CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ..............................
Tên sáng kiến: LÀM THẾ NÀO ĐỂ GIÚP HỌC SINH PHÁT ÂM CHUẨN?
1. Lĩnh vực áp dụng: Dạy phát âm chuẩn tiếng Anh
2. Mơ tả bản chất của sáng kiến:
2.1. Tình trạng giải pháp đã biết:
Trong sự nghiệp cơng nghiệp hố - hiện đại hoá đất nước và hội nhập với cộng
đồng quốc tế, mỗi con người chúng ta phải có đủ tri thức và trình độ để đáp ứng
được những đòi hỏi cao của đất nước, một đất nước đã và đang trong thời kì đổi
mới theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có đổi mới giáo
dục.
Chúng ta đang ở thế kỉ, thế kỉ của khoa học tiên tiến và hiện đại. Vì vậy, địi
hỏi con người phải có tri thức và trình độ, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi ngày
càng cao của đất nước. Tiếng Anh có một ý nghĩa vơ cùng quan trọng. Việc phổ cập
tiếng Anh ở nước ta ngày nay đang dược Đảng và Nhà nước dành cho sự quan tâm
đặc biệt. Trong chiến lược dạy học ngoại ngữ, việc dạy học tiếng Anh ở tất cả các
cấp học nói chung, dạy học tiếng Anh ở trường THCS nói riêng đang đặt ra những
nhiệm vụ mới, đòi hỏi người giáo viên phải quán triệt sâu sắc mục đích, đối tượng,
nguyên tắc, chương trình dạy và học ngoại ngữ cũng như khơng ngừng phấn đấu
nâng cao trình độ chun mơn, trình độ nghiệp vụ sư phạm. Hơn thế nữa, để hoàn
thành tốt nhiệm vụ của mình, người giáo viên khơng thể khơng có lịng u nghề,
u trị, thường xun đầu tư suy nghĩ, đề xuất sáng kiến và những thủ pháp lên lớp
hiệu quả.
1
Xuất phát từ đặc trưng của bộ môn ngoại ngữ là cần dạy đầy đủ bốn kĩ năng:
nghe - nói - đọc - viết. Và trong thực tế phương pháp dạy môn tiếng Anh trong thời
gian gần đây các kĩ năng nghe - nói đã được chú trọng và được các giáo viên luyện
kĩ hơn để giúp các em học sinh tự tin hơn trong vấn đề giao tiếp.
Vì lí do đó nên hơm nay tơi mạnh dạn trình bày sáng kiến kinh nghiệm của
mình là “Làm thế nào để giúp học sinh phát âm chuẩn?” thông qua một số phương
pháp dạy ngữ âm trong một tiết học và một số thủ thuật dạy, kiểm tra ngữ âm thông
qua một số dạng bài tập.
Sáng kiến này có thể mang lại cho chúng ta một số ưu điểm như: Giúp học
sinh phát âm chuẩn hơn, đúng ngữ điệu của câu hơn trong quá trình học tập cũng
như giao tiếp; làm cho lớp học được sinh động hơn, các em học sinh hứng thú với
bộ mơn tiếng Anh này hơn.
Bên cạnh đó, khi thực hiện chúng ta phải đối mặt với một số hạn chế như:
Khơng có một tiết dạy và luyện phát âm riêng biệt; không phải tiết học nào cũng có
thể lồng ghép và áp dụng phương pháp này vì bị hạn chế về thời gian và nội dung
chính của tiết dạy.
2.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
2.2.1. Mục đích của giải pháp:
Dạy học là một nghệ thuật, nghề dạy đòi hỏi người giáo viên phải ln ln
học hỏi tìm tịi những phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng bài giảng.
Tùy theo bài, đối tượng học sinh mà chúng ta áp dụng cho phù hợp. Tầm quan
trọng của việc có thể giao tiếp được bằng tiếng Anh, thứ tiếng mà các em đang
được học ở nhà trường là rất lớn. Nhưng làm thế nào, dạy thế nào để các em học
sinh THCS của chúng ta có thể tự tin trong giao tiếp bằng tiếng Anh với vốn kiến
thức các em đã học ở trường là một vấn đề mà tất cả các giáo viên dạy ngoại ngữ
đều phải quan tâm.
Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi muốn đề cập đến việc dạy và luyện phát
âm các âm, các từ, cụm từ tiếng Anh sao cho thật hiệu quả để phù hợp với tiến trình
2
phát triển của ngôn ngữ hiện đại và cũng để đạt được mục đích cuối cùng là giúp
học sinh phát âm chuẩn hơn, đúng ngữ điệu của câu hơn trong quá trình học tiếng
Anh cũng như trong quá trình giao tiếp cũng như mong được góp phần cải tạo q
trình dạy và học tiếng Anh ở THCS ngày càng hiệu quả hơn.
2.2.2. Nội dung của giải pháp:
* Những tính mới và điểm khác biệt của giải pháp mới:
Bên cạnh việc giúp cho học có thể phát âm tốt các âm, các từ, các cụm từ tiếng
Anh thông qua các bài học trên lớp một cách hiệu quả, nó khơng những mang lại
sự tự tin trong việc giao tiếp với nhau bằng tiếng Anh đơn giản trên lớp hàng ngày
giữa các em học sinh với nhau mà còn làm cho lớp học bao giờ cũng sinh động
hơn, học sinh hứng thú học tập bộ môn tiếng Anh này hơn.
Việc dạy và học trong nhà trường hiện nay, đã có nhiều khởi sắc, điều kiện cơ
sở vật chất và thiết bị dạy học đã được trang bị đầy đủ hơn, đội ngũ giáo viên
chuẩn hoá cao. Đặc biệt phong trào đổi mới phương pháp dạy học được đẩy mạnh,
đa số giáo viên có sáng tạo biết lựa chọn phương pháp phù hợp, phát huy được tính
tích cực của học sinh. Nhưng thực tế, như chúng ta đã biết trong rất nhiều năm
trước đây, theo phương pháp dạy học cổ truyền ở trong lớp thầy giáo là trung tâm,
là người nặng nề về truyền đạt kiến thức, chưa rèn luyện được cho học sinh cách
học tập tích cực, cách sử dụng kiến thức, cách nắm bắt vấn đề chủ động. Phương
pháp giảng chủ yếu như vậy đã ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng nhận thức độc lập
của học sinh ở tất cả các mơn học nói chung và đặc biệt là mơn ngoại ngữ – một
mơn học có nét đặc thù riêng là học sinh được rèn luyện đọc lập càng nhiều càng
tốt. Trong giờ học, học sinh phải được tạo điều kiện sử dụng ngơn ngữ theo chính
khả năng của mình. Như vậy, phương pháp đổi mới trong dạy và học ngoại ngữ là
phương pháp giúp cho học sinh học tập tích cực. Để đạt được mục đích đó trong
một giờ học ngoại ngữ thì giáo viên cần phải biết làm gì để lơi cuốn học sinh, giúp
học sinh học tập tích cực và sáng tạo hơn để tiết học diễn ra thật “Nhẹ nhàng, sinh
động và hiệu quả”.
3
Đứng trước một vấn đề dạy và học đó tơi đã suy nghĩ để tìm ra một số phương
pháp dạy ngữ âm trong một tiết học và một số thủ thuật dạy, kiểm tra ngữ âm thông
qua một số dạng bài tập để đạt được mục đích là giúp học sinh phát âm chuẩn hơn,
đúng ngữ điệu của câu hơn trong quá trình học tiếng Anh cũng như trong quá trình
giao tiếp.
Dạy ngữ âm giúp học sinh tạo ra được khơng khí học ngoại ngữ, phát âm
chuẩn các từ và đúng ngữ điệu của các câu trong bài. Mục đích của việc dạy ngữ
âm trong một lớp ngôn ngữ không nhằm làm cho người học có khả năng phát âm
tương tự như người bản ngữ vì việc này khơng thực tế, trừ trường hợp người học có
năng khiếu thật đặc biệt và động cơ học rất cao. Mục tiêu dạy ngữ âm là giúp cho
người học đạt được một khả năng phát âm đúng ở một mức độ nào đó để có thể
truyền đạt được điều họ muốn nói với người khác.
* Bản chất của giải pháp:
Lôi cuốn học sinh, giúp học sinh học tập tích cực và sáng tạo hơn trong một
giờ học ngoại ngữ để tiết học diễn ra thật nhẹ nhàng, sinh động và hiệu quả.
