CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MƠ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:……………………………….
1.Tên sáng kiến:
KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH TỰ HỌC TỐT
MÔN NGỮ VĂN
2. Lĩnh vực áp dụng: Giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, giáo viên trực tiếp
dạy bồi dưỡng môn Ngữ văn các khới
3.Mơ tả bản chất của sáng kiến
3.1.Tình trạng của giải pháp đã biết:
Hiện nay ngành giáo dục đã và đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh. Trong phương pháp dạy học
mới này, học sinh là người chủ động giành lấy kiến thức dưới sự hướng dẫn của
giáo viên. Do đó trong tiết Ngữ văn hiện nay giáo viên cũng cần nâng cao phương
pháp giảng dạy, thực hiện tốt các bước lên lớp, đặc biệt là khâu hướng dẫn học sinh
tự học tốt ở nhà mà người viết đề tài này đã nghiên cứu và đúc kết ra kinh nghiệm
-Ưu điểm chính :
+ Học sinh có nhiều thời gian tìm tịi, nghiên cứu về mơn Ngữ văn.
+ Phát huy phương pháp dạy học tích cực, phát huy tính năng đợng, tự học và
sáng tạo của học sinh.
+ Tạo cho học sinh có hứng thú học tập, góp phần nâng cao chất lượng mơn học.
Học sinh có thể hiểu bài qua việc đọc, soạn, nghiên cứu.
+ Tạo thêm nhiều hình thức dạy học, thu hút được các em tìm tịi, chiếm lĩnh tri
thức.
- Khút điểm chính : khơng phải bất kì học sinh nào cũng thực hiện được đầy đủ
những yêu cầu của giáo viên hướng dẫn tự học ở nhà mà các em chỉ làm qua loa,
chiếu lệ . Song để tạo mợt thói quen tự mình khám phá, lĩnh hợi kiến thức đã học và
tự tìm ra kiến thức mợt cách chủ đợng, sáng tạo có hiệu quả trong việc học mơn Ngữ
văn, quả là một nghệ thuật sư phạm và phức tạp.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến :
a/. Mục đích của giải pháp : Do quan điểm chủ đạo chung của môn Ngữ văn là
xuất phát từ đặc trưng bợ mơn, từ đặc điểm của quá trình tiếp nhận văn bản đến cảm
thụ văn bản, bắt buộc học sinh phải tham gia đầu tư về việc đọc, soạn, nghiên cứu.
Từ đó giáo viên phải tận dụng mọi phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy
học, nhằm phát huy tính tích cực, đợc lập và sáng tạo cho học sinh. Do đó trong tiết
Ngữ văn hiện nay giáo viên cũng cần nâng cao phương pháp giảng dạy, thực hiện tốt
các bước lên lớp, đặc biệt là khâu hướng dẫn học sinh tự học ở nhà. Qua đó, giúp
cho học sinh có ý thức học tập tớt đới với mơn học Ngữ văn nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả dạy- học. Khắc phục những hình thức học qua loa, chiếu lệ hoặc giáo
viên cho ghi gì thì học tḥc đó.
b/. Tính mới của giải pháp: Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà là hoạt động thiết
thực, cần thực hiện ngay, góp phần nâng cao chất lượng, học sinh chuẩn bị bài tốt
làm cho tiết học thêm sinh động, thu hút nhiều học sinh tham gia, tạo hứng thú cho
học sinh học môn Ngữ văn.
c/. Bản chất của giải pháp :
Tạo hứng thú học tập bằng cách tổ chức giúp học sinh tự mình khám phá lĩnh
hợi kiến thức đã học và tự tìm ra kiến thức mợt cách chủ động, sáng tạo là vấn đề
hết sức quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Giúp các em
hứng thú với mơn học vì các em có thể tự học để chiếm lĩnh tri thức mợt cách nhẹ
nhàng, đờng thời phát huy tính tích cực của các em đối với môn học này. Học sinh
u thích mơn học, nhiệt tình tham gia và tiếp thu được kiến thức mà người giáo
viên muốn truyền đạt đó là kết quả của mợt tiết dạy, tiết học thành cơng.
