Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

Phát huy tính tích cực của học sinh bằng phương pháp thảo luận nhóm trong học tập môn tin học 9 THCS tạ thị kiều lê ngọc thúy

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (198.03 KB, 9 trang )

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ...................................................... (do Hội đồng chấm ghi)
Tên sáng kiến:
“PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG HỌC TẬP MÔN TIN HỌC 9”
1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn Tin học.
2. Mô tả bản chất của sáng kiến:
2.1. Tính trạng giải pháp đã biết
Năm học 2015 - 2016 là năm thứ hai tôi được phân cơng giảng dạy mơn Tin
học 9, nhìn chung lại lớp học thường xảy ra tình trạng:


Một số học sinh vào giờ học có tính chất đối phó, miễn cưỡng hay

học sinh nói chuyện riêng, thiếu tập trung, đùa giỡn,…


Một số học sinh ngược lại chỉ biết ngồi nghe giáo viên một cách thụ

động.
Như vậy may mắn lắm các em chỉ tiếp thu được một lượng kiến thức rất ít,
khơng sâu, khơng bản chất. Trong q trình học tập, nếu học sinh đã khơng
thích, khơng hứng thú khi học mơn học nào đó thì thường là khơng học tốt mơn
học đó.
Qua thực tế dạy và tìm hiểu, tơi nhận thấy Tin học là một mơn học mới,
chưa có sẵn mạch kiến thức cơ bản như các mơn học khác, có những kiến thức
trừu tượng, khó hiểu mà học sinh lại khơng có nhiều thời gian cho mơn học này
vì đa số các em phải tập trung cho các mơn học chính. Ở mơn Tin 9 có những


bài học liên hệ từ thực tế nhiều (như ở Chương II, Chương IV). Nếu chỉ dạy
sn theo sách giáo khoa thì học sinh cảm thấy rất nhàm chán, đòi hỏi giáo viên
phải linh hoạt vận dụng phương pháp dạy học sao cho làm sáng tỏ vấn đề, khám

-1-


phá những tri thức mới có liên quan, tạo sự tích cực trong học sinh, tiết học trở
nên hứng thú hơn.
2.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
2.2.1. Mục đích của giải pháp
Đề tài được thực hiện nhằm giúp học sinh tích cực hơn trong học tập ở
môn Tin học 9.
2.2.1. Nội dung của giải pháp
2.2.1.1. Những điểm khác biệt và tính mới của giải pháp
- Sự khác biệt và tính mới của giải pháp là trong hoạt động thảo luận
nhóm, dưới sự giám sát của giáo viên đã hạn chế rất nhiều những thói quen xấu
của học sinh như nói chuyện riêng, thiếu tập trung, đùa giỡn. Học sinh hợp tác
hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình học tập, mạnh dạn hơn trong giải quyết vấn đề,
thể hiện tinh thần đoàn kết cao.
- Đặc biệt sáng kiến này giúp bản thân tơi có điều kiện bổ sung và mở
rộng những kiến thức, giúp đánh giá được sự tiếp thu và trình độ tư duy của học
sinh từ đó trực tiếp uốn nắn những tri thức sai lệch và định hướng kiến thức cần
thiết cho học sinh.
2.2.1.2. Các bước thực hiện của giải pháp
1/ Khái quát về phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học đã
phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm, phát triển năng lực cộng tác làm
việc và năng lực giao tiếp của học sinh.
2/ Tiến hành thảo luận nhóm được thực hiện qua 3 giai đoạn



Giai đoạn 1: Lập kế hoạch thảo luận

Hoạt động thảo luận nhóm trên lớp học thành cơng hay không sẽ tùy
thuộc vào sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh. Vì vậy, trước khi lên lớp cả
giáo viên và học sinh cũng cần có sự chuẩn bị chu đáo.
1/ Chuẩn bị của giáo viên trước khi lên lớp
-2-


- Mục tiêu của hoạt động nhóm bài học này là gì?
- Những vấn đề thảo luận trong nhóm là những vấn đề gì?
- Nên chia lớp ra làm mấy nhóm cho phù hợp ?
- Hoạt động này cần bao nhiêu thời gian?
- Tất cả học sinh tham gia có thu được lợi ích từ hoạt động này khơng?
- Thiết bị dạy học cần dùng là những thiết bị gì?
- Dự kiến tình huống xảy ra và cách giải quyết.
- Học sinh phải chuẩn bị những gì?
- Soạn giáo án cho phù hợp với nội dung thảo luận nhóm
- Chuẩn bị những phương án dự bị nào?
2/ Chuẩn bị của học sinh:
- Nắm vững kiến thức bài cũ và xem trước bài mới mà giáo viên đã dặn
dò.
- Làm những bài tập của giờ trước (nếu có)
- Chuẩn bị thuyết trình về vấn đề mà giáo viên đã dặn trước (đối với nhóm
trưởng, việc này chỉ thực hiện khi nội dung thảo luận xoay quanh vấn đề lớn cần
nhiều thời gian)



