HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
KHOA LÝ LUẬN CƠ BẢN
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH
Tên: Thành tựu khoa học tự nhiên của
văn minh phương Tây cổ đại
Sinh viên nghiên cứu
: Nguyêễn Phi Anh
QHQT48C1 - 0791
Nguyêễn Phúc Bình
QHQT48C1 - 0831
Lớp
: Lịch sử văn minh Thêế giới (3)
Khoa
: Quan hệ quốếc têế
Giảng viên phụ trách
: PGS.TS Nguyêễn Thái Yên Hương
Hà Nội, tháng 11 năm 2021
MỤC LỤC
I. LỜI DẪN..........................................................................................................2
II. THIÊN VĂN, ĐỊA LÝ....................................................................................3
A. HY LẠP............................................................................................................3
B. LA MÃ..............................................................................................................4
III. Y HỌC............................................................................................................5
A. HY LẠP............................................................................................................5
B. LA MÃ..............................................................................................................7
IV. TOÁN HỌC, VẬT LÝ...................................................................................8
A. HY LẠP............................................................................................................8
B. LA MÃ..............................................................................................................9
V. KẾT LUẬN....................................................................................................10
VI. TÀI LIỆU, NGUỒN THAM KHẢO.........................................................11
1
I. LỜI DẪN
Khi nhắc đến các phương pháp dự đoán tương lai hay vận mệnh của bản thân hiện
nay thì chúng ta vẫn sẽ nghĩ đến bói tốn, bói bài tarot hay xem nhân tướng học,
tức là dựa vào đường nét gương mặt để dự đoán tướng số cuộc đời. Một trong
những phương pháp được coi là phổ biến hiện này đó là Thần số học.
Người đã dặt nền móng cho bộ môn nghiên cứu về những con số này khơng ai khác
chính là nhà tốn học nổi tiếng Pythagore.Thường chúng ta biết đến Pythagore là
người tìm ra các cơng thức và định lý toán học như định lý Pythagore mà chúng ta
đã học cấp trung học. Pythagore là người đã có cơng nghiên cứu và đưa các con số
lên một trình độ mới, trong đó ta có thể khám phá ra mối quan hệ và sự rung động
giữa các con số. Ơng tin rằng mọi thứ đều có thể được mô tả và thể hiện bằng các
con số, và đều tn theo các mơ hình và chu kỳ nhịp nhàng.
Trên thực tế, Thần số học cũng chỉ là một trong những thành tựu nhỏ của nền minh
phương Tây cổ đại, mà cụ thể là ở hai quốc gia Hy Lạp và La Mã. Bài tiểu luận sẽ
nghiên cứu những thành tựu ấy phân theo các lĩnh vực Thiên văn, địa lý; Y học;
Tốn học và tìm hiểu theo các nhân vật tiêu biểu của từng ngành học dưới đây.
2
II. THIÊN VĂN, ĐỊA LÝ
A. HY LẠP
Trên Thế giới, có nhiều điều mà chúng ta xem là sự thật cơ bản hiện nay thực tế đã
được phát hiện từ thời Hy Lạp cổ đại. Ví dụ như, thuyết “Nhật tâm”, tức nghĩa là
Mặt trời chính là trung tâm của hệ Mặt trời, các hành tinh quay quanh Mặt trời,
kích thước của Mặt trăng, chu vi của Trái đất chính là những phát hiện tiêu biểu của
thiên văn Hy Lạp thời kỳ cổ đại. Dưới đây là một số nhà thiên văn, địa lý tiêu biểu
thời kỳ này.
