Tải bản đầy đủ (.pdf) (65 trang)

KHẢO sát tâm lý NGƯỜI BỆNH TRƯỚC và SAU PHẪU THUẬT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 65 trang )

BỘ Y TẾ
BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
..........*..........

VÕ THỊ NGA

KHẢO SÁT TÂM LÝ NGƯỜI BỆNH
TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT
CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG

ĐỀ CƯƠNG CAO HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN
Dr. HUNG-KAI YEN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2021


MỤC LỤC
Catalog

MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮC.............................................................................3
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU.......................................................... 8
1.1 Tổng quan về lo âu: ...................................................................................... 8
1.2 Giải phẫu về đường mật. ........................................................................... 20
1.2.1 Cơ chế hình thành sỏi................................................................................23
1.2.2 Vị trí sỏi...................................................................................................... 24
1.2.3 Lịch sử sỏi đường mật Việt Nam ............................................................. 24
1.2.4 Biến chứng sỏi đường mật. ....................................................................... 25
1.2.5 Điều trị sỏi đường mật...............................................................................26


1.3 Mơ hình lí thuyết trong nghiên cứu.........................................................28
1.3.1 Tiểu sử của Katharine Kolcaba. ............................................................... 28
1.3.2 Ứng dụng khung lý thuyết vào nguyên cứu............................................ 30
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN
CỨU......................................................................................................................31
2.1

Phương pháp nghiên cứu:...................................................................... 31

2.2 Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 31
2.3 Vấn đề về mẫu nghiên cứu. ....................................................................... 31
2.4 Phương pháp thu thập số liệu...................................................................32
2.4.1 Công cụ thu thập số liệu............................................................................32
2.4.2

Kỹ thuật thu thập số liệu........................................................................32

2.4.3 Kiểm soát sai lệch......................................................................................33
2.4.4 Phương pháp phân tích thống kê..............................................................33
2.5

Đạo đức nghiên cứu.................................................................................34

2.6 Các biến số nghiên cứu.............................................................................. 34

1


CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ DỰ KIẾN...............................................................35
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=96)................................... 35

3.1.1 Đặc điểm nhân chủng học.........................................................................35
3.1.2 Đặc điểm các thông tin tư vấn..................................................................38
3.2 Các vấn đề lo âu của bệnh nhân trước và sau mổ......................................39
3.3 Sự hỗ trợ xã hội (từ bạn bè, gia đình, nhân viên y tế) trước và sau mổ.. 40

2


MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮC

TIẾNG ANH
STAI

State -Trait Anxiety Inventory

BAI

Beck Anxiety Inventory

HADS

Hospital Anxiety and Depression Scale-Anxiety

APAIS

The Amsterdam Preoperative Anxiety and Information
Scale ..

HAM-A


or Hamilton Anxiety Rating Scale

HARS
SAS

Zung Self-Rating Anxiety Scale

DASS

Depression Anxiety Stress Scale

MDSS

Multidimensional Scale of Percieved Social Support

TIẾNG VIỆT
TB

Trung bình

P

Giá trị có mức ý nghĩa

SD

Độ lệch chuẩn

3



ĐẶT VẤN ĐỀ
Lo âu là biến đổi tâm lý và sinh lý đặc trưng bởi các yếu tố về cơ
thể, cảm xúc, nhận thức, và hành vi. Lo âu là một phản ứng cảm xúc tự
nhiên của con người trước những mối đe dọa, khó khăn, mơ hồ, lan toả cùng
các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó. Ngun nhân lo âu
thường khơng rõ ràng. Lo âu là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết
rằng sẽ có sự đe doạ từ bên trong hoặc bên ngoài cuộc sống, chẳng hạn như
bệnh tật. Sự biến đổi tâm lý và sinh lí đó diễn biến liên tục trong suốt quá
trình điều trị và trở nên rõ ràng hơn khi họ phải trải qua một thử thách lớn
đó là phẫu thuật.
Ngày nay trong điều kiện phát triển của y học hiện đại phẫu thuật là
một phương pháp điều trị thiết yếu của bác sĩ ngoại khoa, góp phần đáng kể
trong q trình điều trị cho người bệnh, tuy nhiên nó cũng là nguyên nhân
gây ra sang chấn ảnh hưởng nhất định tới bệnh nhân. Do đó để bệnh nhân an
tâm phẫu thuật ngồi việc giỏi về chun mơn thì việc chuẩn bị chu đáo về
tâm lý cho người bệnh là việc làm hết sức cần thiết. Sự thành công của phẫu
thuật là sự kết hợp hài hịa giữa chun mơn điều trị và yếu tố tâm lý của
người bệnh. Các yếu tố cảm xúc tâm lý trước phẫu thuật ở người bệnh gồm
lo âu (72%), sợ hãi (68,5%) và căng thẳng (59%)[1]. Lo âu trước phẫu thuật
đã được nghiên cứu trong nhiều thập kỷ. Qua các nghiên cứu thấy rằng có sự
khác biệt về tỉ lệ, mức độ lo âu của người bệnh trước phẫu thuật: Thổ Nhỉ
Kì:38,75%[2], Ethiopia:47%[3], Nigeria:51%[4], Nepan:58,5%[5], ĐàiLoan:
76,7%[6], Mỹ:76,95%[7], Hàn Quốc:87%[8], Đức: 92,6%[9]...
Lo âu trước phẫu thuật làm thay đổi áp lực động mạch, nhịp tim, độ bão hòa
oxy ngoại vi trong mổ [10], đau sau mổ tăng [1,10] dùng thuốc giảm đau
khơng hài lịng[10]. Lo âu cịn là ngun nhân giảm chất lượng phục hồi[11],
chậm lành vết thương, kéo dài thời gian nằm viện giảm sự hài lòng của
người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu[2,12]. Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu
4



