu......................................................................
3.2.2.
Phan Châu Trinh...................................................................
3.2.3.
Các tiền bối khác.................................................................
3.3.
So với các nhà trí thức tư sản phương Tây........................................9
3.4.
So với các nhà cách mạng trên thế giới.............................................9
III. KẾT


THÚC..........................................................................................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


2

Đề tài: “Vai trò của chủ nghĩa mác-lenin đối với việc hình thành tư tưởng Hồ
Chí Minh. Sự khác biệt trên con đường đến với chủ nghĩa mác- lenin của Hồ
Chí Minh”.
MỞ ĐẦU
“Kìa mặt trời Nga bừng chói ở phương Đông
Cây cay đắng đã ra mùa quả ngọt
Người cay đắng đã chia phần hạnh phúc
Sao vàng bay theo liềm búa công nông.
Luận cương đến với Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin.
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin.
Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc:
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi!”
Hình của Đảng lồng trong hình của Nước
Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười.”
Sinh ra trong tình hình quốc gia “dường như trong đêm tối khơng
có đường ra”, bị bế tắc, khủng hoảng cả về lãnh đạo và đường lối cứu nước.
Nguyện hy sinh bản thân và tuổi trẻ, ôm ấp tình yêu nước và khát khao mong
mỏi muốn ngày được giải phóng nước nhà, cậu trai trẻ Nguyễn Tất Thành
năm ấy ra đi tìm đường cứu nước. Người tâm nguyện : “ Tơi muốn ra ngồi
xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở
về để giúp đồng bào ta”. Trải qua bao đất nước xa lạ, sống giữa những thứ
tiếng, những con người lạ lẫm, nhưng Người vẫn khôn ngi trăn trở về hình

bóng nước nhà. Với sự thành công của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917
đưa chủ nghĩa Mác- Leenin từ lý luận trở thành thực tiễn, Người đã từ Anh trở
về Pháp.
Tháng 7 nǎm 1920 qua báo Nhân đạo (L'Humanité) Pháp,
Nguyễn A'i Quốc được đọc Luận cương của V.I Lê nin về vấn đề dân tộc và
vấn đề thuộc địa. Sau này nhớ lại niềm sung sướng khi đọc Luận cương của


3

V. I Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Luận cương của V. I Lênin làm cho
tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến
phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tơi nói to lên nhu đang nói
trước quần chúng đơng đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ.! Đây là cái
cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.
Có thể nói, trong rất nhiều yếu tố thì sự ảnh hưởng của Chủ
nghĩa Mác-Lenin đến với Tư tưởng Hồ Chí Minh là mạnh mẽ, sâu sắc và
quyết định nhất. Nội dung của bài Luận phía dưới đây sẽ tiếp tục tìm hiểu kĩ
hơn về sự tác động của chủ nghĩa Mác-Lenin cũng như cách tiếp cận mới mẻ
của riêng chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa khoa học này.
NỘI DUNG
PHẦN I. Lý do Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa Mác- Lênin?
1.

Lý do Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa Mác-Lenin?
Hồ Chí Minh sinh ra trong cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược

và đô hộ, giai cấp phong kiến từng bước nhượng bộ, đầu hàng, làm tay sai cho
thực dân Pháp, các cuộc đấu tranh chống Pháp lần lượt thất bại, cách mạng
Việt Nam rơi vào tình thế “dường như trong đêm tối khơng có đường ra”.

Năm 1911, Người rời Tổ quốc sang phương Tây tìm đường cứu nước. Khác
với các nhà yêu nước trước đó ra nước ngồi tìm kiếm sự giúp đỡ, học tập,
“cầu viện”, hoặc đào tạo cán bộ để chỉ đạo, chuẩn bị lực lượng, phát động
phong trào đấu tranh trong nước, Hồ Chí Minh quyết định sang Pháp.
Những nhận định ban đầu của Người về nước Pháp đã được thực tiễn
chứng minh là đúng đắn. Đặc biệt, với bước ngoặt tư tưởng khi tiếp xúc với
“Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, có thể nói, Hồ
Chí Minh đã tìm ra được chìa khóa cho con đường cách mạng Việt Nam.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể


4

tách rời của cách mạng thế giới; giải quyết vấn đề dân tộc và thuộc địa là một
bộ phận của cách mạng thế giới: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và
đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa
gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”1.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là thế giới quan và phương pháp luận khoa học,
nó cung cấp cho con người một công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới; nó
chỉ ra quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy.Chủ nghĩa Mác-Lênin
là học thuyết về sự giải phóng và phát triển. Nó khơng những nêu ra mục tiêu,
đối tượng, những quy luật của sự giải phóng và phát triển, mà cịn chỉ ra
những lực lượng cách mạng có khả năng thực hiện được sự giải phóng và phát
triển. Đó là giai cấp cơng nhân.
Từ lần gặp gỡ đầu tiên, Luận cương của V.I.Lê-nin đã chinh phục hoàn
toàn Nguyễn Ái Quốc. Người đã thấy được cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam
- con đường giải phóng dân tộc. Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nhận những bài học
sâu sắc từ V.I.Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga. Bằng vốn kiến thức lý
luận và từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, Nguyễn Ái
Quốc là người đầu tiên cho rằng, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các

thuộc địa khơng hồn tồn phụ thuộc vào cách mạng ở "chính quốc", nhân
dân thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình, cuộc cách mạng có
thể thắng lợi trước ở một nước thuộc địa. Những luận điểm cách mạng của Hồ
Chí Minh đã giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai
cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển
của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chiến
lược giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh được hiện thực hóa trong đường lối
của Ðảng Cộng sản Việt Nam và đã thể hiện tính đúng đắn, hiệu quả bằng
thành cơng của Cách mạng Tháng Tám 1945, giành độc lập dân tộc, kháng
chiến thắng lợi, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội.
1

Hồ Chí Minh: Tồn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.273.


5

Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh nhận thấy rằng, xã
hội lồi người là một trình độ phát triển cao của giới tự nhiên, vận động và
phát triển theo quy luật khách quan. Người viết: “Từ đời xưa đến nay, chế độ
công cộng nguyên thuỷ sụp đổ do chế độ nô lệ thay thế. Chế độ nô lệ sụp đổ,
do chế độ phong kiến thay thế. Chế độ phong kiến sụp đổ, do chế độ tư bản
thay thế. Đó là quy luật nhất định trong sự phát triển của xã hội” 2. Nói tới quy
luật phát triển của xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chế độ nào hợp với sức
sản xuất thì đứng vững. Nếu khơng hợp thì giai cấp đại biểu của sức sản xuất
mới sẽ nổi lên cách mạng lật đổ chế độ cũ”3.
Từ quy luật vận động của xã hội và nguyên lý phát triển mácxít, Hồ Chí
Minh khẳng định, CNXH là con đường tất yếu của lịch sử nhân loại. Bởi theo
Người: “...chế độ tư bản có những mâu thuẫn to, nó khơng giải quyết được...
Chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa (cộng sản chủ nghĩa) mới giải quyết được mâu

thuẫn ấy. Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, CNXH - chủ nghĩa cộng sản chắc
chắn sẽ là hình thái kinh tế - xã hội thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội tư
bản; đó là một xã hội cao hơn xã hội tư bản.
Con đường giải phóng dân tộc Việt Nam được Hồ Chí Minh khẳng định
rõ: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc khơng có con đường nào khác con
đường cách mạng vơ sản”4. Giải phóng dân tộc theo con đường Cách mạng
Tháng Mười, theo con đường cách mạng vơ sản, đó là tư tưởng chỉ đạo mang
tính nguyên tắc, được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện Đảng cũng như
chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2.

Vai trị của chủ nghĩa Mác-Lenin đối với việc hình thành tư

tưởng Hồ Chí Minh?
2

Hồ Chí Minh: Tồn tập, , tr.246, 246, 246-247, 209-210, 220

3

Hồ Chí Minh: Toàn tập, , tr.246, 246, 246-247, 209-210, 220.

4


6

Chủ nghĩa Mác Lenin mở ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt
Nam. Học thuyết Mác- Lenin chứng minh sự diệt vong của chủ nghĩa tư
bản và sự thay thế bằng chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa

xã hội. Cách mạng tháng 10 Nga thành cơng đánh dấu Chủ nghĩa xã hội từ
lí luận trở thành hiện thực. Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột,
thiết lập chế độ cơng hữu về tư liệu sản xuất, nhân dân lao động được làm
chủ vận mệnh của đất nước và bản thân,… Tiếp xúc với chủ nghĩa MácLenin, Hồ chí minh chọn ngay học thuyết này cho cách mạng Việt Nam và
luôn tin tương đi theo. Với người, đó là học thuyết:”chân chính nhất, chắc
chắn nhất, cách mạng nhất”
Chủ nghĩa Mác-Lenin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của
tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh sử dụng hạt nhân lí luận triết
học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lenin. Nhờ
chủ nghĩa Mác-Lenin mà Nguyễn Ái Quốc mới có cơ sở để tiếp thu những
hiểu biết quý báu từ đó chuyển thành tri thức, trí tuệ phục vụ sự nghiệp cách
mạng dân tộc. Khơng có chủ nghĩa Mác - Lenin thì khơng có tư tưởng Hồ
Chí Minh sánh ngang tầm nhiệm vụ lịch sử và thời đại để giải quyết đúng
đắn những vấn đề đặt ra của thực tiễn cách mạng Việt Nam.
3.