1. Eratosthenes (276TCN - 193TCN):
Eratosthenes là một nhà địa lý và thiên văn và là một nhà toán học. Một điều khá
thú vị về ông đó là ông bản thân Eratoxten là một người khá kiêu căng . Ông được
những người đương thời gọi là “Beta” do ơng tự cho mình là người nổi tiếng thứ
hai trên thế giới tại thời điểm đó, chỉ sau người đồng nghiệp và bạn thân là
Archimedes. Một sốt đóng góp về Địa lý quan trọng của ơng phải kể đến đó là:
Ơng là người đầu tiên trong lịch sử tính tốn khá chính xác chu vi Trái đất: Ông ghi
chép chi tiết phép đo này trong một bản thảo hiện nay đã thất lạc. Vào thời cổ đại,
hầu hết mọi người tin rằng Trái đất trịn chứ khơng phẳng, và họ không biết hành
tinh này lớn đến mức nào, cho đến năm 240 trước Công nguyên, Eratosthenes đã
nghĩ ra một phương pháp để ước tính chu vi của nó. Ơng đã dứt khốt khẳng định
Trái đất hình cầu và ông đã đo được chu vi của Trái đất khoảng 40.349km, sai lệch
khơng nhiều so với tính tốn của khoa học hiện đại là 40.074km.Cũng từ quan điểm
đó, ơng đo được khoảng cách giữa hai thành phố Alexandrie và Syène. Ông đã
dùng thước đo ánh nắng vào lúc 12h trưa theo giờ Sne trong ngày hạ chí,cùng
với ngày đơng chí là hai ngày khoảng cách giữa Mặt trời và Xích đạo lớn nhất. Lúc
này mặt trời lên thiên đỉnh ở Sne, cịn ở Alexandrie thì bóng nghiêng 7 độ. Kết
hợp với những tính tốn hình học, ơng đã đưa ra được kết quả trên.Sử dụng thuật
ngữ “địa lý học” để thay thế cho những thuật ngữ sử dụng trước đó như “địa chí”,
“hải chí”, “lục chí”,... Eratosthenes đã viết quyển “Địa lý học khái luận” có kèm
3
theo cả bản đồ thế giới, đồng thời khẳng định Trái đất hình trịn dựa vào hiện tượng
thủy triều lên xuống ở Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương có quy luật giống nhau.
2. Aristarque (310TCN - 230TCN)
Aristarque là người đầu tiên khẳng định rằng Trái đất không phải là một trung tâm
cố định của vũ trụ mà nó quay xung quanh Mặt trời, được trình bày trong cuốn sách
mang tên “Bàn về sự lớn nhỏ của Mặt trăng và Mặt Trời cũng như khoảng cách
giữa chúng với mặt đất). Đó là một đóng góp vơ cùng to lớn cho lĩnh vực thiên văn
học.
Ông khẳng định Mặt Trời lớn hơn quả đất và đứng yên, Trái Đất tự quay xung
quanh mình nó theo một trục nghiêng và cùng với các hành tinh khác chuyển động
xung quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo hình trịn. Tuy nhiên, ý kiến của ơng thời
bấy giờ khơng những khơng được cơng nhận mà cịn bị cho là “quấy rầy sự nghỉ
ngơi của các thiên thần”.
B. LA MÃ
Nhà thiên văn học nổi tiếng nhất của La Mã cổ đại là Ptoleme. Ông đã tổng kết các
kiến thức văn học, địa lý học của Ai Cập, Lưỡng Hà và Hy Lạp để soạn thành bộ
sách “Hệ thống vũ trụ”. Trong tác phẩm của mình Ptoleme đã khẳng định quả đất
hình cầu, nhưng lại sai lầm khi cho rằng quả đất là trung tâm của vũ trụ và đứng
yên một chỗ. Thuyết quả đất là trung tâm (còn gọi là thuyết địa tâm) của Ptoleme
thống trị ở châu Âu đến giữa TKXVI mới bị thuyết Mặt Trời là trung tâm, tức
thuyết nhật tâm của Copecnic lật đổ.
Ngoài ra, “Four Books” là một trong những chuyên luận nổi tiếng về chiêm tinh
học của Ptoleme - một cơng trình mở rộng về các nguyên tắc chiêm tinh và tử vi.