khác nhau qua nhiều nghiên cứu. Giới tính được xem là yếu tố ảnh hưởng
thường xuyên đến lo âu trước phẫu thuât, trong nhiều nghiên cứu thấy rằng
mức độ lo âu ở nữ cao hơn nam giới[5,6,8,13,14,15] tuy nhiên cũng có báo
cáo thấy rằng khơng có sự khác biệt đáng kể về lo âu giữa hai giới[1,2,11],
sự thiếu hụt kiến thức do trình độ học vấn thấp, thiếu thơng tin về qui trình
phẫu thuật và gây mê[13], bệnh nhân trẻ tuổi, số giờ ngủ ít làm tăng mức độ
lo âu trước phẫu thuật [15]. Bệnh nhân đã lập gia đình, chưa từng phẫu thuật
trước đó được xem như một yếu tố bảo vệ người bệnh trước những lo âu do
phẫu thuật[16]. Lo âu giảm đi đáng kể khi người bệnh nhận được sự hỗ trợ
từ gia đình, bạn bè, nhân viên y tế. Việc thiếu bạn đời bên cạnh do ly hôn[17]
hoặc chưa kết hôn [14] cũng là yếu tố tăng lo âu. Có rất nhiều nguyên nhân
dẫn đến lo âu trước phẩu thuật: nổi lo sợ về cái chết, sợ hãi khơng rõ ràng,
tổn thất tài chính do nằm viện là ba nguyên nhân phổ biến nhất[17,18]. Sự
sợ hãi về cơn đau, không thức dậy sau phẫu thuật, buồn nôn vào nôn sau[19].
Thành công của cuộc phẩu thuật, quá trình chăm sóc hậu phẫu, biến chứng
trong và sau phẫu thuật cũng là nguyên nhân gây lo âu trước phẫu thuật.
Người bệnh lo âu về ngồi hình của họ sẽ thay đổi sau phẫu thuật, mất khả
năng độc lập trong sinh hoạt cá nhận, sự thiếu chuyên nghiệp từ nhân viện y
tế trong phẫu thuật [20],thay đổi môi trường sinh hoạt trong thời gian nằm
viện, thời gian chờ đời phẩu thuật, sự quan tâm của người bệnh đối với gia
đình của họ cũng là nguyên nhân gây lo âu[13]. Ngoài các lo âu chung về
phẫu thuật thì gây mê cũng nguyên nhân lo âu trước phẫu thuật, 81% người
bệnh nhìn nhận rằng họ đang lo âu về việc gây mê, để giải đáp những lo
lắng này 95% mong muốn gặp bác sĩ gây mê trước phẫu thuật[19]. Nhu cầu
thông tin về gây mê đat đỉnh điểm khi người bệnh tại khoa và thấp nhất taị
phòng mổ, những bệnh nhân dự kiến gây mê toàn thân tỏa ra lo âu hơn các
trường hợp được gây tê vùng[21]. Sigdel và cộng sự thấy rằng những trãi
nghiệm về gây mê trước đó có nguy cơ lo âu cao, điểm mong muốn thông