Sự khác biệt của Hồ Chí Minh khi tìm đến với chủ nghĩa Mác-

Lenin
3.1. Động lực cá nhân
Bản thân Hồ Chí Minh là một người có tư duy độc lập, tự chủ, sáng
tạo và ln sáng suốt trong mọi hồn cảnh. Người chịu khó học hỏi bồi dưỡng
kiến thức cho bản thân, dành gần như trọn vẹn cuộc đời mình để học tập. Và
đặc biệt, Người cịn có tâm hồn của một người chiến sĩ yêu nước. Đây đều là
những phẩm chất hình thành nên tư tưởng độc đáo, mang màu sắc riêng của
Hồ Chủ tịch.


7


Tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh thời trẻ, ngay khi chưa gặp chủ
nghĩa xã hội, đã thể hiện có tầm vượt trước những quan niệm cứu nước đương
thời. Bởi đó là tư tưởng yêu nước sáng suốt, có tính phê phán, mang đậm tính
nhân dân, tính nhân bản. Hồ Chí Minh giống như những nhà yêu nước đương
thời đã sớm bị hấp dẫn bởi khẩu hiệu ''Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Song, khác
các vị ấy, Hồ Chí Minh muốn tìm hiểu đến tận nơi ''cái gì ẩn đằng sau” những
từ đẹp đẽ ấy, không chỉ trên lý thuyết mà ngay trên thực tế. Với một hoài bão
và lịng u nước như thế làm hành trang, nó hướng Người tới việc tìm con
đường thật sự cách mạng và khoa học, dẫn tới mục tiêu triệt để giải phóng dân
tộc. Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước.
Chính từ những nhận thức về bối cảnh đất nước, về văn minh phương Tây,
văn hóa Pháp khi Người cịn ở độ tuổi niên thiếu và thời gian học ở Trường
Quốc học Huế, đã thơi thúc Người muốn tìm hiểu về nước Pháp để xem đằng
sau những từ “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” là cái gì?
Với tinh thần học tập khơng biết mệt mỏi và ý chí phấn đấu kiên
cường vượt qua những thử thách của cảnh nghèo túng, thiếu thốn trên đất
Pháp.. Người vừa phải tìm việc làm để kiếm sống, vừa tự học tập, tìm hiểu
tình hình chính trị - xã hội của nước sở tại và các nước tư bản chủ nghĩa khác
và tham gia hoạt động yêu nước ở nước ngoài. Đến đâu Người cũng quan sát
kỹ lưỡng, so sánh, nhận xét, đi sâu tìm hiểu cuộc sống của các tầng lớp nhân
dân, nhất là nhân dân lao động, để tìm hiểu sâu về nền văn hóa của các nước
tư bản phát triển thờì đó và thực chất của nền văn minh dựa trên chế độ người
bóc lột người, chứ khơng phải đi cầu ngoại viện theo con đường “ỷ Pháp cầu
tiến” của nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh... Người hiểu rõ bản chất của
chủ nghĩa thực dân, đế quốc và rút ra những nhận xét rất sâu sắc: Ở đâu, chủ
nghĩa tư bản cũng tàn ác vô nhân đạo, ở đâu, giai cấp công nhân và nhân dân
lao động cũng bị bóc lột dã man.. Từ kết luận này đã đặt cơ sở cho phát triển
quan điểm đúng đắn của Người về bạn, thù và sớm hình thành tư tưởng kết



8

hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vơ sản, về sự đồn kết cách
mạng ở chính quốc với cách mạng thuộc địa.
Nguyễn Ái Quốc đã tiến những bước dài trong q trình tìm tịi con đường
cứu nước. Chính tại đây, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã tìm đến đỉnh cao của trí
tuệ thời đại là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Như vậy, việc chọn hướng đi đúng trong
hành trình tìm đường cứu nước là sự đột phá mới trong tư duy chính trị, thể
hiện bản lĩnh độc lập, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở ra cơ hội lớn
cho dân tộc Việt Nam với việc tích hợp tinh hoa văn hóa nhân loại, mở đường
cho dân tộc phát triển đi lên.
3.2. So với các tiền bối đi trước.
* Phan Bội Châu:
Trong các chí sỹ yêu nước sống vào thời kỳ sơ bộ Pháp thuộc ở nước
ta, Phan Bội Châu là một con người đầy nhiệt tình cách mạng, ông là một sỹ
phu dám vượt qua ý thức hệ phong kiến, hạn chế của giai cấp vươn lên tiếp
thu tư tưởng tư sản và đề xướng ra phong trào giải phóng dân tộc mang tính
chất tư sản ở đầu thế kỷ XX. Con đường của Phan Bội Châu đi là con đường
tích cực nhất lúc bấy giờ, nó đã đánh dấu một bước phát triển mới của phong
trào

