PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỎ CÀY NAM
MƠ TẢ GIẢI PHÁP
TÊN SÁNG KIẾN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC LỊCH SỬ
BẰNG KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP
TRUYỀN THỐNG VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Mỏ Cày Nam, tháng 4 năm 2016
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ GIẢI PHÁP
Mã số: ………………………..
Tên sáng kiến: “Nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử bằng kết hợp
phương pháp truyền thống với công nghệ thông tin”.
1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: chuyên môn Lịch sử.
2. Mô tả bản chất của sáng kiến
2.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Đặc thù học tập môn Lịch sử của bậc Trung học cơ sở là các em phải tiếp
cận với nhiều sự kiện Lịch sử, với những vị anh hùng, những danh nhân Lịch sử
vĩ đại không chỉ của dân tộc mà cả của thế giới từ cổ đến kim, từ cận đại đến hiện
đại. Khi học Lịch sử thì yêu cầu các em phải nhớ sự kiện và hiểu nội dung bài học
một cách chính xác, đầy đủ. Bởi vậy khi học, buộc các em phải cần cù, chịu khó
lĩnh hội kiến thức thì mới thực sự đạt được kết quả cao. Vì thế bộ mơn Lịch sử
khó gây được hứng thú học tập ở các em.
Trong thực tế giảng dạy giáo viên chưa phát huy được tính tích cực,
chưa gây hứng thú cho học sinh, giáo viên chủ yếu dựa vào thủ pháp trình bày
miệng, tường thuật tích cực hơn là có sự kết hợp với một số phương tiện như
tranh ảnh, bản đồ.... Về phía học sinh, chưa chú tâm học tập, nhiều em vẫn cho
rằng học môn Lịch sử phải ghi nhớ q nhiều sự kiện khơ khan, cho rằng đó
chỉ là môn phụ, không quan trọng, nội dung kiến thức q dài, khó nhớ....
Phương pháp dạy học tích cực khơng có nghĩa là gạt bỏ những phương pháp
dạy học truyền thống, mà là kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ thống
phương pháp dạy học truyền thống, đồng thời cần phải học hỏi và vận dụng
những phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực, khắc phục những vấn đề
mà phương pháp dạy học cũ còn chưa phù hợp. Vì vậy, mỗi giáo viên cần có sự
chủ động, sáng tạo tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm gây hứng thú
học tập bộ môn cho học sinh. Đối với bộ môn Lịch sử, sử dụng đồ dùng trực
2
quan phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học là một trong những
hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học.
Việc kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ thông tin trong dạy
học Lịch sử sẽ giúp giáo viên sáng tạo ra nhiều đồ dùng dạy học phù hợp với nội
dung các tiết dạy, thiết kế các bài dạy bằng giáo án điện tử, với những hình ảnh
sinh động, những thước phim tài liệu ...vì vậy tiết dạy Lịch sử sẽ trở nên sinh
động, có sức lơi cuốn.
2.2. Nội dung giải pháp đề nghị cơng nhận là sáng kiến
2.2.1. Mục đích của giải pháp
Tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử theo hướng phát
huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của
từng đối tượng học sinh.
Hỗ trợ giáo viên trong việc nâng cao kiến thức, kĩ năng và thiết kế bài
dạy bằng ứng dụng công nghệ thông tin. Trợ giúp cho giáo viên trong việc
hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức mới, phát huy tính tìm tịi, khám phá
của học sinh.
Hỗ trợ học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức. Giúp cho học sinh có ý
thức học tập tốt đối với mơn học Lịch sử nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạyhọc. Khắc phục những nhận thức sai lệch về vị trí chức năng của bộ mơn Lịch sử
trong đời sống xã hội cũng như tình trạng khá phổ biến ở nhiều trường hiện nay
là học sinh không biết những sự kiện Lịch sử cơ bản ở phổ thông, nhớ sai, nhớ
nhầm kiến thức Lịch sử
2.2.2. Nội dung giải pháp
* Tính mới của giải pháp
Giáo viên có thể sử dụng các hình ảnh tư liệu, sự kiện lịch sử từ các nguồn
phim ảnh đa dạng từ internet, băng ghi hình, tranh ảnh trong sách báo mà không
phải mang theo đồ dùng dạy học cồng kềnh khi lên lớp. Có thể tìm ra nhiều trị
chơi thật hấp dẫn để lơi cuốn các em theo vịng quay của bánh xe Lịch sử.