5


tin cao hơn ở nữ và các trường hợp từng mắc các bệnh tâm thần, thần kinh
trước đó[5]. Năm 2014 Ali cùng các cộng sự thấy rằng khơng có sự ảnh
hưởng của các đặc điểm nhân khẩu học giới tính, tuổi tác, tình trạng hơn
nhân, trình độ học vấn với trạng thái lo âu trước và sau phẫu thuật, tuy nhiên
trạng thái lo âu cao ở bệnh nhân được gây mê toàn thân. Điểm lo âu trước
phẫu thuật tăng trong trường hợp người bệnh thiếu thông tin về phẩu thuật.
Mức độ lo âu trước và sau phẫu thuật tăng làm ảnh hưởng xấu đến chất
lượng phục hồi của người bệnh trong thời kì hậu phẫu[2].
Qua các nghiên cứu trên tơi nhận thấy rằng có sự khác biệt về mức độ,
nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng đến lo âu của người bệnh trước phẫu thuật.
Khoa Ngoại gan mật tụy bệnh viện Chợ Rẫy với thuận lợi về cơ sở vật
chất và là tuyến cuối phục vụ cơng tác chăm sóc sức khỏe người dân cho
phía Nam, lượng bệnh đa dạng và phong phú, chúng tôi thực hiện nghiên
cứu này nhằm khảo sát lo âu của bệnh nhân trước và sau mổ chương trình,
qua đó phân tích những yếu tố liên quan đến mức độ lo âu, nhu cầu thông tin
của người bệnh trước phẫu thuật nhằm nâng cao chất lượng trong cơng tác
chăm sóc và điều trị cho người bệnh, giúp người bệnh an tâm điều trị.
Từ những vấn đề thực tiển nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“ Khảo sát sự lo âu của người bệnh trước và sau phẫu thuật” nhằm mục đích
khảo sát về chất lượng cơng tác chăm sóc, điều trị tại khoa, từ đó đề ra các
công việc cần thiết để thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe tin thần ổn
định tâm lý cho người bệnh cho người bệnh trước phẫu thuật.
Tầm quan trọng
Đánh giá các yếu tố liên quan đến lo âu của người bệnh trước và sau
phẫu thuật cũng như các vấn đề người bệnh quan tâm trước phẫu thuật để có
hướng làm giảm mức độ lo âu , ổn định tâm lý giảm các sự việc ngoài ý
muốn trước và sau phẫu thuật, tăng sự hài lịng trong cơng tác chăm sóc,


6


điều trị cho người bệnh tại khoa phòng, bảo đảm uy tín chất lượng của bệnh
viện.
Câu hỏi nghiên cứu
1. Mức độ lo âu của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật sỏi đường mật tai
khoa Ngoại Gan Mật Tụy tại bệnh viện Chợ Rẫy là bao nhiêu?
2. Có hay khơng mối liên quan giữa đặc điểm nhân chủng học và tình trạng
sức khỏe, các mức độ nhu cầu về thơng tin của người bệnh trước và sau
phẫu thuật sỏi đường mật tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy ?
Mục tiêu chung
Xác định mức độ lo âu của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật sỏi
đường mật tại khoa Ngoại Gan Mật Tụy và các yếu tố liên quan.
Mục tiêu cụ thể
a)

Xác định mức độ lo âu của bệnh nhân trước và sau phẫu thuật sỏi

đường mật tai khoa Ngoai Gan Mật Tụy tại bệnh viện Chợ Rẫy trong giai
đoạn trước và sau phẫu thuật.
b)

Xác định mối liên quan giữa các tuổi, giới tính, dân tộc, nơi ở, tơn

giáo, tình trạng hơn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tình
trạng công việc hiện tại, bảo hiểm y tế, số ngày nằm viện và lo âu của bệnh
nhân trước và sau phẫu thuật sỏi đường mật.
c)


Xác định mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe (bệnh lý kèm theo,

thời gian ngủ, số lần phẫu thuât) với lo âu của bệnh nhân trước và sau phẫu
sỏi đường mật.
d)

Xác định mối liên quan giữ sự hổ trợ của người thân, bạn bè, nhân

viên y tế với lo âu của người bệnh trước và sau phẫu thuật. Đề xuất một số
giải pháp giúp bệnh nhân giảm bớt lo âu trước và sau phẫu thuật.

