CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:……………………………………………………………
Tên sáng kiến: Một vài kinh nghiệm dạy học để học sinh học tốt mơn
Hình học lớp 8
1. Lĩnh vực áp dụng: Mơn Tốn – Hình học lớp 8
2. Mơ tả bản chất của sáng kiến
2.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Qua khảo sát chất lượng đầu năm, tôi thấy ở mỗi lớp có khoảng
1
số học
2
sinh điểm mơn Tốn dưới 5 chủ yếu là khơng làm được phần hình học. Là giáo viên
trực tiếp giảng dạy và tìm hiểu thực tiễn tại trường trung học cơ sở, tơi nhận thấy
cịn nhiều học sinh chưa nắm vững kiến thức cơ bản của môn Tốn nói chung, phân
mơn Hình học nói riêng điều đó thể hiện qua bài khảo sát đầu năm. Qua đó cho
thấy phản ứng từ phía học sinh là: Mơn Hình học khó tiếp thu, lượng kiến thức
trong giờ học nhiều mà lại khơ khan, khơng hấp dẫn.... Điều đó nảy sinh trong tôi
những trăn trở: Làm thế nào để nâng cao chất lượng bộ môn? Làm thế nào để học
sinh hứng thú, say mê trong khi học mơn Hình học nói riêng và mơn Tốn nói
chung? Có biện pháp nào để tạo niềm say mê cho các em?.....Với mong muốn tìm
ra những đáp án đó đã thúc đẩy tơi chọn và nghiên cứu đề tài: “Một vài kinh
nghiệm dạy học để học sinh học tốt mơn Hình học lớp 8”.
* Ưu điểm
- Ban giám hiệu nhà trường quan tâm nhiều đến bộ mơn Tốn.
- Cơ sở vật chất nhà trường đầy đủ, đảm bảo được trong công tác giảng dạy.
- Đồng nghiệp nhiệt tình trong cơng tác, ln ủng hộ và sẵn sàng trao đổi
kinh nghiệm với nhau trong giảng dạy.
1
- Nâng cao được trình độ của giáo viên. Giáo viên phải dành nhiều thời gian
nghiên cứu, tham khảo các tài liệu hướng dẫn, sách giáo khoa để dạy phù hợp với
trình độ của học sinh. Từ đó giúp các em học sinh hiểu cặn kẽ từng bài, từng nội
dung kiến thức, thu hút sự hứng thú học tập của học sinh. Cụ thể là học sinh yếu –
kém
* Khuyết điểm
Một số học sinh chưa xác định động cơ học tập, nên thái độ học tập chưa tốt,
chưa tích cực, thiếu sự quan tâm của gia đình dẫn đến học sinh lười học, mê chơi
nên học phụ đạo không thường xuyên làm công tác giảng dạy phụ đạo của giáo
viên khơng liên tục và theo kịp chương trình giảng dạy tại lớp
2.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
2.2.1. Mục đích của giải pháp
Đề tài này tơi biết là đã có nhiều người nghiên cứu và có nhiều hướng giải
quyết, song bám sát thực tế nhà trường và tâm lí, hồn cảnh đối tượng học sinh của
mình, tơi mạnh dạn nghiên cứu theo quan điểm của bản thân tìm ra những giải pháp
có hiệu quả phù hợp với thực tế nhà trường và học sinh mình đang trực tiếp giảng
dạy, đồng thời tìm ra cách để làm thay đổi theo hướng tích cực hơn nữa ý thức, tư
tưởng, cách học của từng dạng học sinh, đặc biệt là dạng học sinh yếu trong năm
học 2015 - 2016
Trong năm học 2015 - 2016 với nhiệm vụ được Ban Giám Hiệu phân cơng là
giảng dạy Tốn khối 8. Chất lượng đầu năm qua khảo sát tương đối thấp, với sự cố
gắng của bản thân, sự hỗ trợ của đồng nghiệp và việc áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm, trong năm học này bản thân thấy chất lượng bộ môn đã có nhiều chuyển
biến rõ rệt, đặc biệt là mơn Hình học
2.2.3. Nội dung của giải pháp
Từ thực trạng học tập của học sinh trường trung học cơ sở trong phân mơn
Hình học, đặc biệt là kết quả khảo sát chất lượng đầu năm cịn thấp nên tơi đã tiến
2
hành áp dụng các phương pháp nhằm gây hứng thú cho các em trong giờ học Hình
học như sau:
Biện pháp 1: Tạo hứng thú cho học sinh khi tìm hiểu kiến thức mới.