Giai đoạn 2: Thực hiện nội dung thảo luận

Trong giai đoạn này, để việc giao nhiệm vụ, chia nhóm phù hợp đòi hỏi
giáo viên phải biết từng đối tượng lớp học cũng như khả năng và trình độ của
học sinh.
1/ Giao nhiệm vụ
Yêu cầu thảo luận cho từng nhóm có thể viết lên bảng, viết vào giấy giao
cho từng nhóm, tôi thường sử dụng Netop School chiếu lên các máy con,... Câu
hỏi thảo luận phải là câu hỏi: mở, dễ hiểu, phù hợp với sự hiểu biết của học sinh,
có thể là những câu suy luận như: Làm thế nào…?; Liệt kê…?
Hướng dẫn học sinh cách thực hiện, giải đáp thắc mắc của học sinh trước
khi chính thức đi vào hoạt động, đồng thời ghi lại chủ đề và chỉ dẫn lên bảng,…
2/ Chia nhóm học sinh
-3-


Việc phân chia nhóm có thể dựa vào số lượng học sinh của lớp học, đặc
điểm học sinh và chủ đề bài học. Có thể thực hiện hồn tồn ngẫu nhiên hoặc có
thể theo số thứ tự, theo giới tính, theo vị trí chỗ ngồi,..
Giáo viên nên có nhiều cách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho
học sinh đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhau. Cụ
thể với giờ học được tổ chức ở phòng máy và số lượng học sinh mỗi lớp khoảng
30-34 học sinh. Tơi đã chia nhóm tùy theo nội dung bài như sau:
 Cách 1- Chia nhóm nhỏ cùng thảo luận (cùng nhiệm vụ):
Cách này có thể chia theo chỗ ngồi (khoảng 4-6 học sinh) để thảo luận về
một khía cạnh xoay quanh một vấn đề nào đó. Sau thời gian thảo luận mỗi nhóm
nhỏ cử một thành viên trình bày ý kiến của cả nhóm cho cả lớp nghe, các nhóm
trình bày ý kiến của nhóm sau khơng được lặp lại ý của nhóm trước đã trình bày.
Ví dụ: Trong bài 7. TIN HỌC VÀ XÃ HỘI. Mục I. Vai trị của tin học và
máy tính trong xã hội hiện đại (Sách giáo khoa trang 70)

Giáo viên cho các nhóm cùng thảo luận nội dung: “Liệt kê một số lĩnh vực
hoạt động đã và đang ứng dụng tin học mà em biết?”. Các nhóm thảo luận trong
3 phút và cử đại diện trình bày (1phút/nhóm)
Giáo viên có thể chỉ định bất kì nhóm trình bày ý kiến nhưng nhóm sau
khơng lặp lại ý của nhóm trước sau đó giáo viên nhận xét, kết luận.
 Cách 2- Chia nhóm theo tổ (khác nhiệm vụ):
Phịng máy có 4 dãy được chia thành 4 nhóm (từ 7 đến 9 học sinh). Sau khi
các nhóm thảo luận (4phút/nhóm) sẽ cử đại diện trình ý kiến của nhóm cho cả
lớp, sau đó các nhóm khác nhận xét bổ sung ý kiến và cuối cùng giáo viên nhận
xét kết luận ý kiến của từng nhóm.
Ví dụ: Trong bài 7. TIN HỌC VÀ XÃ HỘI. Tiếp tục mục I. Vai trò của tin
học và máy tính trong xã hội hiện đại (Sách giáo khoa trang 70)
Giáo viên chia lớp làm 4 nhóm, mỗi nhóm một hướng để thảo luận:
 Nhóm 1: Ứng dụng của tin học trong lĩnh vực giải trí?
-4-