* Cách thức và các bước thực hiện của giải pháp mới:
a. Nội dung:
Các Mác nói: “Con nhện thực hiện thao tác của người thợ dệt, con ong xây tổ
sáp làm cho kiến trúc sư phải hổ thẹn. Nhưng một nhà kiến trúc sư có tồi đi chăng
nữa thì ngay từ đầu cũng đã khác con ong cừ nhất ở chỗ trước khi dùng sáp xây tổ
anh đã tự xây trong đầu mình rơi.” Con người khác với con vật ở khả năng tư duy
và đầu óc suy nghĩ. Ngơn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài
người để hình thành xã hội. Trong quá trình học tiếng Anh, bốn kĩ năng: Nghe, nói,
đọc, viết ln ln được chú ý đến nhiều hơn nhưng phần luyện âm lại là phần
quan trọng nhất trong giao tiếp hay thực hành các kĩ năng. Theo tơi, có một số yếu
tố ảnh hưởng đến việc phát âm tiếng Anh.
i. Sự chuyển di của tiếng mẹ đẻ: Do tiếng mẹ đẻ của người học có ảnh hưởng
đến việc phát âm tiếng Anh nên người dạy cần có một sự hiểu biết nhất định về hệ
thống âm của tiếng mẹ đẻ của người học để có thể tiên đốn những khó khăn cũng
4
như thuận lợi trong việc người học phát âm tiếng Anh hầu có thể hướng dẫn và sửa
chữa cho người học đọc được các âm khó - phần lớn những âm này khơng có trong
hệ thống âm thanh của tiếng mẹ đẻ. Người Việt học tiếng Anh thường gặp khó khăn
trong việc đọc các âm đầu từ như: /ð/ và /θ/, và các âm cuối từ như: /z/, /s/ và /ʃ/ ...
các âm /f/, /t/ cũng là những âm khó đối với người Việt học tiếng Anh. Ngoài ra,
trọng âm, ngữ điệu làm thay đổi ngữ nghĩa của từ và câu cũng là những vấn đề mà
người Việt không quen trong hệ thống âm vị và ngữ điệu của tiếng Việt.
ii. Tuổi của người học: Người học càng nhỏ tuổi thì càng dễ học nói hơn
người lớn tuổi. Theo nghiên cứu, những trẻ em dưới 12 tuổi học nói tiếng Anh sẽ ít
bị ảnh hưởng của giọng nói tiếng Việt hơn là những người học lớn tuổi hơn.
iii. Việc tiếp xúc với tiếng Anh: Cần phải tính đến cả thời gian lẫn mức độ tiếp
xúc với tiếng Anh. Người học càng có nhiều thời gian tiếp xúc với tiếng Anh thì
càng phát âm tốt hơn. Người học cũng sẽ đạt được nhiều tiến bộ hơn nếu được tiếp
xúc với mẫu phát âm tốt hoặc được giải thích cặn kẽ về hệ thống âm và cachs phát
âm tiếng Anh.
iv. Khả năng phát âm bẩm sinh của người học: Nhiều người học có khả năng
bẩm sinh trong việc bắt chước và nói được một cách dễ dàng nhưng âm thanh xa lạ
với họ. Những người học như thế sẽ tiến bộ nhanh hơn những người khơng có khả
năng tương tự.
v. Thái độ và cảm nhận: Thái độ của ngừơi học đối với thứ tiếng đang học
cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc học phát âm. Thái độ học tập của người học
càng tốt thì việc phát âm càng tốt vì họ cố găng bắt chước cho giống cách nói của
người bản ngữ.
vi. Động cơ học tập của người học và sự quan tâm của họ đối với việc phát
âm tốt: Đây là một yếu tố rất quan trọng trong việc dạy phát âm. nếu người học có
động cơ phát âm tốt thì họ sẽ đầu tư nhiều thì giờ hơn và nỗ lực hơn trong việc học
phát âm. từ đó họ sẽ có nhiều tiến bộ hơn.
b. Kinh nghiệm trong phương pháp dạy ngữ âm:
5
Dạy phát âm là lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ khá thử thách nhưng cũng đem
lại nhiều khám phá thú vị cho người dạy! Để sử dụng hiệu quả quĩ thời gian mỗi
buổi dạy, bạn cần chú ý áp dụng những phương pháp giảng dạy tốt nhất cho học
sinh của mình, nhằm đạt được kết quả cuối cùng là phát âm chính xác.