7


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về lo âu:
Lo âu là phản ứng trước mối đe dọa kéo dài, khơng thể đốn trước, một phản
ứng bao gồm những thay đổi về sinh lý, tình cảm và nhận thức[ 22]. Sự lo
âu có thể như một phản ứng lành mạnh , một động lực để thay đổi bản thân
hoặc thích nghi với hồn cảnh. Nó có thể là một phản ứng suy nhược. Lo âu
được biểu hiện theo ba cách: trong suy nghĩ của một người (về mặt nhận
thức), trong hành động của một người (về mặt hành vi) và trong các phản
ứng sinh lý[23]. Lo âu là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất
nhưng tỷ lệ thực sự không được biết đến nhiều do nhiều người khơng tìm
kiếm sự giúp đỡ hoặc bác sĩ lâm sàng khơng chẩn đốn được[24].
1.1.1 Các triệu chứng đặc trưng Lo âu[24]
Các triệu chứng nhận thức: sợ mất kiểm soát; sợ bị thương hoặc chết,
sợ bị người khác đánh giá tiêu cực, suy nghĩ, hình ảnh tinh thần hoặc ký ức
đáng sợ, kém tập trung, lú lẫn, mất tập trung; thu hẹp sự chú ý, tăng cảnh

giác đối với các mối đe dọa, trí nhớ kém,và khó nói.
Các triệu chứng sinh lý: tăng nhịp tim, hồi hộp; khó thở, thở
nhanh; đau ngực hoặc áp lực; cảm giác nghẹt thở; chóng mặt, chống
váng; đổ mồ hơi, bốc hỏa, ớn lạnh; buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, run rẩy,
tê ở tay và chân, yếu ớt, loạng choạng, ngất xỉu, căng cơ, khô miệng.
Các triệu chứng hành vi: tránh các tín hiệu hoặc tình huống đe
dọa, trốn thốt, theo đuổi sự an tồn, sự bất an; bồn chồn, kích động, tăng
thơng khí, bất động, khó nói.
Các triệu chứng liên quan, căng thẳng, đau đớn; sợ hãi, khiếp sợ, giật
mình, bồn chồn, và thiếu kiên nhẫn, thất vọng.
1.1.2 Nguyên nhân lo âu:[25]
Các nguyên nhân gây lo âu khơng rõ ràng cũng như khơng có câu trả
lời cụ thể về lý do tại sao một số người phát triển một chứng rối loạn lo âu,
8


mặc dù nghiên cứu cho thấy rằng có một số của các yếu tố có liên quan.
Giống như hầu hết các vấn đề sức khỏe tâm thần, rối loạn lo âu dường như
được gây ra bởi sự kết hợp của yếu tố sinh học, yếu tố tâm lý và cuộc sống
đầy thử thách bao gồm:
• Các cuộc sống căng thẳng .
• Vấn đề phát triển thời thơ ấu hoặc sang chấn.
• Tiền sử gia đình bị rối loạn lo âu.
• Rượu, thuốc hoặc các chất kích thích.
• Các vấn đề y tế hoặc tâm thần khác.
1.1.3Những lo âu của người bệnh trong giai đoạn mới nhập viện.
 Xa người thân trong gia đình, sinh hoạt khơng thuận tiện như ở nhà.
 Phải nằm chung phòng với nhiều người bệnh khác nhau, thậm chí phải
nằm ghép, nằm giường đơi, giường ba.
 Mơi trường bệnh viện ồn ào, khó ngủ.

 Nhiều mùi hôi đặc biệt: thuốc tẩy rửa, thuốc sát trùng, thuốc kháng sinh,
thuốc uống, quần áo, chăn màn, đồ dùng của nhiều người bệnh.
 Tiếp xúc với nhiều người: bác sỹ, điều dưỡng, nhân viên y tế khác, học
sinh, sinh viên,người thăm ni bệnh…
 Kinh tế gia đình: chi phí điều trị tốn kém, kinh tế gia đình khó khăn , thu
nhập thấp, khơng có thu nhập ổn định, khơng có bảo hiểm y tế.
 Phải làm nhiều các xét nghiệm: chụp X quang, rút máu làm xét ngiệm,
nước tiểu…
 Sợ lây nhiễm từ các bệnh khác.
 Lo âu về bệnh tật: khả năng thành công trong điều trị , mức độ nguy
hiểm của bệnh, thời gian nằm viện ?
1.1.4 Sự lo âu của bệnh nhân ngoại khoa
Bệnh ngoại khoa đặc biệt là bệnh cần can thiệp phẫu thuật thường có
ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, bệnh nhân
9