- Học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi rất hiếu động, thích tị mị, ưa khám
phá và muốn được mọi người công nhận năng lực của mình, khơng thích bị áp đặt,
phê bình. Điều này cho thấy khi truyền thụ kiến thức giáo viên phải lựa chọn
phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng, kích thích được tính tò mò của các em để xuất
hiện nhu cầu khám phá, từ đó các em có tâm lí để chinh phục kiến thức.
- Như vậy phải làm thế nào để tạo hứng thú cho các em trong giờ học? Rõ
ràng để làm được điều này giáo viên phải đầu tư thật kỹ cho tiết dạy của mình.
Riêng tơi khi dạy giờ Hình học thường chọn cho mình phương pháp tạo tình huống
từ những vấn đề thực tiễn như: Đưa ra tình huống trong thực tế hoặc bài tập liên
quan. Từ đó học sinh tham gia tiết học tích cực, hào hứng hơn, các em khơng cịn
cảm giác bị gị ép, căng thẳng và chán nản, đồng thời các em sẽ nhận thức được
tính thực tiễn của bộ mơn. Chẳng hạn: Khi dạy bài:
+ Hình thang giáo viên cho học sinh về nhà làm bài tập: “Cho tứ giác ABCD
có AB=BC và AC là tia phân giác của góc A. Chứng minh BC // AD”. Từ bài tập đó
giáo viên sẽ cho học sinh nhận ra kiến thức mới là tứ giác có hai cạnh đối song
song gọi là hình thang thì học sinh sẽ nắm bắt liền kiến thức về hình thang, hoặc
khi dạy:
+ Hình thang cân, giáo viên cũng cho học sinh về nhà làm trước bài tập:
“Cho tam giác ABC cân tại A, trên các cạnh bên AB, AC lấy theo thứ tự các điểm
D và E sao cho AD=AE. Chứng minh DE // BC”. Từ bài tập đó học sinh sẽ nhận ra
kiến thức một hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau là hình thang cân,
hoặc khi dạy:
+ Đường trung bình của tam giác, tôi đưa ra vấn đề làm thế nào để gián tiếp
đo khoảng cách giữa hai điểm A, B ở hai bên bờ ao? Hoặc giáo viên cho bài tập:
“Cho tam giác ABC, gọi D là trung điểm AB. Từ D kẻ Dx song song BC cắt AC tại
3
E. Từ C kẻ Cy song song AB cắt Dx tại F. Chứng minh rằng E là trung điểm của
AC”. Từ đó học sinh sẽ phát hiện được kiến thức về đường trung bình của tam
giác
+ Đường trung bình của hình thang, tơi đưa ra bài tập cho về nhà làm: “Cho
hình thang ABCD (AB//CD). Qua trung điểm E của AD kẻ đường thẳng song song
với hai đáy, đường thẳng này cắt AC, BC lần lượt tại I, F. Chứng minh F là trung
điểm của BC”. Từ đó học sinh cũng sẽ phát hiện ra kiến thức về đường trung bình
của hình thang. Hoặc khi dạy:
+ Hình bình hành, giáo viên cũng cho học sinh về nhà làm trước bài tập:
“Cho tam giác ABC, gọi D, E, F lần lượt là trung điểm của AB, AC, BC. Chứng
minh:
a) DE // BF; EF // DB. Từ đây sẽ phát hiện được kiến thức tứ giác có cạnh
đối song song là hình bình hành
� DEF;BDE
� � BEF
� . Gọi O là giao điểm của DF và
b) DE = BF; EF = DB; B
BE. Chứng minh OD = OF; OE = OB. Từ đó học sinh sẽ phát hiện đầy đủ các tính
chất của hình bình hành
Tóm lại, mỗi tiết, mỗi bài đều có một đặc thù riêng và phương pháp dùng
hình ảnh trực quan rất thích hợp đối với hình học: Mơ hình, vật thật, tranh vẽ, ... là
yếu tố khơng thể thiếu khi vào tiết dạy. Ngồi ra giáo viên nên tìm những vật thật
trong thực tế để tạo sự mới lạ và thú vị cho học sinh, như dạy bài “Diện tích đa
giác” tơi u cầu học sinh về nhà xem diện tích nhà mình mấy m2......