 Nhóm 2: Ứng dụng của tin học trong lĩnh văn phịng ?
 Nhóm 3: Ứng dụng của tin học trong lĩnh vực Dạy học và học tập?
 Nhóm 4: Ứng dụng của tin học trong lĩnh vực Y học?
 Cách 3- Chia nhóm theo sở thích
Cách này thực hiện dựa trên việc các học sinh tự do lựa chọn để tạo thành
một nhóm. Giáo viên sẽ giao nhiệm vụ thực hiện một công việc trong một thời
gian nhất định. Nhóm này từ 4-6 học sinh và hình thức này tơi đã dành cho giờ
học thực hành nhóm theo đề tài.
Ví dụ: Với bài thực hành 4. TẠO TRANG WEB ĐƠN GIẢN (Sách giáo
khoa trang 53). Để hướng cho học sinh thực hành nhóm theo đề tài (thời gian
thực hiện: 4 tiết thực hành), sau khi học xong 2 tiết lý thuyết.
Giáo viên chia nhóm, phân cơng nhóm trưởng; u cầu học sinh tìm hiểu
trước các bước tạo trang web. Theo các em bước nào là quan trọng nhất?

Các yêu cầu tiếp theo cho nhóm như: bàn luận để xác định rõ bước tạo sơ
đồ kịch bản là quan trọng nhất; vẽ sơ đồ kịch bản cho đề tài nhóm đã chọn; nộp
sơ đồ kịch bản để giáo viên góp ý kiến. Giáo viên sẽ dựa vào sơ đồ kịch bản và
mặt bằng kiến thức của từng đối tượng học sinh để phân chia công việc cho các
thành viên. Học sinh theo nhóm, theo nhiệm vụ tiến hành làm việc. Cuối cùng là
báo cáo kết quả thực hiện.
3/ Nội dung và thời gian thảo luận
- Nội dung thảo luận của các nhóm có thể giống hoặc khác nhau.
- Thời gian thảo luận có thể căn cứ vào nội dung bài học cũng như đặc
điểm của lớp học.
4/ Hoạt động của giáo viên và học sinh trong thời gian thảo luận nhóm
* Hoạt động của giáo viên:
- Khi học sinh đang thảo luận thì nhiệm vụ của giáo viên lúc này là nhận
biết tiến trình hoạt động của các nhóm từ đó có thể có những can thiệp kịp thời
để mang lại hiệu quả cao. Các hoạt động có thể là:
-5-


+ Giáo viên cần phải quan sát và giám sát mọi hoạt động của lớp, phải
chú ý đến yêu cầu mà mình yêu cầu lớp thực hiện.
+ Chú ý lắng nghe q trình trao đổi của học sinh trong nhóm: những
phát hiện, hướng thảo luận của từng nhóm,... Từ đó có thể điều chỉnh kịp thời
nếu vấn đề mình đặt ra q khó, học sinh khơng đủ khả năng giải quyết, hoặc
ngược lại nếu vấn đề quá dễ sẽ khiến học sinh khơng có gì phải làm.
+ Bao qt lớp, tìm cách nhắc nhở học sinh khơng hoạt động tránh tình
trạng học sinh cịn ỷ lại vào nhóm trưởng thụ động, khơng tích cực.
+ Giáo viên cần đi vịng quanh các nhóm và lắng nghe ý kiến học sinh.
Xen lời bình luận vào giữa cuộc thảo luận của một nhóm hoặc khen ngợi,
khuyến khích và gợi ý cho học sinh trong quá trình thảo luận nếu thật sự cần
thiết.

* Hoạt động của nhóm trưởng:
Nhóm trưởng phải có khả năng tổ chức, có thể phân cơng nhiệm vụ cho
các thành viên, bố trí chỗ ngồi và hướng dẫn các thành viên thảo luận đúng với
nội dung đã được giao, điều động tất cả các thành viên trong nhóm tham gia tích
cực vào thảo luận, lắng nghe và ghi nhận lại ý kiến của các thành viên trong
nhóm mình, động viên khuyến khích những bạn ít nói, rụt rè phát huy tính năng
động, sáng tạo của các bạn trong nhóm.
Tuy nhóm trưởng không phải là người quyết định hết tất cả cho buổi thảo
luận. Nhưng vai trị của nhóm trưởng là rất quan trọng nên trong quá giảng dạy
giáo viên cần phải quan sát thái độ và cách làm việc của từng học sinh để lựa
chọn các nhóm trưởng cho thích hợp.
* Hoạt động các thành viên trong nhóm:
- Cùng nhau bàn luận, trao đổi để tìm ra được lời giải của câu hỏi hoặc bài
tập mà giáo viên đưa ra trên lớp.
- Cùng nhau thảo luận, tranh cãi về một chủ đề nào đó do giáo viên đưa
ra.
-6-


- Cùng tiến hành bài thực hành theo chương trình hoặc do giáo viên cung
cấp.