và người nhà thường rất lo lắng: phẫu thuật có nguy hiểm khơng?, ai phẫu
thuật?, sau phẫu thuật có hết bệnh khơng?, có để lại di chứng khơng?, biến
chứng tàn phế khơng? Vì vậy vai trị của người thầy thuốc, điều dưỡng khoa
ngoại gan mật tụy là hết sức quan trọng[26].
1.1.5 Các thang đo mức độ lo âu.
Hiện nay có khá nhiều thang đo được sử dụng để đo lường lo âu của
người bệnh như: State -Trait Anxiety Inventory (STAI), Beck Anxiety
Inventory (BAI), Hospital Anxiety and Depression Scale-Anxiety (HADSA), The Amsterdam Preoperative Anxiety and Information Scale (APAIS),
Hamilton Anxiety Rating Scale ( HAM-A or HARS), Zung Self-Rating
Anxiety Scale (SAS) ...
State-Trait Anxiety Inventory (STAI) được tạo bởi tiến sĩ tâm lý học
người Mỹ Spielberger và cộng sự năm 1970[27] sau đó được chỉnh sửa vào
năm 1983 nhầm báo cáo lo âu tại một thời điểm nhất định gồm có hai phần

mõi phần có 20 mục. Mõi mục được đánh giá bởi thang đo Likert với số
điểm tương ứng từ 1- 4. STAI-S đánh giá trạng thái lo lắng tích cực và tiêu
cực tạm thời của lo âu với: 1 “không hề”, 2 “một chút”, 3 “khá”, 4 “rất”.
STAI-T đánh giá đặc điểm, tần suất lo âu: 1 “hầu như không bao giờ”, 2
“đôi khi”, 3 “thường xuyên”, 4 “hầu như luôn luôn”. STAI được phân chia
làm 3 mức độ: 20-37 điểm không lo âu hoặc lo âu nhẹ, 38-44 điểm lo âu
trung bình, 45- 80 điểm lo âu cao. Độ tin cậy của STAI đối với bệnh nhân
của một số chứng lo âu là từ 0,87 đến 0,93 , STAI được đánh giá là bô công
cụ nhạy cảm với mức độ lo lắng của cá nhân và đáng tin cậy đối với bệnh
nhân được chẩn đốn hoảng sợ tấn cơng, ám ảnh cụ thể, ám ảnh xã hội, ám
ảnh xã hội tổng quát, rối loạn căng thẳng sau chấn thương, ám ảnh cưỡng
chế rối loạn hoặc rối loạn Stress cấp tính[28].Tại Việt Nam bộ công cụ này
cũng được sử dụng trong một các cơng trình nghiên cứu để khảo sát tâm lý
phụ nữ ,sinh viên học sinh[29].
10


Depression Anxiety Stress Scale (DASS 21): D (Depress), A
(Anxiety), S (Stress) tạo bởi Lovibond, S. H. và Lovibond, P. F. (1993)
tại Đại học New South Wales và được chỉnh sử phát triển vào năm 1995[30].
Depression Anxiety Stress Scale là thang đo được cả ba trạng thái trầm
cảm,lo âu,và stress ở thanh thiếu niên. Phiên bản DASS 21 có 21 mục gồm
ba thang đo nhỏ, mỗi thang có 7 mục. Mỗi mục được tính điểm từ 0 “điều
này hồn tồn khơng xảy ra với tôi”, 1 “đúng với tôi một phần hoặc thỉnh
thoảng mới đúng”, 2 “đúng với tôi phần nhiều hoặc phần lớn thời gian là
đúng”, 3 “hầu hết lúc nào cũng có hầu hết thời gian là đúng”, DASS chia
làm 4 mức độ : bình thường hoặc nhẹ, vừa, năng, rất nặng. Phiên bản DASS
được sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. DASS được sử dụng để đo
lường mức độ nguy hiểm chung của ba trạng thái trầm cảm, lo âu và căng
thẳng[31].Tại Viêt Nam thang sử dụng như một công cụ sàng lọc các triệu

chứng của các vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến ở thanh thiếu niên [32].
Hamilton Anxiety Rating Scale (HAM-A or HARS) được xây dựng
bởi Max Hamilton công bố đầu tiên vào năm 1959[33], gồm có 12 mục , sau
đó thử nghiệm và cải tiến, phát triển thay đổi nội dung và cách tính điểm
thành HAM-A hiện tại. Thang có cấu trúc 14 mục. Chia làm 2 nhóm, mỗi
mục được ghi trên thang 5 điểm, dao động từ 0 “khơng có mặt” 1 “nhẹ”, 2
“trung bình”, 3 “nghiêm trọng” và 4 “rất nghiêm trọng” Thang gồm 4 mức
độ: Không lo âu: 0-13 điểm, Lo âu nhẹ: 14-17 điểm, Lo âu trung bình: 18-24
điểm, Lo âu nặng: ≥25 điểm. Các yếu tố lo âu tâm thần gồm các mục từ 1
đến mục 6 (tâm trạng lo âu, căng thẳng, sợ hải, mất ngủ, nhận thức và cảm
xúc trầm cảm) và mục 14 (hành vi trong lúc phỏng vấn) và các yếu tố lo âu
cơ thể từ mục 7 đến mục 13 (cơ bắp, cảm giác, tim mạch, hơ hấp, tiêu hóa,
tiết niệu – sinh dục và thần kinh thực vật). Thang đo là một bộ câu hỏi trắc
nghiệm tâm lý có tính giá trị cao được các bác sĩ lâm sàng sử dụng để đánh
giá mức độ nghiêm trọng của sự lo âu của bệnh nhân trong lâm sàng phù
11