A. Cơ sở lí luận:
Quá trình dạy học, ngồi việc giúp học sinh nắm vững chuẩn kiến thức,
kĩ năng được quy định trong chương trình, giáo viên cịn rèn cho học sinh kĩ
năng và phương pháp tự học Ngữ văn. Rèn luyện kĩ năng tự học là một phương
pháp giúp học sinh tự mình khám phá, lĩnh hợi kiến thức đã học và tự tìm ra kiến
thức một cách chủ động,sáng tạo. Kĩ năng này dần dần trở thành mợt thói quen
trong học tập, tự mình xây dựng nền móng kiến thức vững chắc cho bản thân,
tạo một đà kiến thức kiên cố để học tập tốt ở những lớp sau hoặc áp dụng trong
thực tiễn, cuộc sống.
B. Thực trạng của vấn đề
1. Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của tận tình của BGH nhà trường , Tổ trưởng chuyên
môn trong hoạt động giảng dạy.
- GV tích cực tìm tịi, trao dời kinh nghiệm với đờng nghiệp để có phương
pháp đúng đắn thúc đẩy chất lượng học tập của học sinh ngày càng cao
- GVBM tâm hút với nghề, tận tình với học sinh, ḿn học sinh có kết quả
học tập tớt. Đặc biệt giáo viên có cái tâm trong việc giáo dục ́n nắn thói quen tự
học của học sinh
- GVCN theo dõi bám sát tình hình lớp chủ nhiệm kịp thời, tuyên dương học
sinh tích cực, có tiến bợ trong nợi quy học tập nhất là khâu làm bài, soạn bài ở nhà.
Đồng thời báo cho phụ huynh biết rõ tình hình học tập của học sinh thơng qua sổ
liên lạc hàng tháng
2. Khó khăn
- Mợt sớ học sinh cịn lười học, với lý do bài học các mơn nhiều nên ít đầu tư
vào việc soạn bài, làm bài tập, đọc sách tham khảo,…
- Một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình, ít xem tập
ghi , chép bài học ở lớp, ở nhà của học sinh
- Một số em ít đọc tác phẩm, nghiên cứu, suy nghĩ đợc lập, chỉ nghe giảng,
đón nhận kiến thức thầy cơ thút giảng, áp đặt. các em ít hoạt đợng, chỉ nghe, ghi
lại một cách thụ động trong giờ học, thiếu đi tính sáng tạo đợc lập. Vì vậy kiến thức
cịn nghèo nàn dẩn đến khơng thích học Ngữ văn
- Mợt sớ giáo viên còn giao việc kiểm tra bài cho ban cán bộ lớp mà chưa
kiểm tra đánh giá cụ thể
C . Các biên pháp tiến hành giải quyết vấn đề:
1. Nhiệm vụ chung:
- Mỗi giáo viên cần giáo dục động cơ, thái độ học tập của học sinh là học để biết, để
làm, để hịa nhập, để khẳng định bản thân mình
- Giáo viên cần giáo dục cho học sinh hình thành đợng cơ học tập đúng đắn
+ Có ý thức đúng về học tập, học vững lý thuyết, học đi đôi với hành
+ Có ý thức tự giác trong học tập ngay trên lớp cũng như ở nhà
+ Biết tự nghiên cứu tài liệu dưới sự hướng dẫn của GVBM
- Thông qua công tác tư tưởng, giáo viên hướng dẫn cụ thể cho học sinh hiểu ý
nghĩa và tầm quan trọng trong khả năng tự học của mình. Bởi vì tự học sẽ giúp cho
học sinh hình thành thói quen đợc lập suy nghĩ, hướng dẫn nghiên cứu và chiếm
lĩnh tri thức. Mặt khác tự học sẽ tạo cho học sinh nhiều kỹ năng, kinh nghiệm và có
hứng thú trong học tập. Qua đó giáo viên cũng đánh giá đạo đức học sinh bằng
thước đo của sự siêng năng, chăm chỉ.
- Giáo viên thường xuyên hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra đơn đớc để học sinh quen
tính tự học và tìm ra phương pháp tự học đúng đắn
+ Biết tìm đọc, nghiên cứu tài liệu,vì thế khi hướng dẫn cơng việc học tập ở nhà cho
học sinh, giáo viên cần định hướng cho học sinh bằng cách giới thiệu cụ thể tài liệu
phục vụ nội dung học tập.