Vận dụng cách làm đó lớp học rất vui vẻ, học sinh tham gia xây dựng bài rất
tích cực, đồng thời các em nhớ lâu và vận dụng làm bài tập nhanh hơn.
Trong mỗi tiết dạy tôi chủ động phân định đối tượng học sinh theo 3 cấp:
Khá - giỏi, trung bình, yếu - kém để giao nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng, từ
đó lơi cuốn tất cả các em cùng tham gia xây dựng bài học. Câu hỏi của giáo viên
cũng cần phải gợi mở, dễ hiểu để kích thích sự suy nghĩ của các em.
4
Biện pháp 2: Tạo hứng thú, sự hấp dẫn cho học sinh trong những tiết ơn
tập.
Mơn Hình học sau mỗi phần hoặc chương giáo viên phải hệ thống hóa kiến
thức trọng tâm, tạo hứng thú cho học sinh bằng cách: Hệ thống kiến thức bằng sơ
đồ họăc bảng rồi yêu cầu học sinh điền vào những ô trống. Việc làm này giúp học
sinh nhận thấy sự liên quan giữa các phần đã học. Từ đó các em khắc sâu kiến thức
và nhớ lâu.
Chẳng hạn: Phần “Tứ giác” giáo viên chuẩn bị sơ đồ về mối liên hệ của các
tứ giác trên bảng phụ kết hợp với các hiệu ứng trình chiếu trên giáo án điện tử thay
đổi theo từng hình cho các em trả lời định nghĩa, tính chất và dấu hiệu nhận biết.
Tuy nhiên sự hứng thú cho phân mơn Hình học khơng chỉ tạo ra trong tiết
học mà cịn phải kích thích cho học sinh trong thời gian học ở nhà. Chính vì vậy,
đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy có thể phối hợp với giáo viên trong cùng phân
môn ở các khối lớp tổ chức những chuyên đề tìm ra cách giải nhanh, ngắn gọn cho
những bài tốn hoặc sáng tạo ra những thiết bị, mơ hình ứng dụng của hình học, ... .
Tạo tình huống phát huy được khả năng tư duy sáng tạo, giúp các em tin tưởng và
u thích mơn học.
Biện pháp 3: Tạo hứng thú cho học sinh khi áp dụng kiến thức vào thực
tiễn.
Mơn Hình học là phân mơn gắn liền với thực tế cuộc sống, vì vậy trong quá
trình dạy học giáo viên cần phải cho học sinh liên hệ kiến thức đã học vào thực tế,
sử dụng các kiến thức hình học vào các cơng việc hàng ngày. Điều này làm cho học
sinh khỏi phải trừu tượng khi học lí thuyết và các em có thể nhớ kiến thức lâu hơn.
Ví dụ: Khi học chương tứ giác giáo viên hướng dẫn cho học sinh cắt thế nào
để được chính xác các hình “hình thang cân” thì phải gấp một lần tờ giấy cắt hai
đáy song song, rồi cắt hai cạnh bên bằng nhau; cắt hình thoi thì phải gấp hai lần tờ
giấy rồi cắt cạnh của nó vì hình thoi có hai đường chéo là trục đối xứng và bốn
cạnh bằng nhau. Học xong chương 2 “Diện tích đa giác” giáo viên tổ chức một
5
buổi thực hành chia lớp thành 4 tổ, mỗi tổ đo một khu vực của khn viên trường
sau đó tổng hợp lại để biết được diện tích của khn viên trường.