Vậy làm thế nào để đạt được mục đích tưởng chừng như khá nhiều thử thách
đó? Chúng ta hãy tham khảo bản thiết kế một giờ dạy phát âm sau:
Bước 1: Mơ tả, đánh giá các đặc tính cơ bản của âm sẽ được học trong bài.
Bước khởi đầu này giúp học sinh nhận thức được các đặc điểm của âm được đưa ra
giảng dạy trong buổi học.
Cụ thể: Chúng ta có thể đưa ra một danh sách các từ vựng có ngay trong bài
học hiện tại, trong đó bao gồm cả những từ được đánh dấu trọng âm đúng và cả
những từ bị đánh dấu trọng âm sai.
Bước 2: Học sinh được nghe cách phát âm của một hay nhiều từ có chứa âm
đó (chúng ta có thể bật băng hoặc đọc mẫu cho học sinh) để nhận biết cách âm
được phát ra.
Cụ thể: Học sinh lắng nghe và nhận dạng một chuỗi các âm tiết không mang ý
nghĩa với những độ dài khác nhau (Ví dụ: da-Da, da-da-DA-da, …). Bước này giúp
học sinh nghe và nhận biết âm.
Bước 3: Chúng ta đưa ra những bài thực hành trong khuôn khổ buổi học và
cho học sinh tự đánh giá khả năng phát âm của mình.
Cụ thể: Học sinh quay lại với danh mục từ vựng đã được nêu ở bước 1. Với
qui mô cả lớp, học sinh được yêu cầu sửa cách nhấn trọng âm của từ bằng các hành
động như vỗ tay, chẳng hạn khi đến âm cần được nhấn mạnh thì vỗ tay to hơn các
âm cịn lại.
Lưu ý: Trong q trình tiến hành các hoạt động nói trên, các từ vựng mới có
thể liên tục được cập nhật.
6
Bước 4: Chúng ta tiếp tục hướng dẫn học sinh thực hành với các bài tập cho
phép luyện tập các cấu trúc giao tiếp thơng thường để qua đó, học sinh có thể chủ
động điều khiển cách phát âm của mình cho đúng trong thực tế.
Cụ thể: Học sinh có thể lần lượt đọc một đoạn hội thoại theo cặp; mỗi khi
người này đọc, người kia lắng nghe và đánh dấu trọng âm vào bản copy của bài hội
thoại. Sau đó, từng cặp sẽ lần lượt nhận xét về cách đọc, cách phát âm cũng như
cách nhấn trọng âm của nhau.
Bước 5: Cuối cùng, giờ học có thể là nơi để học sinh giao tiếp tự do với nhau
- kèm theo quan sát và phản hồi từ phía bạn và các học sinh khác (nếu có thể). Đó
sẽ là cơ hội để học sinh vừa tập trung vào nội dung của câu chữ trong giao tiếp mà
vẫn có thể thực hành phát âm một cách sống động.
Cụ thể: Học sinh có thể làm những bài thuyết trình nho nhỏ có chủ đề liên
quan đến bài học của buổi hơm đó, kèm theo trong các tiêu chí đánh giá là các dẫn
chứng cụ thể về việc nhấn âm đúng và chuẩn.
c. Kĩ thuật rèn luyện:
i. Lặp lại từ: Học sinh nghe và lặp lại từ theo mẫu (giáo viên / băng tiếng)
Ex: Luyện âm /i/ và /e/.
T: Listen and repeat: Hill
Ss: Hill
T: Tell
Ss: Tell
ii. Lặp lại câu: Học sinh lặp lại một câu có những từ chứa âm cần luyện.
Ex: /s/, /ʃ/, và /z/
T: Listen and repeat. She sells seashells by the seashore.
Ss: She sells seashells by the seashore.
Ex: /i/, and /i:/
7
T: Good. Now, once more. Don’t sit on that seat.
Ss: Don’t sit on that seat.
T: Well done. Once more. Don’t (sleep / slip) on the floor.
Ss: Don’t (sleep / slip) on the floor.
iii. Cặp tối thiểu (minimal pair):
Giáo viên cần giải thích cho học sinh cặp tối thiểu là hai từ chỉ chứa một âm.