+ Biết tự giác học bài, soạn bài, đọc bài, làm bài. Để thực hiện tốt khâu này, giáo
viên cũng cần định hướng cho học sinh phải học lí thút trước rời vận dụng vào
thực hành. Tiến hành trả lời câu hỏi SGK từ dễ đến khó rời nâng cao
+ Biết rèn tính kiên nhẫn, nhất là đới với bài tập khó, khơng nên nản lịng mà phải
biết xem lại kiến thức cũ có liên quan
2. Các biện pháp cụ thể:
a/ Định hướng cho việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài:
* Về phía giáo viên:
-Yêu cầu học tìm những tài liệu về tác giả , tác phẩm, những phân tích, phê
bình có liên quan đến văn bản sắp học.
- Đưa ra hệ thống câu hỏi tìm hiểu và bài tập bổ sung ( luyện tập) nhằm
hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu văn bản một cách tốt nhất. Hệ thống câu hỏi này
cần bám vào mục tiêu bài học và đặc trưng thể loại và nhất là gợi cho các em sự suy
nghĩ, tìm hỏi, rèn kỹ năng phân tích, cảm thụ cho học sinh.
Ví dụ cụ thể:
+ Đới với văn bản truyện: cần cho học sinh phải đọc văn bản nhiều lần ( chú
ý đọc diễn cảm), tóm tắt văn bản, tìm tình h́ng truyện (nếu có). Thấy nét đặc
trưng từ việc xây dựng tình h́ng, tìm hiểu nhân vật, nợi dung, nghệ thuật, đề tài,
ý nghĩa, giá trị của tác phẩm
Như khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu văn bản “ Làng” của Kim Lân
( Ngữ văn 9- tuần 13- tiết 61,62)
. Đọc văn bản nhiều lần( đọc diễn cảm văn bản tự sự)
. Nắm tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm
. Tóm tắt văn bản
. Tìm tình h́ng truyện
. Diễn biến tâm trạng của Ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc
-> Học sinh chuẩn bị tớt nợi dung trên thì khi học tiết văn bản giáo viên chỉ đóng
vai trị chủ đạo, hướng dẫn những kiến thức theo chuẩn, còn học sinh tự khai phá,
chiếm lĩnh tri thức và từ đấy sẽ khắc sâu tri thức hơn
+ Đối với văn bản thơ: yêu cầu học sinh tập đọc diễn cảm, tự rút ra cách đọc,
giọng đọc, tìm mạch vận đợng của cảm xúc, phân tích được các chi tiết tiêu biểu,
đặc sắc của bài thơ: vẻ đẹp ngơn từ, hình ảnh, giọng điệu, các biện pháp nghệ thuật
và nội dung.
Như khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu văn bản “Đồn thùn đánh cá”
của Huy Cận ( Ngữ văn 9-tuần11 –tiết 51,52)
. Đọc bài thơ nhiều lần( chú ý đọc diễn cảm theo đúng thể thơ)
. Tìm hiểu về tác giả và hồn cảnh ra đời bài thơ
. Tìm mạch vận đợng cảm xúc của bài thơ( chú ý thời gian và không gian
được miêu tả)
. Tìm hình ảnh và các biện pháp nghệ thuật thể hiện trong bài thơ
. Nội dung được thể hiện trong bài thơ
. So sánh : cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và lúc trở về trong bài thơ
“Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận với cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và lúc
trở về trong bài thơ “Quê hương” của tế Hanh ở Ngữ văn 8 tập 2
+ Đối với một số văn bản nhật dụng: Yêu cầu học sinh tìm thể loại, phương
thức biểu đạt, đề tài, tính cập nhật của văn bản, phân tích được giá trị của văn bản
trong đời sống, hướng dẫn cho các em tự liên hệ, tự đặt ra nhiệm vụ của mình trước
văn bản thể hiện
Như khi hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu văn bản “Đấu tranh cho mợt thế giới
hịa bình” ( Ngữ văn 9-tuần2 –tiết 6,7)
. Đọc văn bản nhiều lần
. Tìm thể loại và phương thức biểu đạt
. Tìm tranh ảnh minh họa cho tợi ác của chiến tranh
. Nắm bắt được nội dung của văn bản-> Từ đấy hưởng ứng nhiệt tình với lời
kêu gọi của tác giả
+ Đối với tiết Tiếng việt: cần đọc kĩ phần ví dụ và trả lời câu hỏi SGK. Học tḥc lí
thút để vận dụng thực hành.