Giai đọan 3: Trình bày kết quả thảo luận:

- Kết quả thảo luận có thể được trình bày theo hình thức nói, viết hoặc kết
hợp cả hai. Nếu là yêu cầu thực hành tôi thường kết hợp phần mềm Netop
School cho học sinh thực hiện và trình bày. Kết quả có thể do một học sinh
thay mặt nhóm trình bày và học sinh khác trong nhóm có thể bổ sung.
- Với giáo viên, việc phản hồi lại ý kiến sau khi học sinh trình bày hay

nhóm khác nhận xét bổ sung là việc rất quan trọng. Vì phải đánh giá được phần
trả lời của học sinh đúng, sai hay thiếu sót chỗ nào để kịp thời bổ sung. Và cuối
cùng là tóm tắt lại tất cả các điểm chính, đưa ra định hướng đúng mà học sinh
cần nhớ sau khi thảo luận rồi ghi nội dung bài học vào vở.
Ví dụ: Trong bài 7.TIN HỌC VÀ XÃ HỘI (Sách giáo khoa trang 70). Mục
I. Vai trò của tin học và máy tính trong xã hội hiện đại. Sau 2 yêu cầu thảo luận
nhóm:
+ Liệt kê một số lĩnh vực hoạt động đã và đang ứng dụng tin học mà em biết?
+ Ứng dụng của tin học trong lĩnh vực giải trí, văn phịng, dạy học và học tập, y
học?
Giáo viên cũng cần chuẩn bị trước, để tóm tắt lại vấn đề thảo luận cho học
sinh thấy được những lợi ích tin học trong cuộc sống

-7-


2. 3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Trước hết tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và áp phương pháp này trong hoạt
động dạy và học ở chương trình học kì II của mơn Tin học 9 năm học 2015 2016.
Dựa vào hiệu quả khi vận dụng đề tài này tại đơn vị trong thời gian qua,
phương pháp dạy học tích cực này có thể được áp dụng phổ biến trong giảng
dạy mơn Tin học THCS.
2.4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp
Tôi nhận thấy phương pháp này cũng tạo ra những chuyển biến tích cực
trong việc dạy và học: phần đông học sinh hứng thú hơn, tích cực tham gia ý
kiến hơn, thoải mái, vui vẻ mỗi khi đến tiết, thao tác hoạt động của học sinh
nhanh nhẹn hơn, có ý thức tập trung hơn. Qua thảo luận nhóm học sinh thật sự
mạnh dạng hơn, kỹ năng diễn đạt tốt hơn, phá tan được bầu khơng khí n lặng
của các học sinh mệt mỏi, nhút nhát.
- Cụ thể qua kết quả thống kê điểm kiểm tra học kì 1 năm học 2015 - 2016

sau:


Chưa áp dụng sáng kiến cho 3 lớp 91, 92, 93
Lớp
1

9
92
93
Tổng



số
33
30
31
94

GIỎI
KHÁ
T.BÌNH
YẾU
KÉM
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
18
24
19
61


54.5
80.0
40.6
64.8

10
2
8
20

30.4
6.7
34.4
21.3

3
3
3
9

9.1
10.0
21.9
9.6

1
1
1
3


3.0
3.3
3.1
3.2

1
0
0
1

3.0
0.0
0.0
1.1

Áp dụng sáng kiến cho 3 lớp 94, 95, 96

Lớp
4

9
95
96
Tổng


số
31
30

30
91

GIỎI
KHÁ
T.BÌNH
YẾU
KÉM
SL TL% SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
19 61.3 10 32.3
2
6.4
0
0.0
0
0.0
23 76.7
6
20.0
1
3.3
0
0.0
0
0.0
21 70.0
6
20.0
3
10.0 0

0.0
0
0.0
63 69.2 22 24.2
6
6.6
0
0.0
0
0.0
-8-


- Kết quả thu được cũng có nâng cao được về chất lượng học tập của học sinh.
- Trường hợp cùng một đối tượng học sinh nhưng khi được giáo viên quan tâm tổ
chức thảo luận chu đáo thì phần đông học sinh hứng thú trong học tập, thoải mái mỗi
lúc đến tiết học. Điều đó, để một lần nữa khẳng định vai trò của việc tổ chức thảo luận
theo nhóm là cần thiết đối với mơn Tin học nói riêng và mơn học khác nói chung. Điều
đặc biệt quan trọng là học sinh u thích và hứng thú tìm hiểu sâu sắc hơn môn học
này.

2. 5. Tài liệu kèm theo gồm: Không

-9-



×