Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Hiệu quả của trò chơi trong dạy học THCS tạ thị kiều nguyễn thanh hiền

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (261.71 KB, 10 trang )

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

MÔ TẢ GIẢI PHÁP
( Tên sáng kiến: Hiệu quả của trò chơi trong dạy học)
Mã số:……………….
1. Tình trạng giải pháp đã biết:
- Là giáo viên đứng trên bục giảng thì bất kỳ ai cũng đều có một mong muốn
chung là bài dạy của mình thật là sinh động, đạt hiệu quả tối ưu, học sinh thích thú
với bài dạy và các em lĩnh ngộ được kiến thức một cách trọn vẹn trong từng tiết dạy.
Chính vì lẽ đó, tơi đã vận dụng trị chơi vào từng tiết học để thu hút được sự chú ý
của tất cả học sinh và thơng qua trị chơi tơi đã lồng những kiến thức mà các em đang
học vào đó để các em hoàn thành bài học một cách nhẹ nhàng, vui nhộn hơn là bắt
các em làm những việc theo lối mịn (nhìn vào u cầu đã biết làm gì giáo viên
khơng cần giải thích gì thêm);
- Việc vận dụng trị chơi vào giảng dạy có nhiều ưu điểm nhưng vẫn còn tồn tại
một vài hạn chế.
* Ưu điểm:
- Ở đầu các tiết học trò chơi giúp học sinh tạo hưng phấn để bắt đầu cho một tiết
học mới. Thơng qua trị chơi học sinh cũng được ơn lại những kiến thức cũ và nó
giúp ích cho việc hiểu bài mới một cách tốt hơn;
- Ở phần trung tâm của các bài học, trò chơi làm giảm nhẹ sự căng thẳng đối với
học sinh thay vì các em phải cố gắng tìm ra câu trả lời một cách áp đặt;
- Học sinh tích cực chuẩn bị bài cũng như thảo luận để tìm ra đáp án đúng vì các
em luôn tranh nhau là người thắng cuộc;
- Ở phần cuối bài học sinh cũng ôn lại được kiến thức đã học thơng qua các trị
chơi.
* Hạn chế:
- Một số học sinh yếu khơng tham gia trị chơi;
-1-



- Giáo viên không bao quát hết lớp đối với những trị chơi chia nhóm lớn (chia lớp
ra làm hai);
- Học sinh có thể quá quan tâm đến điểm số và kết quả thắng thua nên các em ít
quan tâm đến nội dung bài học mà đây là mục đích chính mà giáo viên muốn đạt
được.
2. Nội dung giải pháp đề nghị cơng nhận là sáng kiến:
a. Mục đích của giải pháp:
- Trong q trình giảng dạy có những lúc ta gặp khó khăn ví dụ khi dạy một
bài mà ta cảm thấy nội dung khơ khan, khó tiếp thu khơng có tranh ảnh minh họa thì
cách mà ta giúp học sinh hứng thú và phấn khởi hơn trong học tập là ta hãy tìm ra
một trị chơi thích hợp và thiết kế cho phù hợp với bài dạy và thơng qua trị chơi các
em tiếp thu được nội dung của bài, thì bài dạy sẽ bớt nhàm chán tạo được khơng khí
sinh động kích thích học sinh học tập giúp các em hứng khởi tiếp thu bài mới hơn là
chúng ta cố nhồi nhét bắt các em học tập một cách thụ động;
- Qua nhiều năm đứng trên bục giảng tôi đã rút ra được những kinh nghiệm
qúy báu là phải áp dụng “Trò chơi” trong mỗi tiết dạy của mình để đạt hiệu quả tốt
hơn trong giảng dạy. Qua đây tôi cũng muốn chia sẽ kinh nghiệm của mình để giáo
viên chúng ta có được phương pháp dạy tốt hơn để tạo ra được những sản phẩm tốt
cho tương lai.
b. Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp:
Qua q trình nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm “Trị chơi trong hoạt động
dạy học” tôi thấy các em rất là thích thú vì trị chơi vừa mang tính vui chơi giải trí
song đồng thời nó lại có ý nghĩa giáo dục lớn lao đối với con người. Trò chơi tạo tất
cả những điều kiện để trẻ em thể hiện nhu cầu về hoạt động, tạo ra ở học sinh những
xúc cảm thật là các em đã cố gắng phát biểu, góp phần xây dựng bài và khi trả lời
một câu hỏi đúng các em đã cảm thấy mình thật sự tiến bộ và rất là vui cho dù chỉ là
trả lời đúng có một câu, điều này sẽ động viên học sinh tiếp tục tham gia và có thể
việc học của các em ngày càng tiến triển. Ngoài ra nó cịn giúp cho học sinh tiếp thu
bài một cách nhẹ nhàng và dễ nhớ hơn.