Biện pháp 4: Tạo hứng thú cho học sinh khi giải bài tập.
Học kết hợp với hành là một phương pháp học tập quan trọng mà giáo viên
nào cũng phải hình thành và rèn luyện cho học sinh. Song học sinh thường gặp rất
nhiều khó khăn khi giải bài tập hình học vì nó có tính chất chặt chẽ, lơgíc và trừu
tượng nên giáo viên cần cho học sinh phân tích kỹ bài tốn theo hướng đi lên hoặc
đi xuống và cho các em nhắc lại kiến thức cũ có liên quan đến bài tốn.
Ví dụ: Khi hướng dẫn cho học sinh giải bài tập 54 trang 96 sách giáo khoa
tốn 8 tơi phân tích theo sơ đồ:
B, C đối xứng nhau qua O
�
B, O, C thẳng hàng và OB = OC
�
Ô1 + Ô2 + Ô3 + Ô4 = 180o và OB = OC = OA
�
Ô2 + Ô3 = 900, OAB cân, OAC cân.
Cần phát huy sức mạnh của tập thể trong học tập. Bởi vì khi giải bài tập
giáo viên cho học sinh hoạt động theo nhóm từ 4 đến 8 em, tùy theo yêu cầu của
bài tốn, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc chỉ định, được giao cùng
nhiệm vụ hoặc những nhiệm vụ khác nhau. Nhóm tự bầu nhóm trưởng và thư kí
trong nhóm, mỗi thành viên phải làm việc tích cực, giúp đỡ nhau giải quyết vấn đề
trong khơng khí thi đua với các nhóm khác. Nhóm cử ra một bạn đại diện trình bày
trước lớp.
Ví dụ: Trong giờ luyện tập cuối chương “Tứ giác” giáo viên đưa ra bài tập
89, trang 111 sách giáo khoa toán 8. Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm theo 4 trình
độ khác nhau như yếu kém, trung bình, khá, giỏi. Phân cơng nhiệm vụ cho từng
nhóm: Yếu kém làm câu a), trung bình làm câu b), khá làm câu c), giỏi làm câu d).
6
Sau đó giáo viên gọi bất kỳ một đại diện nào của nhóm báo cáo kết quả.
Đối với phân mơn hình học việc chọn lọc và phân loại bài tập là rất quan
trọng, vì vậy giáo viên có thể chia bài tập ra thành nhiều dạng: Bài tập cơ bản áp
dụng ngay cơng thức, định nghĩa, định lí vừa học giúp học sinh có niềm tin và khắc
sâu kiến thức; dạng bài tập thực tế cho thấy tính thực tiễn của tốn học; dạng bài
tập suy luận tổng hợp địi hỏi học sinh phải tìm tịi, suy nghĩ, hứng thú khám phá ...
nhằm củng cố lại kiến thức của phần hay chương đó.
Khi làm được điều này nó thuận lợi rất nhiều khi giao và hướng dẫn bài tập
về nhà cho các em, từ đó các em có thể làm các bài tập tương tự thuận lợi hơn.
Biện pháp 5: Tạo hứng thú cho học sinh khi vẽ hình.
Khi vẽ cần xác định cho học sinh vừa đọc vừa vẽ, cần bổ sung các yếu tố
phụ và biết biểu diễn các ngơn ngữ sang kí hiệu hình học.
Để thực hiện những điều đó giáo viên phải lựa chọn cách vẽ để hướng dẫn
học sinh vẽ hình. Cụ thể:
- Rèn cho học sinh có thói quen kí hiệu trên hình vẽ các trường hợp: Điểm,
các đoạn thẳng bằng nhau, các góc bằng nhau, các trường hợp vng góc, bổ sung
các yếu tố phụ trên hình, ....