âm khác nhau có thể nằm ở đầu từ như ‘hat - bat’, hay giữa từ như ‘sing - song’,
và cuối từ như ‘thin - thing’, .... cặp tối thiểu thường được dùng để đối chiếu sự
khác nhau giữa các nguyên âm và phụ âm.
Giáo viên đọc các cặp tối thiểu, sau đó viết lên bảng thành hai cột.
A
B
will
well
bill
bell
hill
tell
T: Listen. Will.......Well.......Bill.......Bell.......Hill.......Tell.......
Now, repeat. Will.......
Ss: Will.......
T: Well.......
Ss: Well.......
Sau khi vừa chỉ lên bảng vừa đọc hết các từ giáo viên nói.
T: Now listen and tell me the number.
Will....... Which number? One or Two
Ss: One
T: Very good. Now once more. Tell.......
Ss: Number two ....
8
iv. Điền từ: Giáo viên nói một vài cụm từ hay câu cịn thiếu một hoặc hai từ,
học sinh đốn và bổ sung từ cịn thiếu có âm đang rèn luyện.
Ex: Để luyện hai âm /ei/ and /æ/, giáo viên lần lượt nói một vài câu và
cho học sinh đốn và bổ sung từ cịn thiếu có âm /ei/ hoặc /æ/.
T: He likes to ..... games very much. Which word is missing?
Ss: play
T: Good. Now, listen. Black, white, red, yellow, blue, green, brown,
purple and ...... Which word is missing?
Ss: gray
T: Well done. Once more. Listen. After April comes
Ss: May
v. Làm câu: Giáo viên viết một số từ lên bảng, học sinh nói những câu có chứa
từ trên bảng. Các từ này có âm đang rèn luyện hay có âm dễ gây nhầm lẫn.
Ex: Để rèn luyện âm /e/ and /æ/, giáo viên viết lên bảng hai cột. Một
cột gồm các danh từ, một cột gồm các tính từ có những âm đang rèn luyện học sinh
nhìn các từ cho sẵn và làm ba câu có các từ này.
A
B
red
pen
yellow
cat
sad
black
hat
hen
Giáo viên có thể đưa ra mẫu: He’s got a black cat.
Sau đó học sinh có thể đưa ra một số câu.
She’s wearing a black hat.
He’s got a red pen.
It’s a sad hen.
...
9
d. Giáo án thực hiện:
Nội dung bài giảng: Bài 3, phần C, trang 38 - tiếng Anh 6,
– Các âm cần dạy: /f/, /ʌ/, /ə/
– Tiến trình bài giảng: (thời gian dạy khoảng 10 phút được lồng ghép vào
trong tiết dạy chính khóa.)
1. 1. Luyện âm:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Yêu cầu học sinh mở sách phần C (trang Học sinh mở sách
38)
Giáo viên đọc mẫu (rõ từng âm một)
Học sinh đọc theo
Giải thích kĩ cách phát âm
Học sinh nghe và nhớ
Giáo viên ghi các âm lên bảng
Học sinh nhìn lên bảng ghi nhớ
cách ghi và đọc các âm đang đọc.
/f/ → family, father
/ʌ/ → mother, brother
/ə/ → stereo, old
Giáo viên chỉ các âm trên bảng và đọc mẫu Học sinh đọc theo nhìn bảng để
lại
phân biệt âm.
Yêu cầu học sinh phân biệt sự khác nhau Học sinh phân biệt âm ngắn /ʌ/
giữa 2 âm /ʌ/ và /ə/
và /ə/
Giáo viên nhắc lại, củng cố cho học sinh
hiểu bài.
2. Luyện đọc từ: (có các âm đang dạy trên
bảng)
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Giáo viên đọc mẫu (dùng ngữ liệu sách Học sinh đọc theo (không nhìn
giáo khoa)
sách)
Giáo viên đọc to các từ yêu cầu học sinh Lắng nghe giáo viên đọc khơng
tìm âm đang học trong từ đó.
nhìn sách giáo khoa tìm ra âm đang
đọc.
Ví dụ: Giáo viên đọc: mother
Giáo viên đọc: stereo
Học sinh nói /ʌ/
Học sinh nói /ə/
Yêu cầu học sinh đọc theo giáo viên (Phần Học sinh nhìn sách giáo khoa và
10
này giúp học sinh kiểm tra lại phần trên khi đọc theo
chưa được nhìn sách)
Yêu cầu học sinh đọc cá nhân (Giáo viên Học sinh nhìn sách tự tập đọc
lưu ý sửa lỗi sai trong cách phát âm của
học sinh).