3
Trong các tiết dạy có ứng dụng cơng nghệ thơng tin, học sinh học sôi nổi,
hứng thú hơn, tạo ra sự tập trung chú ý cao độ, giúp các em khắc sâu biểu tượng
về sự kiện hiện tượng Lịch sử, từ đó các em có thể thuộc bài ngay tại lớp.
* Cách thực hiện và các bước thực hiện
Để kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ thông tin trong dạy
học Lịch sử đạt hiệu quả, có rất nhiều hình thức nhưng trong khn khổ của
đề tài này tơi đưa ra một số vấn đề như sau:
a. Sử dụng hình ảnh để minh họa cho nội dung bài học bằng “Sưu tầm
và thuyết minh những hình ảnh Lịch sử”
Một trong những lợi thế của môn học Lịch sử là có rất nhiều tư liệu bằng
hình ảnh như các bức hoạ, ảnh chụp đặc biệt là các bộ phim tài liệu phục vụ cho
dạy học.
Ví dụ: Bài 12: Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa của cuộc cách mạng
khoa học- kĩ thuật- Lịch sử 9. Mục I: Những thành tựu chủ yếu của cuộc
cách mạng khoa học- kĩ thuật.
Sau khi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm về những thành tựu tiêu biểu
trong lĩnh vực công nghệ với những thành tựu: công cụ sản xuất mới, nguồn
năng lượng mới, vật liệu mới, chinh phục vũ trụ, giao thông vận tải, thông tin
liên lạc... Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày sản phẩm và thuyết minh những
hình ảnh Lịch sử đã sưu tầm, học sinh có thể cử đại diện của các nhóm lần lượt
lên giới thiệu và thuyết minh về bức tranh, ảnh Lịch sử mà nhóm mình đã sưu
tầm được giúp học sinh có thái độ quan tâm, chú ý đến các bức tranh ảnh có liên
quan đến các sự kiện, nhân vật Lịch sử; từ đó có ý thức tìm tịi các tranh ảnh Lịch
sử và có những cảm nhận, cũng như những hiểu biết đối với các tranh ảnh Lịch
sử, giúp học sinh dễ khắc sâu kiến thức.
Sau đó giáo viên chốt lại nội dung và có thể đưa ra thêm các hình ảnh để
minh họa cho nội dung kiến thức vừa học.
b. Sử dụng hình ảnh để khắc sâu kiến thức:
4
Giáo viên đưa hình ảnh và hướng dẫn học sinh khai thác hình ảnh, sau
đó rút ra những vấn đề về kiến thức của bài học, nhằm khắc sâu kiến thức
trọng tâm. Vấn đề này khơng khó nhưng giáo viên lại không hay chú ý,
thường bỏ qua hoặc làm thay cho học sinh.
Ví dụ: Bài 2: Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794)- Lịch sử 8.
Mục I: Nước Pháp trước cách mạng
Tình cảnh người nơng dân dân Pháp trước cách mạng.
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát bức tranh, trả lời câu hỏi, sau đó khai
thác nội dung như sau:
Bức tranh miêu tả một người nông dân đã già nua (đầu đã hói) ốm yếu,
nhưng lại phải cõng trên lưng mình hai người có thân hình béo khỏe. Đó là
những ai? Đó chính là hình ảnh tượng trưng cho hai đẳng cấp Quý tộc và Tăng
lữ trong xã hội Pháp trước cách mạng. Người ngồi trước mặc áo choàng, nét
mặt có vẻ phởn chí, thỏa mãn là Tăng lữ (Đẳng cấp thứ nhất). Người ngồi sau
đeo một thanh kiếm dài ở cạnh sườn, có nhiều đồ trang sức và trang phục rất
đẹp- đó là Quý tộc (Đẳng cấp thứ hai). Trong túi quần và túi áo của Tăng lữ,
Quý tộc là các loại văn tự, khế ước cho vay nợ, cho thuê ruộng, những quy định
về nghĩa vụ phong kiến của nông dân. Người nông dân phải nộp đủ thứ thuế
như: thuế thừa kế, thuế rượu, thuế muối,… Sản phẩm làm ra phải nộp cho lãnh
chúa từ 10- 20%, nhà nước 50%, giáo hội 10%. Ngồi ra cịn thuế khi đi qua
cầu của lãnh chúa và thuế dùng cối xay bột,….