- Hướng dẫn học sinh cách sử dụng các dụng cụ:
+ Êke: Vẽ góc vng, hai đường thẳng song song ....
+ Compa: Vẽ đường tròn, cung tròn, hai đoạn thẳng bằng nhau ...
+ Thước thẳng: Vẽ đường thẳng, đoạn thẳng, tia, ...
Một yếu tố gây nhiều hứng thú nhất khi học hình học đó là sử dụng phấn
màu khi trình bày hình vẽ trên bảng giáo viên nên sử dụng phấn màu hợp lí ở các
điểm đặc biệt, đường đặc biệt, hình đặc biệt, giúp học sinh dễ phát hiện kiến thức từ
vẽ hình. Ở một số tiết giáo viên nên sử dụng phần mềm PowerPoint trình chiếu các
bước vẽ hình cho học sinh quan sát.
Tóm lại, các bài tập đều yêu cầu học sinh vẽ hình, nên khi vẽ các em phải
đọc kỹ bài, đọc đến đâu vẽ đến đó, vẽ rõ ràng và dùng đúng dụng cụ vẽ, từ đó học
7
sinh trả lời yêu cầu đề bài. Đặc biệt phải hình thành cho học sinh thói quen phân
tích kỹ đề bài, định hướng vẽ và dự đoán các trường hợp xảy ra, khơng nên vẽ hình
đặc biệt, điểm đặc biệt. Chẳng hạn:
- Cho tam giác ABC thì khơng nên vẽ tam giác cân (vuông hay đều).
- Cho M là điểm nằm giữa AB thì khơng nên lấy tại trung điểm của AB.
- Cho tứ giác ABCD thì khơng nên vẽ hình thang, hình bình hành, hình chữ
nhật, hình thoi, hình vng.
Biện pháp 6: Khơi dậy hứng thú học mơn Hình học với trò chơi sáng tạo
Mỗi người giáo viên đều có phương pháp riêng phụ thuộc vào điều kiện cơ
sở vật chất và đối tượng học sinh mà mỗi giáo viên sẽ có những trị chơi khơi dậy
hừng thú học tập khác nhau. Riêng tơi khi dạy giờ Hình học thường chọn cho mình
phương pháp khơi dậy hứng thú học mơn Hình học với trị chơi sáng tạo như sau:
Để lựa chọn trò chơi phù hợp giáo viên cần xác định được mục tiêu của trị
chơi đưa ra là gì, hình thành, luyện tập, củng cố kiến thức nào, giáo dục kĩ năng gì,
phẩm chất gì?... Điều này được xác định dựa trên mục tiêu bài học.
Trò chơi đưa ra phải đa dạng, phong phú, hấp dẫn; luật chơi đơn giản dễ hiểu,
dễ chơi, phải phù hợp với chủ đề bài học với đặc điểm và trình độ học sinh, với quỹ
thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, có tác dụng khích lệ tinh
thần học tập cho tất cả các đối tượng học sinh trong lớp, tránh bỏ rơi học sinh yếu
kém ngoài cuộc. Đặc biệt, trị chơi phải khơng gây nguy hiểm cho học sinh và mơi
trường xung quanh.
Khơng nên chọn những trị chơi chỉ được mặt vui nhộn, nhưng lại thiếu tác
dụng giáo dục về kiến thức, phẩm chất cũng như kĩ năng học tập. Trò chơi phải
được luân phiên thay đổi một cách hợp lí để khơng gây nhàm chán cho học sinh.
Để phương pháp trò chơi phát huy hiệu quả trong dạy học Tốn đặc biệt mơn
Hình học, người giáo viên cần lưu ý những nguyên tắc sau:
Có sự chuẩn bị tốt, mọi học sinh đều hiểu trò chơi và tham gia dễ dàng, học
sinh phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng, tuân thủ luật chơi.
8
Giáo viên cần quy định rõ thời gian chơi, không lạm dụng quá nhiều kiến
thức và thời lượng bài học. Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh, tạo điều kiện cho học sinh tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu, từ
chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi.