-2-


c. Mô tả chi tiết bản chất của giải pháp:
- Có rất nhiều loại trị chơi và nó được áp dụng ở tất cả các giai đoạn của một
baì dạy
+ Kim’s game;
+ Wordsquare;
+ Back ward words;
+ Brainstorming;
+ Chain game;
+ Gessing game;
+ Hangman;
+ Lucky numbers/ keep or pass;
+ Pelmanism;
+ Find someone who...;
+ Shark attack;
…………….
- “Trò chơi” được áp dụng linh hoạt cho các giai đoạn trong một bài dạy từ
phần Warm up cho đến các phần Pre- While- Post của một bài dạy kỹ năng cũng như
Presentation- Practice- Production của một bài dạy cấu trúc ngữ pháp. Ở đây tôi chỉ
đề cập đến một số ví dụ điển hình (sử dụng trò chơi trong từng giai đoạn của bài).
1.Trò chơi “Wordsquare” trong “Warm up”
Ví dụ: Khi dạy Unit 2 Clothing phần “Speak” lớp 9, ở phần “ Warm up”
nhằm giúp học sinh ôn lại từ mà học sinh đã học, giáo viên có thể chia học sinh thành
hai đội hoặc cho học sinh chơi chung cả lớp tùy theo số từ trong chủ đề nhiều hay ít
(nếu từ ít giáo viên có thể chia lớp ra làm hai nhóm để cho học sinh hoạt động nhiều
hơn, nếu từ nhiều giáo viên có thể khơng chia đội để học sinh hoạt động chung thì
lớp cũng sơi động vì nhiều từ nhiều học sinh lên bảng viết). Giáo viên nêu chủ đề của

các từ có trong bảng để học sinh dễ định hình và việc tìm từ sẽ dễ dàng hơn cho các
em. Học sinh ở hai đội lần lượt lên viết từ theo hàng ngang, dọc, chéo hoặc tìm từ
ngược. Đội nào tìm được nhiều từ đúng và hịan thành trước thì đội đó sẽ thắng (nếu
chơi chung thì sẽ khơng cơng bố đội thắng). Sau khi tìm được từ giáo viên yêu cầu
học sinh nhắc lại nghĩa của các từ đó, điều này làm cho học sinh hiểu rõ nội dung của
bài hơn. Đây là bước đầu giúp học sinh gợi nhớ lại từ vựng mà chúng đã học trước
-3-


đây và định hướng được chủ đề mà chúng sắp học đến. Sau phần này giáo viên cũng
T S W E A T E R có phần giới thiệu vào bài mới.
F R A M W V C E
B L O U S E U S
S J S U M Z Y H
K E U H S T F O
I A I N I E A R
R N T K Y R R T
T S N S E N T S
 trousers, shirt
 skirt, shorts, suit, jeans
 blouse, sweater
2.Trò chơi “Kim’s game” trong “Warm up”
Ví dụ: Unit 11 What do you eat? phần B. At the canteen lớp 6. Giáo viên chia
lớp ra làm hai đội và giới thiệu với học sinh là các em sẽ được nhìn các bức tranh
trong vịng 20 giây, sau đó những bức tranh sẽ mất đi và các em sẽ lên bảng viết lại
những thứ có trong tranh theo đội của mình. Giáo viên chia bảng ra làm hai đội A và
B. Giáo viên có thể qui định thời gian cho học sinh viết (hoặc cứ để học sinh viết khi
nào xong thì thơi tùy theo nội dung bài dạy của mình). Cho học sinh nhìn vào các
bức tranh trong vịng 20 giây. Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng viết lại
những thứ có trong tranh. Giáo viên điều khiển hoạt động này, sau đó nhận xét, cơng

bố đội thắng ( nếu chơi theo đội), giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại các từ này. Sau
phần này giáo viên cũng có phần giới thiệu vào bài mới;