hợp với thực hành chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh cho cả người trưởng
thành và trẻ em[33].
Năm 1990 Beck Anxiety Inventory được phát triển bởi giáo sư Aaron
T Beck và cộng sự [34].Thang đo ngắn gọn, đơn giảm, dễ quản lí, thời gian
hồn thành trắc nghiệm thường mất 5 đến 10 phút để đánh giá mức độ
nghiêm trọng của trầm cảm. Thang đo gồm 21 mục, mỗi mục được đo lường
bởi thang đo Likert với số điểm từ 0 đến 3. Tổng số điểm dao động từ 0 đến
63 điểm, điểm càng cao mức độ trầm cảm càng nghiêm trọng. Trong thang
đo này trầm cảm chia làm 4 mức độ: không trầm cảm (0 đến 13), trầm cảm
nhẹ (14 đến 19), trầm cảm trung bình (20 đến 29) và trầm cảm nặng (30 đến
63). Beck thường dùng để đánh giá và theo dõi những thay đổi ở các triệu
chứng trầm cảm cho bệnh nhân trong cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần và

tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu.
The Amsterdam Preoperative Anxiety and Information Scale (APAIS)
(APAIS): được phát triển bởi Moerman và cộng sự năm 1996[35]. Thang đo
gồm 6 mục, mõi mục được đo lường bởi thang đo Likert với số điểm từ 1:
“không hề”, 2: “phần nào”, 3: “vừa phải”, 4: “cao vừa phải”, 5: “cực kỳ”.
Thang đo đánh giá lo lắng gây mê và phẩu thuật ở mục 1, 2, 4, 5 với điểm lo
lắng tổng thể từ 4 đến 20 điểm, nhu cầu thông tin ở mục 3,6 với số điểm từ 2
đến 10. Thang chia ra 3 mức độ: điểm 2- 4 u cầu thơng tin ít, điểm 5 -7
u cầu thơng tin trung bình, điểm 8- 10 u cầu thơng tin cao. APAIS là
thang đo ngắn gọn, có thể hoàn thành trong khoảng 2 phút[35], được các
nhân viên y tế sử dụng để đánh giá mức độ lo âu của người bệnh về phẫu
thuật, gây mê cũng như nhu cầu thông tin của người bệnh trước phẫu thuật.
Zung Self-Rating Anxiety Scale( SAS) do giáo sư tâm thần học
William W. K. Zung sáng lập[36]. SAS là một thang điểm tham chiếu chuẩn,
được sử dụng rộng rãi để sàng lọc các rối loạn lo âu trong các nghiên cứu
dịch tễ. Thang SAS tự đánh giá gồm có 20 đề mục, đánh giá mức độ lo âu
12


dựa trên 4 nhóm triệu chứng: nhận thức, thần kinh tự trị, vận động và hệ
thần kinh trung ương với số điểm tương ứng 1 “khơng có’, 2 “Đơi khi”, 3
“Phần lớn thời gian”, 4 “Hầu hết hoặc tất cả thời gian”, tổng số điểm từ 20
đến 80 điểm được chia làm 4 mức độ: 20-44 không lo âu, 45-59 lo âu nhẹ
đến trung bình, 60-74 lo âu mức độ nặng, 75-80 mức độ rất nặng. Thang lo
âu Zung cũng là thang tự đánh giá bệnh nhân có thể đọc từng câu và lựa
chọn mức độ phù hợp với mình. Ưu điểm của nó là ngắn gọn, xử lí khá đơn
giản nên được ưa dùng trong lâm sàng. Tuy nhiên do đơn giản nên một số
tác giả khuyên chỉ nên dùng để khảo sát sàng lọc.
Lo âu bệnh viện và Depression Scale (HADS) ban đầu được phát triển
bởi Zigmond và Snaith (1983)[37]. Bộ câu hỏi gồm 7 mục với điểm số từ 0