Yêu cầu học sinh lên bảng điền các từ có
Một học sinh lên bảng viết. Học
các âm đang học (ban đầu có thể là từ trong
sinh khác viết vào vở (để giáo viên
sách giáo khoa )
kiểm tra)
/ʌ/: brother, mother
/ə/: stereo, open...
3. Luyện ngữ điệu:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Giáo viên đọc mẫu
Học sinh đọc theo
Giáo viên nói mẫu từng câu một và yêu cầu
Học sinh nhắc lại đúng ngữ điệu.
học sinh nhắc lại
Ví dụ: This is my mother.
Ví dụ: This is my mother.
Yêu cầu học sinh viết lại câu vừa nói trên
Học sinh viết lại câu vừa nói xong
bảng
Làm như vậy lần lượt với các câu trong bài
Chép vào vở (khơng nhìn sách)
(trên bảng ghi)
This is my mother.
Who is this?
This is my brother.
Yêu cầu học sinh phiên âm cách đọc các
Một học sinh lên làm bài, các học
con chữ được gạch dưới (trên bảng)
sinh làm vào vở
Ví dụ: This is my brother. /ʌ/
Close your book. /ə/
Kết thúc phần ngữ âm, chuyển sang phần
khác của tiết dạy.
e. Một số dạng bài kiểm tra ngữ âm qua dạng bài tập viết tiếng Anh:
i. Yêu cầu học sinh tìm một từ có phần gạch dưới phát âm khác với các từ
trong nhóm.
Ex:
travel
man
traffic
dangerous
11
help
left
marker
intersection
lake
tall
plane
vegetable
eat
read
teacher
breakfast
big
city
time
morning
ii. Yêu cầu học sinh ghi ngữ điệu câu:
Good morning, doctor.
How are you today?
Is he a doctor or an actor?
The flower is nice.
How old is Miss Hoa?
2.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
Qua quá trình thực tế giảng dạy phần luyện âm ở trường THCS, tôi đã rút ra
được một số thuận lợi và khó khăn trong thực tế giảng dạy phần ngữ âm cho học
sinh cũng như tình hình học tiếng Anh ở THCS như sau.
a. Thuận lợi:
Dạy và học phần ngữ âm theo đúng yêu cầu là phương tiện, kỹ năng giúp cho
học sinh cũng như giáo viên dạy ngoại ngữ phát âm chuẩn và nói chuẩn hơn, tiếp
cận gần hơn nữa với ngôn ngữ hiện đại. Do đó, việc dạy và học theo đúng yêu cầu
của phần ngữ âm được sự đầu tư, ủng hộ của giáo viên cũng như các em học sinh.
Hơn nữa, đạt được yêu cầu của phần ngữ âm chính là yếu tố giúp cho các em học
sinh tự tin hơn trong khả năng giao tiếp, nói tiếng Anh chuẩn, do đó các em học
ngữ âm rất nghiêm túc, hào hứng, tạo điều kiện thuận lợi giúp cho giáo viên hoàn
thành bài giảng tốt.
b. Khó khăn:
Mặc dù mơn ngoại ngữ đã đưa vào các trường THCS đã hơn hai mươi năm
nhưng nhận thức rõ ràng và quan tâm đến môn học này ở một số em học sinh cũng
chưa được tốt.
12
Bản thân tơi có đi thăm lớp, dự giờ các đồng nghiệp bên trường bạn nên cũng
rút ra được nhiều kinh nghiệm. Trong thực tế đa số giáo viên chỉ chú trọng bài viết,
ngữ pháp, còn việc dạy ngữ âm còn sơ sài, do vậy việc đầu tư, soạn lại bài giảng,
thay đổi phương pháp cho phù hợp, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của phần ngữ âm trong
từng bài là rất khó khăn.
Đối với học sinh việc tiếp thu đầy đủ, đúng yêu cầu của bài ngữ âm trong một
lớp đông học sinh là một điều không hề dễ, do đó giáo viên khơng có đủ điều kiện
để luyện âm chính xác cho từng học sinh. Hơn nữa, bản thân ở một số em học sinh
học hành chểnh mảng, khơng coi trọng việc học nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến
chất lượng giờ học nên trong giờ giảng ngữ âm, học sinh cần phải học nghiêm túc
và bài học cần phải thật sự sinh động để thu hút các em.