5
Vì phải cõng trên lưng bọn Quý tộc, Tăng lữ nên người nơng dân phải
cịng xuống, tay chống trên chiếc cuốc. Chiếc cuốc này biểu hiện cho công cụ
canh tác thô sơ lạc hậu của người nông dân cũng như nền kinh tế nông nghiệp
Pháp. Sản phẩm làm ra hết sức ít ỏi lại phải nộp gần hết cho Quý tộc, Tăng lữ;
số còn lại bị thỏ, chuột, chim ra sức phá hoại. Vì vậy, nếu người nơng dân
khơng vùng lên hất hai đẳng cấp trên ra khỏi lưng mình thì họ cũng sẽ quỵ
xuống mà chết. Điều đó lí giải vì sao người nơng dân Pháp là lực lượng đơng
đảo tham gia cách mạng và vì sao họ lại là những người cương quyết cách mạng
nhất.
Ví dụ: Bài 24- Lịch sử 9. Mục III. Diệt giặc đói, giặc dốt và giải quyết
khó khăn về tài chính.
Giáo viên chụp bức ảnh Hình 42 (Sách giáo khoa). “Nhân dân góp gạo
chống giặc đói” và trình chiếu trên màn hình lớn, hướng dẫn học sinh quan
sát, nhận xét về phong trào cứu đói của nhân dân ta trong những ngày đầu sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Khi
khai
thác,
giáo viên nên bổ sung kiến thức, cụ thể hố kiến thức bằng lời giảng hình
ảnh. Bằng những câu chuyện cụ thể để tạo ấn tượng, làm bài giảng thêm
sinh động hấp dẫn: “Hũ gạo cứu đói”,“Ngày đồng tâm”: Mỗi gia đình, mỗi
bữa bớt khẩu phần ăn của cả nhà một nắm bỏ vào hũ, một tháng cả nhà nhịn
ăn một bữa...... Giáo viên kể chuyện về tấm gương “Nhịn ăn của Chủ tịch
nước” trong những ngày này để giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho
6
các em. Tất cả mọi người, tất cả mọi nhà đều “Lập hũ gạo cứu đói”, đều
thực hiện “Ngày đồng tâm” khi hũ gạo nhà mình đầy, đem tới nơi quyên
góp gạo chung của cả làng....( giáo viên vừa giảng vừa cho học sinh trực
quan vào trung tâm bức ảnh) chỗ gạo quý hiếm chắt chiu ấy, sẽ được đưa tới
nơi đói gay gắt hơn, để đồng bào có được miếng cơm, bát cháo cho qua đi
những ngày khốn khó. Đấy chính là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau
cùng” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung
một giàn”. Trong gian nan, khốn khó, càng sáng bừng lên nghĩa cử
“Một nắm khi đói bằng một gói khi no”...
Khi dạy về giải quyết nạn dốt: Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát
bức ảnh trên màn hình lớn và cùng trao đổi thảo luận.
Giáo viên giải thích để học sinh hiểu: “Bình dân học vụ” là gì? Học tập
là nghĩa vụ của mọi người dân, có học- có kiến thức, mới xây dựng được
chính quyền mới, xây dựng được cuộc sống mới ... Một lớp bình dân học vụ
ban đêm: Có trẻ, có già, có trai, có gái, đầy đủ mọi lứa tuổi, giáo viên có thể
là những cơ, cậu 9, 10 tuổi; học sinh có thể là những cụ già 60, 70 tuổi, đang
say sưa học bài- lần đầu tiên nắn nót viết chữ “o tròn như quả trứng gà”, mà
miệng cũng trịn, mắt cũng trịn vì ngạc nhiên và sung sướng...
Khi dạy về giải quyết khó khăn tài chính: Sau khi đặt và giải quyết câu
hỏi về giải quyết khó khăn tài chính, giáo viên cho học sinh xem các ảnh để
khắc sâu biện pháp giải quyết khó khăn tài chính: “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ
vàng”
7
c. Sử dụng hệ thống bảng biểu để khái quát nội dung bài học
Sử dụng bảng niên biểu, bảng so sánh, giúp các em khái quát nội dung
sau mỗi phần, mỗi bài, mỗi giai đoạn Lịch sử....Hình thức này phù hợp với
phương pháp thảo luận nhóm, so sánh sự khác nhau.... giáo viên hướng dẫn
học sinh tìm hiểu sau đó trình bày và giáo viên đưa ra kết luận cuối cùng qua
các bảng biểu.