Trị chơi này cũng giúp cho học sinh ôn lại được từ vựng giúp học sinh đi vào
bài mới tốt hơn.
-4-


3. Trò chơi “Back ward word ” trong phần “warm up” của bài
- Đây là một trò chơi khá mới đối với học sinh nhưng cũng dễ thực hiện và học
sinh cũng rất thích thú với trị chơi này, giáo viên sử dụng trị chơi này để cho
học sinh đốn chữ mà chữ đó có thể là tựa bài hoặc từ khóa chính trong bài …;
Ví dụ: Trong bài 9 của chương trình lớp 6, ta áp dụng trị chơi này để học
sinh đoán được chữ “ The body” (tựa bài). Giáo viên có thể gọi bốn hoặc năm
em cho mỗi đội, giáo viên cho học sinh cuối cùng của mỗi đội biết được từ cần
viết, em này sẽ về đội của mình và lấy ngón tay viết từng chữ cái lên lưng bạn
mình ( bạn thứ 5 sẽ viết lên lưng bạn thứ 4, bạn thứ 4 viết lên lưng bạn thứ 3,
và cứ tiếp tục đến khi bạn thứ nhất cảm nhận được chữ cái trên lưng mình là gì
thì chạy lên bảng viết chữ đó cứ như vậy cho đến khi cả chữ được viết lên trên
bảng đội nào viết được đúng chữ và hoàn thành trước sẽ là đội chiến thắng.
4. Trò chơi “Lucky numbers” trong phần “While” của bài Read
- Trong các bài đọc có phần trả lời câu hỏi ta có thể áp dụng trị chơi “Lucky
numbers” (năm hoặc sáu câu hỏi thì có ba số may mắn ) vào để gây hứng thú cho học
sinh vì các em cố gắng tìm ra câu trả lời để thắng được đội bạn và qua đó học sinh đã
học được cách trả lời câu hỏi cũng như tìm được đáp án cho câu trả lời trong bài một
cách tích cực hơn. Với trị chơi này học sinh cảm thấy hoạt động hỏi và trả lời câu
hỏi khơng cịn đơn điệu nhàm chán khi cứ lặp lại hoạt động hỏi và trả lời hết câu này
đến câu khác một cách rập khn;
Ví dụ: Trong các bài “Read” ở lớp 9 đều có phần bài đọc và trả lời câu hỏi.
Giáo viên đưa bảng câu hỏi lên trước cho học sinh đọc qua, giáo viên runs through từ

mới (nếu có), giáo viên có thể hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi (nếu là câu khó),
cho học sinh thảo luận trong vịng vài phút, sau đó giáo viên giới thiệu trò chơi. Giáo
viên chia lớp ra làm hai đội để thực hiện trò chơi này. Giáo viên điều khiển trị chơi,
sau đó cơng bố đội thắng.

9

1

2

- Để việc trả lời câu hỏi được hiệu quả hơn thì giáo viên phải thiết kế các slide

8

3 một
có câu hỏi, đoạn văn có liên quan đến câu trả lời và câu trả lời nằm trên cùng
-5-

7

4
6

5


slide để các em dễ theo dõi và biết câu trả lời nằm trong đoạn nào của bài (giáo viên
có thể gạch chân luôn phần trả lời trong đoạn văn để học sinh dễ thấy). Sau khi trả lời
xong hết tất cả các câu hỏi giáo viên có thể tái hiện lại tất cả các câu trả lời lên một

slide cho học sinh xem lại một lần nữa (nhiều câu trả lời dài có thể học sinh ghi chú
khơng kịp, thì đây sẽ là lúc học sinh hồn chỉnh lại câu trả lời của chúng).