Trong các lý thuyết của mình, ơng đã tun bố rằng những căn bệnh mà con người
phải chịu là do ảnh hưởng của Mặt trời, Mặt trăng, các ngôi sao và các hành tinh.
Theo đó, mỗi thiên thể có ảnh hưởng ở một số bộ phận cơ thể con người.
4
III. Y HỌC
A. HY LẠP
Thời kỳ cổ đại, người Hy Lạp xem bệnh tật như là “sự trừng phạt của thánh thần”
và chữa bệnh là “món quà các vị thần”. Vào thời điểm đó, y học gắn liền với tơn
giáo và phương pháp chữa trị bệnh hữu hiệu chính là những hiện tượng siêu nhiên
huyền bí. Sau này, các thử nghiệm liên tục được tiến hành và chính kết quả đưa ra
từ những thực nghiệm này đã góp phần chỉ ra những hạn chế của những niềm tin
thuần túy về các khái niệm “hình phạt” và “q tặng”. Từ đó, nền y học dần được
thay thế bằng các nền tảng khoa học, vật lý, tức nghĩa là chú trọng vào nguyên
nhân gây bệnh và hiệu quả của việc chữa bệnh.
1. Hippocrate (460TCN - 370TCN)
Được tôn sùng là “ông tổ của ngành y học phương Tây”, Hippocrate là người đầu
tiên coi y học là một ngành khoa học, đồng thời bác bỏ những quan điểm của y học
phương Tây cổ đại với quan niệm bệnh tật chỉ có thể chữa khỏi bởi các phương
pháp mê tín dị đoan. Thay vào đó, ông cho rằng mỗi căn bệnh đều có căn nguyên
của nó. Đối chiếu với các quan điểm về bệnh tật đương thời, quan điểm của
Hippocrate bị phản đối kịch liệt và bản thân ông cũng phải ngồi tù đến tận hai mươi
năm sau đó. Vậy mà, với một trí tuệ đi trước thời đại, trong khoảng thời gian cầm
tù, ông được đúc kết các kiến thức và viết nên trong cuốn sách y học mang tên “Cơ
thể phức tạp” mà rất nhiều điều trong đó vẫn cịn tính ứng dụng cho đến ngày nay.
Các đóng góp về mặt y học của Hippocrate phải kể đến:
Lời thề Hippocrate
Lời thề Hippocrate đóng vai trò như một bộ luật đạo đức cổ đại cho các bác sĩ.
Trong lời tuyên thệ nguyên gốc, các bác sĩ thề với các nữ thần sức khỏe và các vị
thần Hy Lạp sẽ thực hiện các nguyên tắc y khoa trong khả năng tốt nhất của họ.
Sau này, lời tuyên thệ được Tiến sĩ Louis Lasagna và Hiệu trưởng trường y học học
Sackler viết lại để phù hợp với những quy chuẩn của y khoa hiện đại. Mặc dù đến
thời điểm hiện tại, lời thề Hippocrate bị cho là chưa đủ để đáp ứng với các mâu
thuẫn phát sinh trong xã hội ngày nay, ví dụ như phá thai hợp pháp, các điều cơ bản
5
của lời thề vẫn được các bác sĩ giữ vững, đó là sử dụng khả năng tốt nhất của mình
để chữa trị cho bệnh nhân, bảo vệ quyền riêng tư của bệnh nhân và truyền đạt lại
các kiến thức về mặt y học cho những thế hệ sau.
Các đóng góp về y học
Hippocrate và các học trị của ơng đã biết về các bệnh lao, ung thư, thiếu máu,
bướu cổ, sỏi mật, ứ máu, động kinh, tiểu đường, các bệnh về tai mũi họng, tiết niệu,
sinh dục, xương, da,... Đồng thời, Hippocrate còn là một nhà giải phẫu học, đã mổ
để điều trị gãy xương, trật khớp cũng như chữa các chấn thương đầu. Các loại dụng
cụ phẫu thuật mà ông sử dụng cũng rất đa dạng, trong đó bao gồm: dao mổ, muỗng
nạo, đầu dò,...