Nếu sử dụng phương tiện dạy học truyền thống, giáo viên phải chuẩn bị ở
nhà từ trước: phải dùng bút vẽ trên giấy khổ to, mất khá nhiều thời gian, mà hiệu
quả thấp, nhưng nếu chúng ta xây dựng trên Slide có hình ảnh hài hồ, hình thức
thể hiện phù hợp (đôi khi kèm theo ảnh phụ hoạ bên cạnh) sẽ có tác dụng rất lớn
trong việc giúp học sinh nhanh chóng hiểu kiến thức ngay tại lớp. Thông qua các
bảng biểu, sơ đồ, đồ thị,… xây dựng trên phần mềm Power Point có lời trình bày
sinh động, hấp dẫn của giáo viên cũng sẽ có tác dụng lớn đối với việc giáo dục tư
tưởng tình cảm và phát triển đầy đủ các năng lực nhận thức ở HS.
Ví dụ: Sau khi dạy xong bài 20: Cuộc vận động dân chủ 1936-1939Lịch sử 9. Giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh sự khác nhau giữa Cao trào
dân chủ 1936-1939 với Phong trào cách mạng 1930-1931.
Nội dung
Kẻ thù
1930 - 1931
Đế quốc, phong kiến.
Mục tiêu
và tay sai.
Độc lập dân tộc, người cày Tự do,dân chủ, cơm áo, hồ
có ruộng.
8
1936 – 1939
Phản động Pháp ở thuộc địa
bình.
Hình
thức Bước đầu thực hiện liên Thành lập Mặt trận nhân
tập hợp lực minh công- nông, tập trung dân phản đế Đông Dương.
lượng
chủ yếu ở Nghệ An, Hà
Tĩnh.
thức Bãi công, biểu tình, khởi Hợp pháp, nửa hợp pháp;
Hình
đấu tranh
nghĩa vũ trang.
công khai, nửa công khai.
Lực
lượng Chủ yếu là nông dân, cơng. Đơng đảo các giai cấp, tầng.
tham gia
Nhân.
lớp.
Nhận xét:
- Hồn cảnh thế giới và trong nước của mỗi thời kì khác nhau do đó
Đảng ta có chủ trương, sách lược, hình thức tập hợp lực lượng, hình thức đấu
tranh khác nhau phù hợp với từng thời kì.
- Chủ trương của Đảng thời kì 1936-1939 chỉ mang tính chất sách lược,
song rất kịp thời và phù hợp với tình hình, tạo được cao trào đấu tranh sơi
nổi. Điều đó chứng tỏ Đảng ta đã trưởng thành, đủ khả năng đối phó với mọi
tình hình diễn biến phức tạp, đưa cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển.
Ví dụ: Khi dạy bài 29: Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mĩ cứu
nước (1965-1973)- Lịch sử 9.
Sau khi kết thúc mục II.1. Mĩ tiến hành chiến tranh không quân và hải
quân phá hoại miền Bắc; giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh sự khác nhau
giữa chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.
Sau khi học sinh trình bày giáo viên đưa ra những nội dung theo yêu cầu....
Chiến lược
Âm
mưu
“Chiến tranh đặc biệt”
Tiến hành bằng quân đội tay
Chiến lược
“Chiến tranh cục bộ”
Tiến hành bằng quân đội Mĩ,
sai, dưới sự chỉ huy của cố vấn quân đồng minh và quân ngụy tay
quân sự Mĩ, vũ khí, trang bị kĩ sai, trong đó qn Mĩ giữ vai trị
thuật, phương tiện chiến tranh quan trọng. Tiến hành hàng loạt
của Mĩ, âm mưu cơ bản là:
9
cuộc hành quân “tìm diệt” và
“Dùng người Việt đánh người “bình định” vào “Đất thánh Việt
Việt”...
Phạm
vi
Được tiến hành ở miền Nam
Qui mô
cộng”.