Lucky numbers

1

2

3

4

5

6

7

8

5. Trò chơi “Recall the story” trong phần “Post” của bài Listen
Ví dụ: Trong bài Unit 6 The environment, phần Listen “How the ocean is
polluted”. Giáo viên có thể áp dụng trị chơi “Recall the story”, giáo viên chia lớp ra
thành nhiều nhóm nhỏ (mỗi nhóm 5 học sinh), cho từ gợi ý ở mỗi câu (5 câu, mỗi
học sinh nói 1 câu) yêu cầu học sinh thực hành nói trong nhóm. Giáo viên có thể gọi
một nhóm học sinh giỏi làm mẫu trước cho tất cả các em cịn lại xem. Sau đó giáo
viên cho học sinh thực hành ở dưới lớp (có thể qui định thời gian cho học sinh thực
hành), giáo viên đi quan sát và giúp đỡ những học sinh hoặc nhóm nào gặp khó khăn,
sau đó giáo viên gọi từng nhóm lên thực hành nói lại bài nghe trước lớp;

* Recall the story:
Firstly: Raw sewage/ directly/ sea
Secondly: Garbage/ drop
Thirdly: Oil spills/ ship
Next: Waste materials/ factories
Finally: Oil/ land
Giáo viên có thể linh hoạt cho điểm từng nhóm học sinh nếu các em thực hành
nói tốt để khuyến khích học sinh cố gắng học tập.

-6-


6. Trị chơi “Chain game” trong phần “Production”
Ví dụ: Để ôn lại cấu trúc ngữ pháp đã dạy trước đó, ở phần cuối của Unit 10
“Staying healthy” Lesson 4, 5 lớp 6 giáo viên cho học sinh chơi trò “Chain game” để
cho học sinh có cơ hội luyện tập lại cấu trúc “I’d like...”. Giáo viên đưa một số tranh
gợi ý lên màn hình để học sinh nhìn và nói cho dễ hơn, giáo viên đưa ví dụ lên bảng
cho học sinh xem cũng như nhắc lại cho các em nhớ trị chơi này, giáo viên gọi một
nhóm học sinh lên làm mẫu trước lớp cho những học sinh còn lại xem. Sau đó giáo
viên xóa ví dụ trên bảng chỉ để lại những cấu trúc “I’d like some ...” cho học sinh
thực hành dưới. Giáo viên đi quan sát và giúp học sinh khi cần. Gọi nhiều nhóm học
sinh lên thực hành nói trước lớp, những em ở bên dưới ngồi nghe và nhận xét cho đội
bạn;
- Giáo viên có thể cho điểm nhóm học sinh nào thực hành nói tốt nhất để
khuyến khích học sinh phải tích cực hơn nữa trong học tập và những bông hoa điểm
9, 10 sẽ là kết quả đền đáp cho sự nỗ lực của các em;
* Chain game:
S1: I’d like some fish.
S2: I’d like some fish and some rice.
S3: I’d like some fish, some rice and some vegetables.

S4: ................................................................................
7. Trò chơi “Find someone who...” trong các hoạt động ôn của bài Grammar Practice
Ví dụ: Để ơn lại thì hiện tại đơn ở Unit 6 Grammar Practice lớp 6 ta có thể
thiết kế trị chơi “Find someone who...” và thơng qua trị chơi này học sinh đã được
nhắc lại thì hiện tại đơn mà không cần theo khuôn mẫu của một bài ôn (hoàn thành
các câu của bài tập).
* Find someone who:
Find someone who...
... gets up at 5.

Names

... goes to bed at 10.
... eats a big breakfast every morning.
... (have) has lunch at 12.30.
... plays volleyball after school.
-7-


Với trò chơi này giáo viên phải thiết kế sẵn những hoạt động và phát cho mỗi
học sinh một miếng giấy để thực hành. Giáo viên có thể đặt ra một yêu cầu cho học
sinh trước khi cho các em đi tìm tên các bạn thực hiện hoạt động này. Ở trong tờ giấy
giáo viên phát cho học sinh là hình thức nguyên mẫu của tất cả các động từ, các em
hãy chia động từ này khi chúng đi với ngơi thứ ba số ít. Sau đó học sinh có thể di
chuyển khắp nơi trong lớp để hỏi bạn mình cho tới khi nào hỏi xong tất cả các câu và
với những tên khác nhau. Giáo viên yêu cầu học sinh nộp cho mình 2 miếng giấy
ngay sau khi học sinh hoàn thành xong (trước nhất), giáo viên yêu cầu hai em này ghi
kết quả mình vừa hỏi lên bảng (các em chỉ cần ghi tên và động từ được chia lên bảng
vì phần cịn lại giáo viên đã ghi trước rồi). Giáo viên yêu cầu những học sinh ở bên
dưới nhận xét phần chia động từ của hai em này, kế đến giáo viên sẽ hỏi để kiểm tra