Tác phong giáo viên chững chạc, nghiêm túc nhưng lại vui vẻ, gần gũi, hịa
đồng với học sinh; lời nói phải rõ ràng, dễ hiểu, ấn tượng, luôn tạo sự hấp dẫn và
pha trộn ít hài hước trong mỗi trị chơi.
Sau mỗi trị chơi phải có thưởng phạt phân minh. Tuy nhiên, nên tránh xử
phạt đối với đội thua, người thua, mà tập trung tuyên dương, khen thưởng (nếu có)
đối với người thắng, đội thắng.
Sau khi chơi, giáo viên cần cho học sinh thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo
dục của trò chơi.
Về cách chơi, trước hết, giáo viên phải chia được các đội chơi phù hợp, cân
đối lực lượng, hợp với u cầu trị chơi.
Sau đó, giới thiệu trị chơi, luật chơi, quán triệt ý thức kỷ luật khi chơi. Đây
là khâu rất quan trọng, giáo viên nên giới thiệu trị chơi một cách ngắn gọn, súc
tích, dễ hiểu, thu hút và hấp dẫn người chơi (nếu luật chơi khó thì giáo viên có thể
chơi mẫu trước). Động viên học sinh chơi nhiệt tình, hết mình, chơi đẹp, đảm bảo
nề nếp, nội quy nhà trường.
Sau đây là một số trị chơi mà bản thân tơi đã áp dụng rất hiệu quả:
Trò chơi “Chạy tiếp sức”: Giáo viên chuẩn bị sẵn một số bài Tốn hoặc câu
hỏi có nội dung liên quan đến tiết dạy. Học sinh chuẩn bị bảng nhóm, phấn, bút dạ.
Cách chơi: Giáo viên đưa đề bài lên bảng phụ (hoặc màn hình chiếu); cho
các đội thảo luận làm bài theo dãy hoặc khu vực (tương đương với số nhóm đề bài
giáo viên đưa ra); học sinh trao đổi một số phút (tùy mức độ yêu cầu).
Giáo viên bốc thăm chọn ra 2 (hoặc 3) đội chơi. Khi có hiệu lệnh của giáo
viên, lần lượt từng thành viên của 2 (hoặc 3) đội dùng phấn (bút) lên viết đáp án
tương ứng vào phần bảng của đội mình.
9
Mỗi lần lên bảng chỉ được ghi một câu trả lời (hoặc một bước trong tồn bộ
cơng việc của đội). Học sinh này ghi xong, chạy về trao phấn cho bạn để bạn đó
được lên bảng. Người lên sau có thể sửa kết quả của người lên trước, nhưng khi sửa
thì khơng được làm thêm việc khác, hết lượt có thể vòng lại lượt 2, 3...).
Thời gian chơi được quy định trước (nên từ khoảng 1 - 3 phút), đội nào xong
trước là đội giành chiến thắng về mặt thời gian.
Khi hết giờ chơi, giáo viên ra hiệu lệnh dừng cuộc chơi. Giáo viên và cả lớp
cùng đánh giá, cho điểm, đội chiến thắng là đội hết ít thời gian mà có kết quả tốt
nhất.
Trị chơi “Ai nhanh mắt hơn”: Giáo viên chuẩn bị sẵn một số nội dung
kiến thức cần kiểm tra (bằng chữ hoặc hình vẽ) để đưa lên màn hình máy chiếu
(hoặc bảng phụ). Học sinh chuẩn bị bảng nhóm, bút dạ.
Cách chơi: Giáo viên chiếu nội dung kiến thức cần kiểm tra lên màn hình;
yêu cầu học sinh tìm và liệt kê những hình, những số, những vấn đề liên quan đến
bài học vào bảng nhóm. Trong vài phút, đội nào tìm được nhiều hình, hoặc nhiều
số… (ghi lên bảng nhóm) chính xác hơn thì đội đó sẽ thắng cuộc.