Tiến hành ở miền Nam, mở rộng
chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Lớn và ác liệt hơn nhiều so với
chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
Qua các ví dụ trên ta có thể thấy lợi ích của giáo viên và hứng thú của
học sinh qua dạng bài này là: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, trả lời
và đến nội dung nào giáo viên bấm máy kênh chữ của nội dung đó hiện ra,
học sinh vừa nghe, ghi được nội dung chính theo yêu cầu. Tuy nhiên dạng bài
này địi hỏi giáo viên phải có kĩ thuật để thao tác các hiệu ứng, nếu không dẫn
tới trường hợp: sau khi học sinh trình bày hết các nội dung giáo viên chốt ý
và cuối cùng mới đưa ra bảng hệ thống kiến thức, vừa không khoa học, mặt
khác học sinh cũng không kịp thời theo dõi, dễ mất hứng thú học tập bộ môn
của học sinh.
d. Sử dụng lược đồ để khai thác nội dung bài học
Ưu thế của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử là
bằng các hiệu ứng giáo viên có thể làm cho học sinh thấy được sự sinh động
trong diễn biến các trận đánh và thấy được sự quyết liệt trong mỗi sự kiện...
Phương pháp này có thể áp dụng cho rất nhiều bài trong chương trình của bộ mơn
Lịch sử đặc biệt là các bài có diễn biến của phong trào cách mạng, các trận đánh
lớn. Tôi xin nêu một vài trường hợp ứng dụng cụ thể đó là:
Ví dụ: Bài 25: Phong trào Tây Sơn- Lịch sử 7. Mục II.2: Chiến thắng
Rạch gầm- Xoài mút (1785 ).
10
Lược đồ Chiến thắng Rạch gầm- Xoài mút (1785).
Trên cơ sở học sinh nắm được vì sao quân Xiêm xâm lược nước ta, thái độ
của quân Xiêm khi vào nước ta và quyết định của Nguyễn Huệ: chọn sông Rạch
Gầm- Xoài Mút làm trận địa quyết chiến. Sau khi phân tích vì sao Nguyễn Huệ
lại chọn đoạn sơng Rạch Gầm- Xoài Mút làm trận địa quyết chiến, giáo viên sẽ
treo lược đồ và yêu cầu học sinh trình bày diễn biến qua tìm hiểu từ sách giáo
khoa. Sau đó, giáo viên cho học sinh thấy được bức tranh sống động của diễn
biến trận đánh với các phương tiện kỹ thuật hiệu ứng hỗ trợ qua lược đồ có
hiệu ứng:
+ Thủy quân giấu trong các nhánh sông Rạch Gầm- Mút và sau các ngách
của cù lao.
+ Bộ binh mai phục bên bờ và trên cù lao giữa sông.
+ Ngày 19.1.1785, Nguyễn Huệ dùng mưu nhử địch vào trận địa mai phục.
Từ Mỹ Tho và ở các ngách của cù lao, các nhánh sơng đổ ra đánh phía trước mặt
và vào bên sườn địch. Trong khi đó phục binh ở hai bên bắn xã vào đoàn thuyền
chiến. Địch bị tiêu diệt gần hết, Nguyễn Ánh chạy thoát.
11
Ví dụ: Khi dạy bài 27: Cuộc kháng chiến tồn quốc chống thực dân
Pháp xâm lược kết thúc(1953-1954)- Lịch sử 9. Mục II.2: Chiến dịch lịch
sử Điện Biên Phủ (1954).
Giáo viên hỏi học sinh: “Vì sao Pháp-Mĩ lại chọn Điện Biên Phủ để xây
dựng tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đơng Dương? Sự hùng mạnh của tập đồn
cứ điểm Điện Biên Phủ được biểu hiện như thế nào?”, giáo viên trình chiếu
cho các em quan sát lược đồ khắc họa về địa thế của Điện Biên Phủ, về sự
gấp rút xây dựng lực lượng cơ động mạnh của quân Pháp ở đây,… kết hợp
với phương pháp trao đổi, đàm thoại, nêu vấn đề,… Lược đồ được xây dựng
với sự hỗ trợ của cơng nghệ thơng tin, có hiệu ứng sinh động, kèm theo hình
ảnh và đoạn phim tư liệu miêu tả về cứ điểm, nên học sinh cảm nhận được
các sự kiện Lịch sử sâu sắc.
Phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài như trên sẽ giúp các em
hiểu rằng, trước những địn tiến cơng quyết liệt của quân dân ta, Na-va đã
quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm hùng mạnh, chấp
nhận giao chiến với ta. Điều này xuất phát từ nhận định: Điện Biên Phủ là
một thung lũng rộng lớn, bao quanh tồn là đồi núi trùng điệp, nhưng lại là
“chìa khóa” để bảo vệ Thượng Lào và chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc
Việt Nam. Đối với Việt Minh, nơi đây quá xa hậu phương, địa hình rừng núi
hiểm trở nên tiếp tế sẽ khó khăn; lúc này ta chỉ có thể sử dụng lực lượng
khoảng một đại đồn, lại không thể sử dụng pháo cỡ lớn được, cùng lắm là
pháo 75mm. Ngoài ra, nếu chẳng may thất bại, Pháp sẽ dễ dàng mở một con
đường tháo chạy sang Lào… Từ nhận định này, được sự giúp đỡ của Mĩ,
Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm hùng mạnh với
49 cứ điểm, chia làm 3 phân khu lớn là phân khu Bắc, phân khu Trung tâm và
phân khu Nam. Với số quân tinh nhuệ là 16.200 tên, lại được trang bị những
loại vũ khí hiện đại nhất, nên cả Pháp và Mĩ đều nhận định: Điện Biên Phủ là
“pháo đài bất khả xâm phạm”.
Giáo viên sẽ treo lược đồ và yêu cầu học sinh trình bày diễn biến chiến dịch
Điện Biên Phủ qua tìm hiểu từ sách giáo khoa. Sau đó, giáo viên sử dụng lược
12
đồ có hiệu ứng từng đợt diễn biến và đặt câu hỏi để ghi bài về diễn biến chiến
dịch Điện Biên Phủ ở đợt 1,2,3
đ. Sử dụng công nghệ thông tin để đưa đoạn phim tư liệu, đoạn Vioclip
minh họa, rút ra nội dung
Phương pháp này cũng có thể được áp dụng trong rất nhiều bài, tuy nhiên
tôi chỉ nêu ra một ví dụ: Khi dạy bài 25: Những năm đầu của cuộc kháng chiến
toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược (1946 -1950)- Lịch sử 9- Mục III.1.
Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược bùng nổ.
Sau khi học sinh nắm sự kiện ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung
ương Đảng họp, quyết định phát động Tồn quốc kháng chiến. Tối 19/12/1946,
Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, ra “Lời kêu gọi
tồn quốc kháng chiến”, thay gì cho học sinh đọc đoạn tư liệu trích về “Lời kêu
gọi tồn quốc kháng chiến” của sách giáo khoa,, giáo viên sẽ cho học sinh nghe
đoạn Vioclip về “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” và đặt câu hỏi nội dung
“Lời kêu gọi tồn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nói lên
13
những vấn đề gì ? Từ đó phân tích và khắc sâu quyết tâm của ta trong việc bảo vệ
độc lập, chính quyền vừa giành được và niềm tin tất thắng.
e. Sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ xây dựng trò chơi hoặc sơ đồ
tư duy để củng cố bài học
Trị chơi Giải ơ chữ: Tơi thường sử dụng vào khâu củng cố bài học hoặc có
thể sử dụng để kiểm tra kiến thức sau khi học một chương, một giai đoạn Lịch sử.
Để thực hiện trò chơi giải ơ chữ, tơi dành thời gian khoảng 5 phút.
Ví dụ: Bài 28: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc- đấu tranh chống
đế quốc Mĩ và chính quyền Sài gịn ở miền Nam (1954-1965)- Lịch sử 9.
Ơ chữ gồm có 9 ơ chữ hàng ngang và một ơ chữ hàng dọc.
Từ chìa khóa: có 9 chữ cái: Nguyện vọng tha thiết của nhân dân cả
nước sau Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Hàng ngang số 1: có 8 chữ cái: Hình thức đấu tranh của nhân dân miền Nam
ở những năm đầu sau Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Hàng ngang số 2: có 6 chữ cái: Trong Cải cách ruộng đất, ta đánh đổ giai
cấp nào?
Hàng ngang số 3: có 15 chữ cái: Khẩu hiệu được triệt để thực hiện trong Cải
cách ruộng đất.
Hàng ngang số 4: có 9 chữ cái: Hiệp định Giơ-ne-vơ kí kết về việc lập lại
hịa bình ở đâu?
Hàng ngang số 5: có 9 chữ cái: Tên cây cầu đã chứng kiến sự chia cắt nước
ta từ 1954-1975.
14
Hàng ngang số 6: có 11 chữ cái: Mĩ đưa ai lên làm Tổng thống Việt Nam
Cộng hòa vào năm 1955?