Về thuốc, Hippocrates sử dụng thuốc ngủ, thuốc an thần, muối acid, muối đồng,
thuốc mỡ, thuốc phiện,... để điều trị.
2. Các nhà y học Hy lạp khác
2.1 Herophilos (335TCN - 280TCN)
Được gọi là cha đẻ của giải phẫu học, Herophilos đã sớm thực hiện các cuộc phẫu
tích cơng khai trên tử thi người một cách hệ thống. Thời kỳ Hy Lạp hóa, vua
Philadenpho (309-246TCN) là một người hay đau ốm, muốn tìm thuốc trường sinh
bất lão nên đã tích cực thi hành chính sách khuyến khích sự phát triển của y học.
Chính vì vậy, một số thầy thuốc, trong đó có Herophilos đã được tiến hành giải
phẫu sinh thể trên cơ thể của tử thi tội phạm kết án, vốn được coi là một điều cấm
kỵ cho đến tận thời kỳ phục hưng. Một số những thành tựu của Herophilos gồm có:
Là nhà khoa học Hy Lạp đầu tiên thực hiện các cuộc phẫu tích và phân tích một
cách có hệ thống về xác chết của con người. Herophilus đã ghi chép lại các nghiên
cứu của mình trong hơn chín tác phẩm, hiện nay đã mất hết.
Các thành tựu trong y học của Herophilos có thể kể đến: Phát hiện ra rằng động
mạch của người dày hơn tĩnh mạch và tâm nhĩ là một phần của tim, phát hiện tổn
thương dây thần kinh vận động dẫn đến tê liệt; tìm hiểu và đặt tên cho màng não và
não thất, mối quan hệ giữa tiểu nào với đại não và nhận thức được rằng não là “cái
6
nơi của trí tuệ”, mơ tả thân kinh mắt, thân kinh vận nhãn, thần kinh tiền đình - ốc
tai, thần kinh sinh ba và thần kinh hạ thiệt
Có thể kết luận rằng, các kiến thức về cơ thể người do Herophilos nghiên cứu đã
đóng vai trị nền tảng để các nhà y học của các thế hệ kế tiếp tiếp tục tìm hiểu về
não, mắt, hệ thần kinh, gan, cơ quan sinh dục; từ đó, hình thành và mơ tả các đặc
trưng bệnh trong cơ thể
2.2 Heraclide (212TCN – 199TCN)
Heraclide là bác sĩ theo chủ nghĩa kinh nghiệm Herophilos. Heraclide là người đầu
tiên dùng thuốc mê để phẫu thuật. Đó là phát minh quan trọng trong y học, nhưng
sau đó bị lãng quên và phải tới tận năm 1860 mới được tiếp tục áp dụng trở lại.
B. LA MÃ
1. Claudius Galenus (129TCN – 216TCN)
Claudius Galenus nổi tiếng là một thầy thuốc người La Mã gốc Hy Lạp. Trên cơ sở
tiếp thu các thành tựu y học trước đó, nhất là của Hippocrates, ông đã viết nhiều tác
phẩm để lại tới sau này, trong đó có một số được lưu lại đến tận thời Trung đại và
được dịch thành tiếng Arap, Do Thái, Latinh. Điều này chứng tỏ các tác phẩm của
ơng vẫn giữ được giá trị và có uy tín lớn đến thời trung đại. Một trong số đó phải kể
đến “Phương pháp chữa bệnh” được dùng làm sách giáo khoa trong thời gian dài.
Giải phẫu y học
Claudius Galenus là người tiên phong trong phương pháp thí nghiệm của giải phẫu
y học. Trong suốt cuộc đời mình, ơng đã giải phẫu nhiều loại động vật để tìm hiểu
cơ chế hoạt động của cơ thể chúng. Trên thực tế, một số nghiên cứu về giải phẫu và
sinh lý của ông đã đưa ra kết quả chính xác, ví dụ như việc ông đã chứng minh
được nước tiểu được hình thành ở thận, trái với niềm tin phổ biến ở thời kỳ đó là
được hình thành trong bàng quang thay vì thận. Khám phá quan trọng nhất của ông
là việc động mạch mang máu, dù ông chưa phát hiện ra sự tuần hoàn.