đến 3 cho mõi mục. Tổng số 21 điểm tương ứng với 3 mức độ lo âu: 0 -7
khơng lo âu, 8 -10 có lo âu, 11-21 lo âu cao. HADS để xác định mức độ của
sự lo âu và trầm cảm. Trong các nghiên cứu trước đây tính giá trị của bộ
cơng cụ được khẳng định với hệ số Cronbach's alpha 0,795 [38]. Tại Việt
Nam HADS-A đã được dịch sang tiếng Việt và sử dụng để đánh giá tình
trạng lo âu trước phẫu thuật qua nghiên cứu trước đó, giá tri của nó với
Cronbach dao động 0,81 [39].
Sự hỗ trợ xã hội : được đánh giá bằng bộ câu hỏi MDSS. Nó được
phát triển năm 1922 bởi Winefield cùng các cộng sự [40 ]. Bộ công cụ này
gồm 11 câu. Người tham gia sẽ có 1 trong 4 sự chọn lựa ở mõi câu với giá
trị 0 “khơng có”, 1 “thỉnh thoảng”, 2 “thường xun”, 3 “ln ln”, trong
đó 6 câu dùng đánh giá sự hỗ trợ từ bạn bè và gia đình với số điểm dao động
từ 0 đến 18 điểm , 5 câu đánh giá sự hỗ trợ của nhân viên y tế với số điểm
dao động từ 1 đến 15 điểm. Điểm càng cao thì sự hỗ trợ của bạn bè, gia đình,
nhân viên y tế càng tốt trong tư tưởng của người bệnh. Tại Việt Nam MDSS
đã được điều chỉnh và dịch sang tiếng Việt sử dụng để đánh giá tình trạng lo
âu trước phẫu thuật trong nghiên cứu của Đỗ Cao Cường [39]. Chỉ số độ tin
13


cậy cho toàn bộ 11 câu là 0,9. Hỗ trợ y tế là 0,81. Hỗ trợ gia đình/bạn bè
0,85. Bộ cơng cụ này có 11 mục bao gồm 06 mục hỗ trợ gia đình/bạn bè và
05 mục hỗ trợ từ các chuyên gia y tế, số điểm từ 0 đến 3 tương ướng với
mức ý nghĩa sao: 0 “không bao giờ”, 1 “đôi khi”, 2 “thường xuyên”, 3 “luôn
luôn”. Tổng số điểm hỗ trợ gia đình/bạn bè dao động từ 0 đến 18 và tổng số
điểm hỗ trợ chuyên môn y tế dao động từ 0 đến 15. Điểm số cao hơn thể
hiện sự hỗ trợ xã hội tốt hơn theo nhận thức của người bệnh.
1.1.6 Các nghiên cứu về tình trạng lo âu.
Trong nước
Năm 2011 trong nghiên cứu của Thái Hoàng Để[41] tại bệnh viện An

Phú tỉnh An Giang khảo sát 163 bệnh nhân trước và sau phẫu thuật năm
2010 với gần 75% là nữ. Tuổi 18 - 30 chiếm hơn 50%, phần lớn sống tại
nông thôn, chủ yếu sống bằng nghề nông, hơn 90% chưa từng phẫu thuật
trước đó.Qua khảo sát 100% người bệnh được tư vấn trước mổ và chất
lượng thông tin ở mức độ khá chiếm hơn 68%. Qua khảo sát 80% bệnh nhân
còn lo lắng trước phẫu thuật, các vấn đề lo âu nhất trước phẫu thuât là sợ
đau 64,41%, bệnh tái phát 19,65%. Lo âu nhất sau phẫu là sợ không đủ tiền
(52,14%), sợ không lành, sợ di chứng, sợ tiêm thuốc. Nghiên cứu đã nêu ra
những vấn đề khó chịu của người bệnh khi thoát mê cũng như mong muốn
của người bệnh là giảm đau, mau phuc hồi sau phẫu thuật.
Năm 2013 nghiên cứu của Đỗ Cao Cường[39] tại bệnh viện ở Phú Thọ
sử dụng thang đo HADS-A, bảng câu hỏi nhận thức về bệnh tật BIPQ,
Thang đo hỗ trợ MDSS hỗ trợ từ gia đình và nhân viên y tế, cho thấy lo âu
chung trước phẩu thuật chiếm tỉ lệ cao hơn 98%, trong đó 50% mức độ cao,
43,3% nhẹ và 5,6% nghiêm trọng. Lo âu trước phẫu thuật không bị ảnh
hưởng bởi tuổi tác, rủi ro phẫu thuật được nhận thức và sự hỗ trợ của gia
đình/bạn bè. Tuy nhiên mức độ lo âu có mối tương quan thuận với mức độ
nghiêm trọng của bệnh, sự hỗ trợ từ nhân viên y tế. Theo nghiên cứu trên 82
14