Như khi hướng dẫn học bài “Các thành phần biệt lập”( Ngữ văn 9-tiết 98tuần 21)
. Đọc kĩ phân tích ví dụ để rút ra nội dung bài học
. Đọc và thực hiện yêu cầu của bài tập
. Vận dụng lí thuyết thực hiện bài tập nâng cao
+ Đối với tiết Tập làm văn:chuẩn bị theo hướng dẫn của giáo viên, làm
các bài tập về nhà, chú ý rèn kĩ năng viết đoạn, viết bài, tham khảo những bài viết
của bạn, những hài văn hay, so sánh đối chiếu để rút ra cách viết cho bản thân mình.
Giáo viên phải biết biến tiết học Ngữ văn trở nên thú vị bằng cách cho các em
thi đua theo nhóm, cùng nhau xây dựng bài học. Các em tập kể chuyện các văn bản
đã học trên lớp, giáo viên giúp học sinh tìm ra ưu khuyết điểm của người kể. Từ đó,
giúp học sinh tự điều chỉnh giọng kể của mình hay hơn và tiết học văn cũng thú vị
hơn.
Đối với những học sinh trung bình, ́u, thụ đợng, giáo viên cần kiểm tra
thường xun nhằm đợng viên khún khích kịp thời.
* Về phía học sinh
- Học sinh chuẩn bị tìm hiểu bài ở nhà theo yêu cầu, gợi ý của giáo viên.
Thường các em sẽ chuẩn bị dưới hình thức cá nhân, đợc lập. Nhưng với một số tác
phẩm văn học lớn, có đợ khó hoặc nhũng tác phẩm của chương trình địa phương, ơn
tập mợt cụm văn bản, các em có thể chuẩn bị bằng hình thức hoạt đợng nhóm. Cơng
việc chuẩn bị bài của học sinh gờm:
+ Tìm tư liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm
+ Tiếp xúc với văn bản và những tư liệu có liên quan.
+ Soạn bài theo yêu cầu, định hướng của giáo viên.
+ Chuẩn bị một số đồ dùng học tập nếu giáo viên yêu cầu như vẽ
tranh, tìm tranh ảnh minh họa.
- Học sinh phải có kĩ năng đọc truyện để qua đó các em tìm hiểu từ ngữ Tiếng
việt, đờng thời rèn khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng trong mơn văn, giúp các em
có thêm kinh nghiệm trong lới viết văn của mình.
- Học sinh phải biết khảo sát thực tế, biết quan sát những sự việc xảy ra xung
quanh chúng ta để có những ý tưởng cần thiết trong bài văn của mình. Điều này rất
cần thiết cho việc viết văn thuyết minh, văn nghị luận, văn chứng minh.
- Trong giờ học phải biết tập trung lắng nghe thầy cô giảng bài. Đây là cách
hữu hiệu giúp học sinh học tốt môn Ngữ văn. Chăm chú nghe giảng sẽ học được
nhiều điều hay vì học sinh càng chăm chú nghe thì giáo viên sẽ truyền đạt hết kiến
thức hay mà mình vớn có
- Rèn luyện tính chăm chỉ, chịu khó tư duy, viết văn thường xuyên, viết nhiều
cũng sẽ học tốt, viết hay
- Cần chú ý vào thời gian biểu, cần có thời gian nghỉ ngơi, thư gản để giúp
các em tỉnh táo, tiếp thu bài nhanh hơn và nhớ lâu hơn, đồng thời cũng có nhiều
sáng tạo phong phú hơn.
b. Hướng dẫn tự học( luyện tập):
Giáo viên dựa vào chuẩn kiến thức kĩ năng yêu cầu học sinh tự học với nhiều
hình thức:
+ Làm việc cá nhân: đối với bài tập đơn giản.
+ Làm việc hoạt đợng nhóm: đới với bài tập cần có sự hợp tác, bàn bạc.
Giáo viên dựa vào kiến thức bài học, đối tượng học sinh mà đưa thêm những bài
tập bổ trợ, nâng cao
c. Hướng dẫn làm sổ tay học Ngữ văn
- Sổ tay học Ngữ văn gồm nhiều nội dung:
+ Tác phẩm văn học chia theo từng thời kì
+ Tác giả, tác phẩm
+Văn học dân gian
+ Văn học địa phương
+ Tiếng việt: Từ Tiếng việt, từ Hán Việt, các biện pháp tu từ,…
+ Tập làm văn: Một số dàn bài của từng kiểu bài làm văn cụ thể: tự sự,
miêu tả, thuyết minh, nghị luận,…
- Khi đọc sách hay phân tích văn bản các em phải dùng bút màu gạch dưới
những câu văn hay, từ ngữ hay. Khi đọc có gì khó hiểu thì ghi vào sổ tay, sau đó
trao đổi với bạn bè hoặc hỏi thầy cô.