7
Giới thiệu thí nghiệm vào thực hành y tế
Trong quá trình tiến hành thì nghiệm y học, Claudius Galenus đã nghiên cứu chức
năng của phổi và cơ chế hô hấp. Đồng thời, ông đã mô tả cấu trúc cơ thể người và
đặt tên các khớp, cơ và xương riêng lẻ mà y học ngày nay vẫn cịn sử dụng. Ngồi
ra, Galenus cịn mơ tả nhiều bệnh của cơ thể người, trong đó có các bệnh về mắt
Các thuật ngữ y học
Claudius Galenus là người đã tạo ra những thuật y học, trong số đó phải kể đến:
hình thành khối u, tắc nghẽn bụng, hạch thần kinh, xương ức, ống dẫn não,...
IV. TOÁN HỌC, VẬT LÝ
A. HY LẠP
1. Thales (624TCN -546TCN)
Thales là nhà khoa học đầu tiên và cũng là người đặt nền móng cho khoa học tự
nhiên Hy Lạp. Ơng vừa là nhà Toán học, nhà thiên văn học, vừa là nhà triết học. Về
Toán học, Thales đã chứng minh các góc đáy của tam giác cân thì bằng nhau, xác
định một tam giác khi biết một cạnh và hai góc kề của nó, từ đó có thể tính được
chiều cao của một vật khi biết bóng của nó. Với phát minh này, ơng là người đầu
tiên tính được chiều cao của Kim Tự Tháp ở Ai Cập
2. Pythagore (580-572TCN – 500-490TCN)
Pythagore là một trong nhũng nhà toán học, nhà khoa học vĩ đại bậc nhất trong lịch
sử. Ơng có công tổng kết những tri thức về số học, thiết lập nhiều cơng thức, định
lý tốn học, trong đó có định lý nổi tiếng tam giác vng, cịn gọi là định lý
Pythagore: “Trong tam giác vng, bình phương cạnh huyền bằng tổng bình
phương 2 cạnh góc vng”.
Pythagore là người đã có cơng trong việc nghiên cứu và đưa các con số lên một
trình độ mới mà trong đó, ta có thể khám phá ra mối quan hệ giữa các con số và sự
rung động giữa các con số đó. Khi nhắc về Pythagore, nhiều người sẽ nhớ tới ông
như một nhà sáng lập của trường phái Pythagoras. Trường phái này đặt niềm tin lớn
vào các con số: Chính những con số tạo ra vật chất, thế giới, con người và vì thế có
8
thể dự đoán được tương lai của chúng ta. Cũng chính vì vậy Pythagore được xem là
người đã đặt nền móng cho bộ mơn Thần số học, trong đó mọi thứ xung quanh
chúng ta được thể hiện bằng các con số và tn theo các mơ hình, chu kỳ nhịp
nhàng.
Tài năng của Pythagore là một điều mà khơng ai có thể phủ nhận, bởi chính Thales,
người mà được xem là cha đẻ của khoa học cũng vô cùng ấn tượng trước khả năng
và trí thơng minh của Pythagore.
3. Euclid (330TCN – 275TCN)
Là nhà toán học nổi tiếng nhất của Hy Lạp cổ đại, ơng là người có thời gian dài dạy
học ở Alechxandria và là người thành lập một phái tốn học ở đây, lấy hình học làm
trung tâm, đào tạo ra nhiều nhà toán học. Euclid đã tổng kết những tri thức đương
thời về hình học để soạn thành một bộ sách giáo khoa về hình học mang tên
“Những định luật cơ bản của Toán học” gồm 13 quyển. Trong bộ sách này, ông đã
dựa vào logic để sắp xếp các định lý, mệnh đề và luận chứng thành một hệ thống
nghiêm chỉnh, đồng thời dùng cách diễn đạt rõ ràng để diễn giải. Cho đến ngày nay,
giá trị của bộ sách đó vẫn cịn được khẳng định.