Trị chơi “Thử tài ghi nhớ”: Giáo viên chuẩn bị một số nội dung kiến thức
cần thiết liên quan đến bài học (đưa vào máy tính hoặc ghi sẵn lên bảng phụ). Học
sinh chuẩn bị bảng nhóm, bút dạ.
Cách chơi: Giáo viên đưa nội dung cần thử trí nhớ lên màn hình (hoặc treo
bảng phụ) cho các nhóm quan sát trong vịng vài giây đến vài chục giây, sau đó, cất
bảng phụ (chuyển slide).
Giáo viên yêu cầu học sinh ghi lại những nội dung mà mình đã nhìn thấy.
Học sinh các nhóm thi nhau ghi lên bảng nhóm của nhóm mình. Nhóm có nội dung
ghi lại đúng và được nhiều hơn là nhóm giành chiến thắng.
Trị chơi “Nhà sáng tạo trẻ”: Học sinh chuẩn bị bảng nhóm, bút dạ.
10
Cách chơi: Để củng cố kiến thức bài dạy, giáo viên cho học sinh giải một số
bài tập đơn giản liên quan. Sau đó yêu cầu các đội đặt một bài tốn có nội dung
tương tự bài tập đã giải, trong đó đã có sáng tạo cho khác đi.
Giáo viên cùng nhóm học sinh khác xem xét, kiểm định, đánh giá đề Toán
của các đội, rồi đưa ra kết luận đội nào đạt danh hiệu “Nhà sáng tạo trẻ”
Ngoài ra cịn có rất nhiều trị chơi khác như: Hái hoa dâng chủ, ngơi sao mai
mắn (bơng hoa mai mắn), đốn hình nền, ……..
2.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một vài kinh nghiệm dạy học để học sinh học tốt
mơn Hình học lớp 8” đang trình bày nói chung khơng nặng tính lí luận mà chủ yếu
đi vào thực tế giảng dạy. Do đó mọi giáo viên làm cơng tác giảng dạy hầu như đều
có thể áp dụng ngay trong công tác giảng dạy của bản thân tại bất kì đơn vị nào.
2.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp
Sau khi thực hiện các biện pháp trên, bản thân nhận thấy bộ mơn mình giảng
dạy có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, chất lượng học tập của học sinh
được nâng cao. Đồng thời, người giáo viên cũng cần đầu tư thật nhiều vào công tác
giảng dạy, phải thâm nhập vào tư tưởng ở mỗi học sinh, nắm bắt kịp thời ở từng đối
tượng học sinh đặc biệt là học sinh yếu để tìm ra cách dạy phù hợp, hiệu quả, nhằm
giảm tối đa tỉ lệ học sinh yếu kém trong từng năm học.
Học sinh đã có thái độ học tập tích cực, thích thú hơn trong tiết học, chủ
động nêu lên những thắc mắc, khó khăn về bộ môn với giáo viên, các em hưởng
ứng rất nhiệt tình. Bên cạnh đó bài tập giao về nhà đã được các em làm một cách
nghiêm túc, tự giác học bài và nắm được kiến thức cơ bản sau mỗi bài học.
Tóm lại, bản thân vận dụng các kinh nghiệm trên khi dạy học sinh thì rõ
ràng các bài kiểm tra đã được nâng lên, các em vẽ hình đúng, xác định đúng hướng
đi của bài tập, số học sinh chứng minh lơgíc và chặt chẽ được tăng lên, ham thích
11
học bộ mơn Tốn nhiều hơn. Cụ thể qua thời gian qua, mơn Hình học kiểm tra 1 tiết
đạt kết quả như sau:
Xếp loại
Kém
Yếu
Lớp
0 � <3,5
3,5 � 5
1
8 /37
2
3
2
8 /37
1
2
3
8 /35
1
1
2.5. Tài liệu kèm theo: Khơng
Trung bình
Khá
5 � <6,5 6,5 � <8
11
8
9
10
11
9
Giỏi
8 � �10
13
15
13
12