giải

phóng

dân

tộc

về


nội

dung



hình

thức.

Phan Bội Châu sinh năm 1867 trong một gia đình nhà nho yêu nước ở huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, một vùng đất có truyền thống đấu tranh chống Pháp.
Sinh ra và lớn lên trong
cảnh nước mất nhà tan, quê hương ông là nơi từng chứng kiến quá trình phát
sinh, phát triển và thất bại của phong trào Cần Vương suốt hai mươi năm của
thế kỷ XIX, ông hiểu rất rõ cảnh khổ của người dân mất nước:
“ Thân ta sở dĩ vinh là vì ta có nước
Thân ta sở dĩ nhục là vì ta khơng cịn có nước nữa”
(Việt Nam vong quốc sử)


9

Vì thế, Phan Bội Châu đã đề ra mục đích chính cho mình là: “ Cốt sao
khơi phục được nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập ngồi ra chưa
có chủ nghĩa gì khác” và cụ ln tâm niệm: “ Suốt đời đã mưu tính việc gì cốt
nhằm mục đích giành được thắng lợi trong phút cuối cùng, dù có phải thay
đổi thủ đoạn, phương châm cũng khơng ngần ngại”
Ông đi theo con đường bạo động cách mạng, hướng về phương Đông,

đưa học sinh sang du học tại Nhật Bản, đất nước có cuộc Duy tân Minh Trị.
Nhưng sai lầm của cụ là quá tin và bị động vào Nhật Bản mà không nhận rõ
bản chất của các nước đế quốc. Con đường cứu nước của cụ vì thế mà thất
bại, không phù hợp với xu thế khách quan của thời đại. Hồ Chí Minh nhận
xét về con đường cứu nước của Phan Bội Châu, dựa vào Nhật để đánh Pháp
thì khác gì "đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau".
* Phan Châu Trinh:
- Khác với Phan Bội Châu, cụ theo con đường thương thuyết, kêu gọi
hồ bình, cụ mang những tư duy rất mới mẻ của Phương Tây, cụ cho rằng
“bất bạo động bạo động tắc tử, bất bạo động bạo động đại ngu”, ngược hoàn
toàn với con đường cứu nước của cụ Phan Bội Châu. Tuy nhiên, con đường
của cụ vẫn chưa phải là con đường đúng đắn nhất.
- Nguyễn Tất Thành nhận xét con đường của Phan Châu Trinh chẳng
khác gì "xin giặc rủ lịng thương"
=> Các nhà yêu nước đi trước Nguyễn Tất Thành đều là các sĩ phu phong
kiến, mong muốn của họ là giải phóng dân tộc, thiết lập lại chế độ phong kiến
hoặc đi theo con đường dân chủ tư sản.
Khác với các nhà yêu nước cách mạng Việt Nam tiền bối, ở Nguyễn
Ái Quốc đã có sự thống nhất giữa mục đích và phương pháp ra đi tìm
đường cứu nước, giải phóng dân tộc.


10

Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục, đặt chân lên khoảng 30
nước, là một trong những nhà hoạt động chính trị đi nhiều nhất, có vốn hiểu
biết phong phú về thực tế thuộc địa cũng như các nước tư bản chủ yếu nhất
trong những thập niên đầu của thế kỷ XX. Người chọn phương Tây- nơi được
mệnh danh là có tư tưởng hịa bình, bác ái, làm hướng đi cho mình, để tìm
hiều vì sao nước Pháp lại thống trị nước mình và thực chất của các từ “tự do,