Hàng ngang số 7: có 9 chữ cái: Tình hình miền Bắc nước ta sau Hiệp định
Giơ-ne-vơ.
Hàng ngang số 8: có 7 chữ cái: Trong Cải cách ruộng đất, ta chia ruộng cho
giai cấp nào?
Hàng ngang số 9: có 8 chữ cái: Vĩ tuyến 17 đi qua tỉnh nào của nước ta ?
Đáp án các ơ chữ
C
N
G
H
U
I
O
E
I
N
N
G
N
Q
H
Đ
C
L
G
I
O
U
I
I
A
U
O
A
N
A
N
A
Y
Đ
O
Đ
I
G
N
H
C
C
O
N
I
P
D
G
T
H
O
N
G
N
H
A
T
R
U
R
G
I
U
D
O
U
N
O
G
N
H
O
N
R
D
N
I
G
E
M
G
I
Từ chìa khóa: THỐNG NHẤT
Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố bài học Ví dụ: Bài 12: Những thành
tựu chủ yếu và ý nghĩa của cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuật- Lịch sử 9.
Cách sử dụng: Sau khi tạo xong sơ đồ ta sử dụng để củng cố như sau: Giáo viên
đặt câu hỏi: Nêu những thành tựu chủ yếu của cuộc cách mạng khoa học- kĩ
thuật? Cuộc CMKHKT có ý nghĩa và tác động như thế nào đối với cuộc sống của
con người?
15
Khi học sinh trả lời và bổ sung xong, sau đó giáo viên hiệu ứng cho xuất
hiện lần lượt các nội dung trong sơ đồ từ trái qua phải.
Công việc này ban đầu tuy chiếm của giáo viên một khoảng thời gian nhất
định để chuẩn bị, thiết kế, nhưng khi chúng ta đã xây dựng rồi, nó sẽ trở thành
sản phẩm sử dụng lâu dài qua nhiều năm. Điều quan trọng hơn, sử dụng hình
thức này thường đạt hiệu quả cao hơn so với các hình thức khác. Bởi vì:
- Cùng một thời gian, giáo viên có thể kiểm tra được nhiều nội dung câu
hỏi.
- Kiểm tra được nhiều học sinh cùng một lúc.
- Giúp giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác.
- Gây hứng thú cho học sinh khi học tập lịch sử, khắc phục quan niệm của
các em cho rằng học Lịch sử là thiếu sinh động, khơ khan, khó nhớ.
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng bộ môn.
Chất lượng bộ môn của cá nhân : Mơn Lịch sử
Năm học
16
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu -Kém
2012-2013
2013-2014
2014-2015
48.6%
30.0%
41.7%
30.4%
40.6%
45.0%
16.1%
26.6%
11.5%
4.9%
2.8%
1.8%
2.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
- Đề tài có thể áp dụng cho tất cả các giáo viên dạy Lịch sử nói riêng và
giáo viên giảng dạy mơn xã hội nói chung.
- Có thể kết hợp với các tổ chức đoàn thể để tuyên truyền, giáo dục học sinh
thơng qua những thơng tin, những hình ảnh về các vấn đề địa phương, các vấn đề
xã hội.
2.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp
- Giờ học sôi nổi hơn, học sinh hăng say học tập tìm hiểu Lịch sử, tiết dạyhọc có hiệu quả hơn, các em dễ dàng nắm bắt kiến thức, hiểu sâu kiến thức.
- Xoá bỏ cảm giác khô khan giáo điều trong các giờ học Lịch sử để môn
học này trở nên gần gũi với các em hơn.
- Đa số các em học sinh đều tỏ ra hứng thú với phương pháp này, tạo ra sự
tập trung chú ý cao độ, giúp các em khắc sâu biểu tượng về sự kiện hiện tượng
Lịch sử, từ đó các em có thể thuộc bài ngay tại lớp.
2.5. Những tài liệu kèm theo gồm: khơng.
PHỊNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỎ CÀY NAM
TRƯỜNG THCS TẠ THỊ KIỀU
17
HỌ VÀ TÊN: NGÔ THỊ KIỂU
NHIỆM VỤ: DẠY LỊCH SỬ
Mã số: ………………………..
Tên sáng kiến: “Nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử bằng kết hợp
phương pháp truyền thống với công nghệ thông tin ”.
18