Tuy vẫn cịn một số khó khăn trong việc luyện âm cho các em học sinh như đã
nêu trên nhưng tôi vẫn luôn khẳng định rằng sáng kiến “Làm thế nào để giúp học
sinh phát âm chuẩn?” này vẫn có thể áp dụng cho tất cả các giáo viên dạy mơn
tiếng Anh ở bậc THCS nói riêng và giáo viên giảng dạy mơn tiếng Anh nói chung
một cách hiệu quả.
2.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp:
Qua một thời gian áp dụng giải pháp này vào thực tế dạy học đến nay tôi nhận
thấy học sinh hiểu bài tốt, khái niệm rõ ràng về sự khác nhau và cách phát âm
chuẩn của từng âm trong phần luyện âm của sách giáo khoa.
So với những năm trước dạy theo phương pháp chưa kết hợp phần dạy ngữ âm
vào nội dung bài học thì kết quả đạt được chỉ từ 50% đến 65%.
Qua nhiều năm học, từ 2011 đến nay sau khi đưa phần giảng dạy ngữ âm lồng
ghép vào nội dung bài học thì kết quả đã đạt từ 75% đến hơn 85%.
Đặc biệt, do yêu cầu của giáo viên trong quá trình giảng dạy hầu như các em
thuộc từ ngay trên lớp, đa số các em sau giờ học có thể cho ngay các từ để minh
13
hoạ cho các âm vừa học hoặc phiên âm cách đọc của các âm trong những từ giáo
viên đưa ra.
Bên cạnh những kết nêu trên, ít nhất tơi cũng đã rút ra một số kinh nghiệm
trong quá trình thực hiện giải pháp như sau:
* Về phía giáo viên:
– Cần hiểu rõ chức năng và nhiệm vụ của phân môn để có hình thức tố chức
và phương pháp giảng dạy cho phù hợp.
– Giáo viên tự trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức ngơn ngữ phong
phú, chuẩn xác, diễn đạt rõ ràng.
– Xác định mục tiêu rõ ràng của tiết dạy để chuẩn bị bài cho chu đáo và đồ
dùng phục vụ cho bài giảng.
– Biết lựa chọn phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.
* Về phía học sinh:
– Phải tích cực học tập, chuẩn bị bài trước ở nhà.
– Tích cực tham gia luyện tập, thực hành trên lớp.
– Cần phát huy tính chủ động, sáng tạo trong hoạt động học.
– Tiếp cận và tích cực huy động vốn kiến thức của mình và quá trình xây dựng
kiến thức bài học.
Trên đây là một số kinh nghiệm giảng dạy để nâng cao chất lượng học ngữ âm
mà tôi đã nghiên cứu và áp dụng vào giảng dạy. Qua giảng dạy tơi thấy có thể áp
dụng kinh nghiệm này vào dạy ngữ âm cho các em để giúp các em phất âm chuẩn
và đúng ngữ điệu của câu.
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy là
một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết nhằm đáp ứng kịp thời những yêu
cầu đổi mới của xã hội, đó là mục tiêu của sự nghiệp giáo dục trong thời đại mới.
Để nâng cao chất lượng dạy và học nói chung và ở trường THCS nói riêng, tơi rất
mong sự quan tâm của các cấp lãnh đạo.
14
– Tăng cường nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thông qua việc bồi
dưỡng chuyên đề thường xuyên để từng bước tháo gỡ các khó khăn nâng cao chất
lượng giờ dạy và học.
– Đầu tư cơ sở vật chất các phương tiện dạy học, tài liệu tham khảo phục vụ
kịp thời cho giáo viên giảng dạy tốt hơn.
Để hoàn thành đề tài này, tơi khơng thể khơng nói đến sự giúp đỡ của Ban
giám hiệu nhà trường cũng như các bạn đồng nghiệp, chính nhờ vào sự đóng góp
q báu của các thầy cơ đã mang lại sự hồn thiện của đề tài này.
2.5. Tài liệu kèm theo:
Khơng có tài liệu nào kèm theo.
15