bình đẳng, bác ái”. Nhờ đó, Người hiểu được bản chất chung của chủ nghĩa
đế quốc và màu sắc riêng của từng nước đế quốc khác nhau; đã hiểu được
trình độ phát triển cụ thể về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… của nhiều
nước thuộc địa cùng cảnh ngộ. Người đi vào cuộc sống của người lao động,
tìm hiểu họ gắn kết với nhau như thế nào. Người đề cao học tập và lí luận. Và
ở đây Người đã bắt gặp chủ nghĩa Mác Lê-nin cùng cuộc cách mạng tháng
Mười Nga, từ đó tìm ra cịn đường cứu nước cho dân tộc – cách mạng vô sản
Trong suốt thời gian bơn ba tìm tịi, khảo nghiệm, với khả năng tư duy
độc lập, tự chủ, sáng tạo, Nguyễn Ái Quốc đã hồn thiện trí tuệ của mình
bằng vốn hiểu biết văn hóa, chính trị và thực tiễn cuộc sống phong phú của cả
nhân loại. Người rút ra một số kết luận trong sự phát triển nhận thức của
mình: chủ nghĩa tư bản đế quốc ở đâu cũng tàn bạo, độc ác, bất công; người
lao động ở đâu cũng bị áp bức, bóc lột, đầy đọa, “dù màu da có khác nhau,
trên đời này chỉ có hai giống người : giống người bóc lột và giống người bị
bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thơi: tình hữu ái vơ
sản”. Như vậy là từ nhận thức về quan hệ áp bức dân tộc, Người đã nhận thức
về áp bức giai cấp, từ quyền của dân tộc, đến quyền của con người, trước hết
là của những người lao động; từ xác định rõ kẻ thù là đế quốc, Người cũng đã
thấy bạn đồng minh của nhân dân lao động ở các chính quốc và thuộc địa.
Những kết luận ấy dù là rất gần gũi với quan niệm cơ bản của chủ nghĩa Mác
– Lênin, song cũng chỉ có tác dụng giúp cho Nguyễn Ái Quốc tiếp thu và vận


11

dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện, hồn cảnh cụ thể của Việt
Nam.
Như vậy, có thể thấy rằng, dù có điểm chung với các con đường cứu
nước khác: 1- đều là người yêu nước, khao khát tìm tịi khảo nghiệm để tìm
ra một con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng nhân

dân lao động; 2- đều có xu hướng tìm đường cứu nước kể cả bên trong và bên
ngoài; 3-liên hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới; 4- muốn cứu
nước thì phải có tổ chức; 5- tập hợp được một lực lượng nhất định…nhưng
con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc vẫn có nhiều điểm khác cơ bản
như: đường lối đấu tranh, lãnh đạo, lực lượng, phương pháp đấu tranh
cách mạng, đoàn kết quốc tế với tư tưởng cốt lõi là tiến hành cách mạng tư
sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản bằng lực
lượng yêu nước của toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công –
nông và dưới sự lãnh đạo của đảng
• Về đường lối cách mạng: Phong trào của các tiền bối hoặc theo con
đường phong kiến, hoặc theo con đường dân chủ tư sản. Tư tưởng
này đã trở nên lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu lịch sử và
phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Con đường cứu nước của
Nguyễn Ái Quốc đã chỉ ra con đường cách mạng vô sản, trong đó
bao gồm: cách mạng tư sản dân quyền, thổ địa cách mạng, và cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Đường lối này phản ánh đúng đắn những
mâu thuẫn trong xã hội nước ta lúc bấy giờ
• Về lực lượng cách mạng: các phong trào có trước năm 1930 đều huy
động quần chúng đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc nhưng lại bỏ
quên nhiệm vụ chống phong kiến. Còn với con đường của Nguyễn
Ái Quốc đã giương cao và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai
ngọn chống đế quốc và chống phong kiến. Đồng


12

thời xác định đúng đắn lực lượng cách mạng là tồn thể dân tộc, trong
đó liên minh cơng nhân – nơng dân – tri thức là nịng cốt.
• Về phương pháp đấu tranh: các tiền bối đi trước có những phương
pháp bạo động ( Phan Bội Châu), Duy Tân ( Phan Chu Trinh)...