thông tin học sinh vừa ghi lên bảng để tránh tình trạng học sinh ghi tên mà khơng
thực hành hỏi.
8. Trị chơi “Finding friends” trong phần “Presentation”:
Ví dụ: Trong Unit 6 Places B3 lớp 6 sau khi dạy từ vựng (giới từ in, on, near,
next to ) ta có thể thiết kế trò chơi này để cho học sinh thực hành hỏi và trả lời dùng
giới từ mà chúng đã học. Giáo viên sẽ chuẩn bị trước những “hand out” để phát cho
học sinh để các làm cho nhanh mà cũng tranh thủ được thời gian vì đây là phần
Presentation khơng được mất quá nhiều thời gian ở phần này. Giáo viên hướng dẫn
học sinh đánh dấu tick () nhanh vào bảng biểu rồi thực hành hỏi và trả lời “in pair”.
Giáo viên đưa ví dụ lên bảng để học sinh xem và thực hành. Học sinh thực hành dưới
lớp sau đó thực hành trước lớp, giáo viên nghe và phản hồi cho học sinh.
- Dù hoạt động này chỉ ra nhanh nhưng nó cũng khắc thêm một lần vào trong
trí các em, giúp các em ít nhiều gì cũng có ấn tượng về điểm ngữ pháp này;
* Finding friends:
S1: Where do you live?
S2: I live in a village, near a lake …

-8-


in



a village
a city
a street
a hospital
a lake


on

near

next to









3. Khả năng áp dụng của giải pháp
Việc ứng dụng trò chơi vào hoạt động dạy học là việc mà bất cứ một người
giáo viên nào cũng có thể làm được vì tùy theo thực tế của trường mà giáo viên ứng
dụng cho phù hợp. Đối với những trường có cơ sở vật chất chưa đầy đủ thì ta có thể
chuẩn bị làm đồ dùng dạy học cho các trò chơi một cách thủ công mà vẫn thực hiện
tốt và rất tiện lợi cho những trường được trang bị đầy đủ như phịng trình chiếu thì sẽ
sinh động hơn với những hình ảnh minh họa được ghép vào làm cho học sinh hứng
thú hơn. Nói chung trị chơi được ứng dụng rộng khắp khơng hạn chế.
4. Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp
Qua quá trình giảng dạy ở các khối lớp khi áp dụng đưa “Trò chơi” vào các tiết
học tơi thấy hiệu quả nổi lên rõ rệt. “Trị chơi” có sức lơi cuốn, hấp dẫn học sinh học
tập nhiều hơn, gây nên sự hứng thú học tập ở mỗi học sinh, học sinh tập trung vào
bài học hơn giúp cho việc truyền đạt kiến thức của giáo viên có hiệu quả nhiều so với
trước. Việc tiếp thu bài của học sinh có tiến bộ rõ rệt, tiết học có phần sôi nổi hơn,
lực lượng học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài mới khá nhiều, góp phần làm cho
giờ học sinh động. Chất lượng học tập của học sinh dần được nâng cao. Tuy nhiên

giáo viên cần phải suy nghĩ kỹ và chọn trò chơi cho phù hợp với nội dung bài dạy và
phù hợp với đặc điểm trường lớp nơi mình đang cơng tác cho đạt được kết quả tốt
nhất;
Trong năm học 2008- 2009 tôi chưa áp dụng các biện pháp trên đều khắp và
những năm sau đó tơi đã áp dụng đều khắp thì thu được kết quả cuối năm học như
sau:

Lớp Chưa áp dụng các biện pháp
Giỏi
Khá
Tb

Yếu

9/3

S

S

%

SL %

SL %

%
-9-

Kém


Sau khi áp dụng các biện pháp.
Giỏi
Khá
Tb

S

S

%

%

SL %

SL %

Yếu&
Kém
S %


( 35 L
HS)
3

8,6 10

28,6 15


L

L

L

42, 5
8

14,3 2

5,7 7

L
20,0 12

34,3 15

42,8 1

5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần đầu Không
6. Tài liệu kèm theo Không
Tôi cam đoan những điều khai trong đơn là đúng sự thật.
Bến tre, ngày 11 tháng 04 năm 2016

- 10 -

2,9




×