B. LA MÃ
1. Heron
Quê hương của Heron là tại Alexandria, vùng Ai Cập thuộc La Mã Heron là một kỹ
sư tài ba và là nhà toán học lỗi lạc - là người đã đưa ra các phương pháp tính diện
tích hình cầu và diện tích hình tam giác mà ngày nay được gọi là công thức Heron.
Về lĩnh vực kỹ thuật, Heron phát minh ra chiếc máy vận hành bằng đồng xu đầu
tiên trên thế giới vào thời điểm đó, để phát rượu trong các ngôi đền, đàn thủy cầm,
động cơ cứu hỏa và một hệ thống cơ khí tự động bao gồm chim có thể hót và các
con rối. Ơng đồng thời cũng thiết kế cấu trúc cho nhà hát, cho phép trình diễn một
vở kịch kéo dài mười phút hồn tồn bằng máy móc. Đáng tiếc thay, phần lớn các
tác phẩm của ông đã bị phá hủy trong lúc thư viện Alexandria bị phá hủy, may mắn
là một số ít vẫn còn được bảo tồn nhờ các bản thảo tiếng Ả Rập.
9
V. KẾT LUẬN
Tổng kết chung, nền khoa học La Mã so với Hy Lạp thua kém và lạc hậu hơn
nhiều, nhưng không thể phủ nhận rằng người La Mã rất tài ba trong lĩnh vực kỹ
thuật và rất giỏi trong việc ứng dụng khoa học vào các lĩnh vực nông nghiệp, quân
sự, kiến trúc và thủy lợi,... Sở dĩ tồn tại những cách biệt như vậy giữa hai nền văn
minh là bởi vì người La Mã quá để tâm vào các vấn đề liên quan đến việc cai trị,
vào các cuộc chiến tranh xâm lược, và cũng bởi vì họ có đầu óc quá thực tế, thực
dụng, chỉ chú ý tới việc giải quyết những vấn đề mà cuộc sống hằng ngày đặt ra.
10
VI. TÀI LIỆU, NGUỒN THAM KHẢO
Admin. “Pythagoras - Nhà Toán Học Thiên Tài.” Gì Cũng Biết, April 21, 2020.
/>“Herophilos .” (Cơ sở & Dịch vụ Y tế) - Mimir Bách khoa toàn thư. Accessed
December 15, 2021. />“Herophilus: Bác SĨ Alexandria.” Herophilus | Bác sĩ Alexandria, November 9,
2020. e/vi/s%E1%BB%A9c-kh%E1%BB%8Fe-y-h
%E1%BB%8Dc/thu%E1%BB%91c/bac-si/herophilus.
“Lịch Sử Phát Triển Của Nền y Học Thế Giới.” Benhvienkhanhhoa.org.vn.
Accessed December 15, 2021. />id=2&idR=838&idn=1.
“Lịch Sử Phát Triển Của Nền y Học Thế Giới.” TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHAN CH
U TRINH. Accessed December 15, 2021. />“Lịch sử y học.” SachDienTu - All Items. Accessed December 15, 2021.
/>“Mạch Học Cổ Xưa.” Trang chủ. Accessed December 15, 2021.
/>Magner, Lois N., V^ V_n Lư`ng, and Nguyan Ngọc Lương. Lịch sử Y Học = a
History of Medicine. T.P. Hb Chc Minh: Nhà xudt ben Trf, 2017.
Minh Vũ Dương. Lịch Sư V_n Minh thê Giơi. Hanoi: Nhà Xuht Ben Giáo Dục,
2007.
NCQT, Author. “Claudius Galen: Người Tiên Phong Của Giei Phẫu y Khoa.”
Nghiên cứu quốc tế, May 19, 2020.
/>
11