nhưng đều thất bại vì khơng phù hợp. Con đường của Hồ CHí Minh
là bạo lực cách mạng, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng,
kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.
• Về sức mạnh tổng hợp cách mạng: ở các tiền bối phong trào đấu
tranh thường bị hạn chế về quy mô. Còn con đường của Nguyễn Ái
Quốc đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách
mạng thế giới.
Từ những nội dung trên và thực tiễn lịch sử Việt Nam đã cho thấy: con
đường cách mạng Nguyễn Ái Quốc là con đường phù hợp, đúng đắn, sáng tạo
với Việt Nam, đã kế thừa những kinh nghiệm và bài học xương máu từ các
con đường cách mạng khác, khắc phục những hạn chế của các con đường
cách mạng không triệt để ở trong nước và thế giới. Từ đây, thời kỳ đấu tranh
đi liền với thất bại đã khép lại, thời kỳ đấu tranh đi liền với thắng lợi lớn đã
mở ra. Con đường cứu nước của Nguyến Ái Quốc chính là đường đi đến độc
lập cho Tổ quốc, ấm no tự do hạnh phúc cho Nhân dân.
Bên cạnh đó, Khác với các nhân vật vĩ đại khác ở các thời kỳ trước của
lịch sử dân tộc (như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ...) có
cuộc đời và sự nghiệp chủ yếu chỉ quan hệ trực tiếp và hầu như duy nhất với
vận mệnh dân tộc, Hồ Chí Minh gắn bó vừa với dân tộc, vừa với thế giới và
thời đại. Người đề cao sức mạnh dân tộc song khơng
tách biệt mà ln ln đặt nó song hành bên sự kết hợp với sức mạnh của thế
giới, tinh hoa thời đại.


13

Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải thấy rằng, con đường cứu nước của
Nguyễn Ái Quốc không chỉ thể hiện sự đúng đắn sáng tạo so với các con
đường cứu nước khác ở Việt Nam mà còn thể hiện bản lĩnh của Người trong
sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam khi đặt ra vấn đề “xem xét lại chủ

nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó”, kết hợp với nhiều yếu tố khác để đưa
tới Lý luận giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh, đem lại tính chủ động, độc
lập, sáng tạo cũng như thành công của Cách mạng Việt Nam.
3.3. So với các nhà trí thức tư sản phương Tây.
Ngoài ra, con đường đến với chủ nghĩa Mác – Lênin của Hồ Chí Minh có
những đặc điểm riêng biệt. Khác với các nhà trí thức tư sản phương Tây đến
với chủ nghĩa Mác – Lênin chủ yếu như đến với một học thuyết nhằm giải
quyết những vấn đề về tư duy hơn là hành động, Người đến với chủ nghĩa
Mác – Lênin là để tìm kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân
tộc, tức là từ nhu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn ở chỗ là hoàn cảnh đất nước ta lúc bây giờ đang chìm đắm
trong những đêm trường nô lệ, các phong trào yêu nước của các nhà tư sản
yêu nước đều dần rơi vào bế tắc như phong trào Đông Du của Phan Bội Châu,
tư tưởng mượn Pháp để lật đổ triều đình phong kiến của Phan Châu Trinh,...
tất cả khiến con đường giải phóng dân tộc ngày một thêm rắc rối và đi vào
ngõ cụt. Hoàn cảnh lúc này đặt ra phải có một giai cấp mới đứng lên lãnh đạo
nhân dân ta và một con đường đi mới cho cách mạng Việt Nam. Nhận thức rõ
điều đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi. Từ trước khi được đọc “Luận cương của
Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa” thì Người đã biết đến sự thành công
của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Người cảm thấy hết sức cảm
phục, yêu mến vị lãnh tụ của nhân dân Nga và mong muốn được có ngày gặp
mặt người yêu nước vĩ đại ấy. Là một người cộng sản chân chính, là một
người u nước đang tìm con đường đi cho mình và cả dân tộc, tác phẩm
“Luận cương tháng Tư” của Lenin đến với Nguyễn Ái Quốc như một cánh


14

cửa khai sáng cho Người con đường đích thực để giải phóng dân tộc Việt
Nam và trở lại nghiên cứu chủ nghĩa Mác sâu hơn. Sau khi đọc bản Luận

cương, tuy khơng cịn cơ hội để gặp mặt Lê-nin nhưng Nguyễn Ái Quốc đã
một mực tin theo và quyết định gia nhập Đảng Xã Hội Pháp, trở thành người
cộng sản Việt Nam đầu tiên vì mục tiêu đấu tranh cao đẹp của Đảng là vì tồn
thể những dân tộc bị áp bức trên khắp thế giới. Có thể nói, chủ tịch Hồ Chí
Minh là người học trị xuất sắc nhất của chủ nghĩa Mác-Lenin.
Như vậy, khi đến với chủ nghĩa Mác-Lenin, Hồ Chí Minh khơng giống
như những trí thức tư sản phương tây khác, chỉ dừng lại ở những câu chữ trên
giấy. Mà Người đã biến những câu chữ ấy vận dụng vào thực tiễn vào nước
nhà, vào chính cuộc cách mạng ở quê hương để đưa cả dân tộc ta đi lên giành
thắng lợi.
3.4.

So với các nhà Cách mạng trên thế giới.