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:
- Phạm vi: môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở
- Đối tượng nghiên cứu: giáo viên trực tiếp dạy lớp, giáo viên dạy bồi dưỡng học
sinh giỏi.
- Đề tài là chuyên đề sinh hoạt tổ chun mơn giúp giáo viên nhận thức rõ vai trị
quan trọng của việc hướng dẫn học sinh tự học ở nhà .
3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dung giải
pháp:
- Từ các biện pháp hướng dẫn trên đã giúp cho học sinh có khả năng thâm
nhập vào mợt tác phẩm cụ thể, ở mỗi tác phẩm các em biết nhận ra nợi dung: ca
ngợi cái đẹp, có những tình cảm u ghét, biết phê phán lên án những cái xấu xa,
tiêu cực,… Đây chính là bước thành cơng trong việc hình thành những cảm xúc,
tình cảm tự nhiên của các em khi phân tích mợt tác phẩm
- Khi áp dụng đề tài này vào thực tiễn dạy, bước đầu học sinh có sự chuyển
biến theo chiều hướng tớt trong giờ học Ngữ văn. Các em soạn bài kĩ hơn, đầy đủ
hơn, thể hiện rõ qua từng giờ học: nhiều học sinh tích cực phát biểu, nhiều câu hỏi
nêu vấn đề ở dạng nâng cao học sinh đều trả lời được, đúng, đủ nội dung.
- Kết quả đạt được:
+ Chất lượng bộ mơn:
Năm học
Giỏi
Khá
Trung bình
́u,kém
2012-2013
2013- 2014
HKI 2014-2015
So với chỉ tiêu
24,3%
27%
37,5%
25%
38,7%
36,5%
40,6%
35%
34,3%
36,5%
18,8%
35%
2,7%
0%
3,1%
5%
+ Học sinh giỏi các cấp
Năm học
2012-2013
2013-2014
2014-2015
2015-2016
Cấp Huyện
Giỏi văn
Văn hay chữ tốt
1HS
1HS
4HS
3HS
Cấp Tỉnh
Giỏi văn Văn hay chữ tốt
1HS
1HS
4HS
1HS
3HS
- Ý nghĩa của sáng kiến:
- Đối với việc giảng dạy: Thực hiện đầy đủ các bước lên lớp
- Đối với giáo dục: Hướng dẫn học sinh tự học môn Ngữ văn ở trường THCS là
phương pháp cần thiết. Vì đó là phương pháp đặc trưng của mơn học góp phần tăng
hiệu quả vào việc hình thành tư duy, cảm thụ văn học cho học sinh. Có tác dụng
mạnh mẽ đến việc hình thành khái niệm hình thành tư tưởng, tình cảm cho các em.
Vì thế, giáo viên phải hướng dẫn học sinh thật kĩ khâu chuẩn bị ở nhà
- Khả năng ứng dụng và triển khai:
Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà là phương pháp thiết thực, đáp ứng được yêu
cầu đổi mới phương pháp dạy học ngày nay và được đa số giáo viên áp dụng. Bởi
có hướng dẫn học sinh chuẩn bị chu đáo mới lôi cuốn học sinh vào nội dung bài
học và tiếp thu nhanh, mang lại kết quả khả quan. Vì thế bài viết này được người
viết đúc kết qua cả mợt quá trình giảng dạy và tơi tin rằng sáng kiến kinh nghiệm có
khả năng ứng dụng triển khai rợng rãi
3.5. Tài liệu tham khảo: Sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng
Ngữ văn 9
Bến Tre, ngày 11 tháng 4 năm 2015
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỎ CÀY NAM
TRƯỜNG THCS TẠ THỊ KIỀU
HỌ VÀ TÊN : PHÙNG THỊ CẦM
NHIỆM VỤ: GIẢNG DẠY BỢ MƠN NGỮ VĂN
Mã sớ:…………………………
Tên sáng kiến: “Kinh nghiệm giúp học sinh tự học tốt môn Ngữ văn”