Khác với nhiều nhà cách mạng trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã kết
hợp nhuần nhuyễn cả hai phương pháp ở phương Tây và phương Đông là
tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin theo phương pháp nhận thức mácxit của
phương Tây kết hợp với cách “đắc ý, vong ngôn” của phương Đông. Nghĩa
là cốt nắm lấy cái tinh thần, cái cốt yếu, cái bản chất và vận dụng sáng tạo
lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin sao cho phù hợp với cách
mạng Việt Nam.
Người vận dụng sáng tạo lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ
nghĩa Mác-Lênin để hoạch định đường lối, chủ trương, giải pháp và những
đối sách phù hợp cho cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1924, sau khi đến
với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành một cán bộ của Đảng Cộng sản Pháp và
của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh đã vạch rõ sự khác nhau giữa thực tiễn
của các nước tư bản phát triển ở châu Âu mà C. Mác, Ph. Ăng-ghen và
V.I.Lê-nin đã chỉ ra với thực tiễn Việt Nam – một nước thuộc địa, nửa phong
kiến, nông nghiệp, lạc hậu ở phương Đơng. Do đó, cần bổ sung, phát triển



15

chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử phương Đông (Cần lưu ý, ý kiến này không
phải là biểu hiện của chủ nghĩa xét lại, Hồ Chí Minh khơng bao giờ xa rời
chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời luôn kiên quyết chống chủ nghĩa giáo điều
và chủ nghĩa xét lại). Trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ gửi
Quốc tế Cộng sản, Người viết: "Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống
như ở phương Tây... Dù sao thì cũng khơng thể cấm bổ sung "cơ sở lịch sử"
của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời
mình khơng thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một
triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu
Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về
cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đơng. Đó chính
là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm". Người nhấn mạnh rằng, việc học
tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trước hết phải nắm vững "cái cốt lõi",
"linh hồn sống" của nó là phương pháp biện chứng. Sơ thảo của V.I. Lê-nin,
viết năm 1920, đã thức tỉnh Nguyễn Ái Quốc, đưa Người đến với chủ nghĩa
Mác - Lênin, vì đây là chủ nghĩa duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa.
Nhưng vượt trên những hạn chế lúc bấy giờ trong nhận thức và đánh giá về
phong trào cách mạng thuộc địa: Cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách
mạng chính quốc, là "hậu bị quân" của cách mạng vơ sản chính quốc; cách
mạng chính quốc thắng lợi thì các thuộc địa mới được giải phóng, Hồ Chí
Minh hiểu sâu sắc khát vọng và tiềm năng, sức mạnh to lớn của các dân tộc
thuộc địa, nên đã nêu lên luận điểm: Cách mạng giải phóng dân tộc ở các
nước thuộc địa quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng khơng
hồn tồn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc
địa và phụ thuộc có thể "chủ động đứng lên, đem sức ta mà giải phóng cho
ta", giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách
mạng chính quốc. Theo C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, so với vấn đề giai

cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là một vấn đề thứ yếu, “…đặt lên hàng đầu
và bảo vệ những lợi ích khơng phụ thuộc vào dân tộc mà chung cho toàn thể


16

giai cấp vơ sản” , nhưng Hồ Chí Minh lại chủ trương đoàn kết toàn dân, huy
động mọi lực lượng khơng ra mặt phản động vì “Trong lúc này quyền lợi
dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy.” Hồ Chí Minh nhận thấy trước hết cần
có một chính phủ đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí
của tồn thể quốc dân, “Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín,
trong thì lãnh đạo cơng việc cứu quốc, kiến quốc, ngồi thì giao thiệp với
các hữu bang”.
KẾT THÚC
Từ những nghiên cứu và tìm hiểu trên đây, có thể thấy chủ nghĩa
Mác-Lenin đóng
một vai trị vơ cùng quan trọng và có sức ảnh hưởng lớn đối với tư tưởng của
Hồ Chí Minh. Đây là một chủ nghĩa khoa học đúng đắn, vạch cho Người lối
đi và hướng ánh sáng lý tưởng để dẫn dắt Cách mạng Việt Nam đi đến thắng
lợi. Chủ nghĩa Mác-Lenin là tiền đề vững chắc cho lý luận cách mạng của Hồ
Chí Minh, cho sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam vào năm 1930 và cũng
là nền móng cho sự độc lập dân tộc của đất nước ta sau này. Với góc tiếp cận
mới lạ, sáng tạo, tinh thần học hỏi và trái tim giàu lòng yêu nước, mang đậm
dấu ấn cá nhân trên con đường đến với chủ nghĩa Mác-Lenin, Hồ Chí Minh
đã khẳng định tài năng xuất chúng của mình trong việc chọn lọc và vận dụng
một cách khoa học, khéo léo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin vào thực tế
tình hình đất nước, xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Người khẳng định đề cao
sức mạnh động lực từ con người, đặc biệt là giai cấp vơ sản; sức mạnh đồn
kết dân tộc và kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc mà trên hết là
giành độc lập tự do. Với khẩu hiệu “khơng gì q hơn độc lập tự do”, Hồ Chí

Minh sau khi về nước đã tập hợp được một lực lượng đông đảo quần chúng
nhân dân, mọi lực lượng dân tộc để cùng nhau đứng lên đấu tranh dưới ánh
sáng dẫn lối chỉ đường của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà kim chỉ nam chính
là chủ nghĩa Mác-Lenin. Từ chủ nghĩa yêu nước, với mục tiêu giải phóng dân
tộc, khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã


17

vượt lên chủ nghĩa yêu nước truyền thống, tiến tới đồn kết các dân tộc bị áp
bức, khơng phân biệt màu da, dưới ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế vơ sản,
hình thành được các tổ chức mang tính mặt trận của nhân dân các nước thuộc
địa đứng lên đấu tranh chống đế quốc. Với vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
cách mạng Việt Nam đã hịa nhập vào xu thế chung của thời đại, cùng nhân
loại tiến bộ trong phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chống chủ
nghĩa phát xít, bảo vệ nền hịa bình thế giới. Chủ nghĩa Mác-Lenin có thể nói
là ngọn hải đăng chỉ lối soi đường để Đảng chèo lái con đường dân tộc, đưa
nhân dân ta đến ngày toàn thắng.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh- Nhận thức và vận dụng” _NXB Tư Pháp,
Chương I, PGS.TS Nguyễn Mạnh Tưởng (chủ biên)
2.

“Người đi tìm hình của nước” _ nhà thơ Chế Lan Viên

3.

“Hồ Chí Minh: tồn tập” _NXB Chính Trị Quốc Gia, 2002


4.

“Sự giống nhau, khác nhau giữa con đường cứu nước của Nguyễn

Ái Quốc so với các con đường cứu nước khác trước khi thành lập Đảng Cộng
Sản Việt Nam”_
duongcachmenh.wordpress.com
5.

“Hành trình đến với chủ nghĩa Mác-Lenin và tìm ra con đường

cứu nước của Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh”_ dangcongsan.vn
6.

“Hồ Chí Minh- Hành trình tìm đường cứu nước và tầm nhìn thời

đại”_ GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, ủy viên trung ương Đảng, Giám đốc Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh _ Báo “Nhân Dân”
7.

“Con đường dẫn tơi đến chủ nghĩa Mác-Lenin”_Hồ Chí Minh tồn

tập, NXB Chính Trị Quốc Gia, 2000_ Báo “Tuổi Trẻ”
8.

“Con đường đến với chủ nghĩa Mác-Lenin của Nguyễn Ái

Quốc”_ luatminhkhue.vn



18

9.

“ Từ góc độ văn hóa nhận thức về sự lựa chọn con đường Cách

mạng tháng Mười của Hồ Chí Minh” PGS, TS Phạm Hồng Chương, TS
Nguyễn Việt Anh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Theo “Tạp chí
Lý luận Chính trị”_ baotanghochiminh.vn
10.

“Việt Nam vong quốc sử”_Phan Bội Châu

11.

“Văn hóa phương Tây- một trong những nguồn gốc hình thành tư

tưởng Hồ Chí Minh với thế giới”_hochiminh.vn (truy cập ngày: 17/2/2017)
12.

“Hồ Chí Minh- Người mở ra con đường hội nhập thế giới cho Việt

Nam” _Tạp chí cộng sản (truy cập ngày: 11/7/2017)
13.

“Sự hình thành tư tưởng đồn kết quốc tế trong quá trình tìm

đường cứu nước của chủ tịch Hồ Chí Minh_Lê Ngân Mai
(_ truy cập ngày 2/11/2011)

14.

“Nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh- Tìm hiểu tư tưởng Hồ

Chí Minh về một số vấn đề quốc tế” ( _truy cập
12/10/2015)
15.

“Con đường dẫn Nguyễn Ái Quốc đến chủ nghĩa Mác-Lenin”

(ditichhochiminhphuchutich.gov.vn _22/1/2014)
16.

“Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người vận dụng một cách sáng tạo chủ

nghĩa Mác-Lenin vào Việt Nam trong thời kì đấu tranh giải phóng dân tộc”
(truongchinhtribentre.edu.vn _13/11/2018)



×