bệnh nhân tại khoa Ngoại Tiêu Hóa Gan mật bệnh viện Trung ương Thái
Nguyên trước và sau mổ năm 2018: điểm trung bình lo âu trước phẫu thuật
của bệnh nhân là 51,9 ± 7,7, lo âu trung bình 79,3%, lo âu ít chiếm 7,3%, lo
âu nhiều 13,4%. Lo âu trước mổ ảnh hưởng xấu đến chất lượng phục hồi của
người bệnh sau phẩu thuât. Lo âu trước phẩu thuật làm tăng nguy cơ đau sau
mổ 13,3% và kéo dài 5,6% thời gian nằm viện[42].
Theo nghiên cứu tại bệnh viện Định Quán gần 70% bênh nhân còn lo
âu trước phẫu thuật dù tỉ lệ tư vấn trước mổ hơn 90%, người bệnh chưa nhận
đủ các thông tin về phương pháp vô cảm trước phẫu thuật và người bệnh

mong muốn được gây tê nhiều hơn gây mê khi phẫu thuật. Đau là nguyên
nhân hàng đầu gây lo âu cho người bệnh trước phẫu thuât [43].
Nghiên cứu tại Khoa Tiết niệu của Bệnh viện Đại học Y Dược thành
phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Tấn Việt và cộng sự, từ tháng 11/2017 đến
tháng 6/2018 trên 96 người bệnh từ 18 tuổi trở lên trước phẫu thuật được
phỏng vấn trực tiếp. Sử dụng bộ cơng cụ HAD-A và MDSS để đánh giá tình
trạng lo âu và hỗ trợ từ gia đình và nhân viên y tế. Tỷ lệ lo âu trước khi thực
hiện phẫu thuật là 16,7%. Điểm hỗ trợ từ gia đình/bạn bè trung bình là 13,2
± 3,2 điểm. Điểm hỗ trợ từ nhân viên y tế trung bình là 9,4 ± 2,7. Ba nguyên
nhân chính gây lo âu của người bệnh trước phẫu thuật là: sợ biến chứng, sợ
đau sau phẫu thuật và chờ đợi phẫu thuật lâu. Cung cấp thông tin cho người
bệnh là việc là cần thiết của nhân viên y tế trong việc giảm lo âu trước phẩu
thuật. Ngoài ra sự hỗ trợ tích cực từ gia đình, bạn bè cũng góp phần giảm lo
lắng cho người bệnh [44].
Nước ngoài
Qua các nghiên cứu trước thấy rằng lo âu trước phẫu thuật là vấn đề
thường gặp tại nhiều quốc gia. Nghiên cứu taị Thổ Nhỉ Kì (2014) [2] đã sử
dụng kiểm kê lo âu của Beck để tìm sự ảnh hưởng của lo lắng trước mổ đến
quá trình phục hồi sau gây mê và giảm đau sau phẫu thuật. Achmet Ali và
15


cộng sự thấy rằng: 38,75% lo lắng trước phẩu thuật. Các đặc điểm nhân
khẩu học như giới tính, tuổi tác, tình trạng hơn nhân, trình độ học vấn, kinh
nghiệm phẫu thuật trước đó, thơng tin về cuộc phẫu thuật khơng ảnh hưởng
đến lo âu trước phẩu thuật. Bệnh nhân được gây mê toàn thân tỏa ra lo âu
hơn. Mức độ lo âu tăng làm giảm chất lượng phục hồi sau gây mê và tăng
tiêu thụ giảm đau sau phẫu thuật.
Theo nghiên cứu của Bedaso cùng cộng sự (2019)[3] tại Ethiopia với
thang đo STAI để xác định các yếu tố dự báo lo âu 402 bệnh nhân chờ phẫu

thuật tự chọn. Nghiên cứu thấy rằng 47,0% bệnh nhân lo âu trước phẫu thuật.
Nguyên nhân gây lo âu: kết quả phẫu thuật không mong muốn, sợ bị tổn hại
do nhầm lẫn của bác sĩ hoặc y tá, truyền máu và không thể hồi phục sau
phẫu thuật. Nguy cơ lo âu tăng gấp 9 ở những người sử dụng chất kích thích.
Sự hỗ trợ tích cực từ xã hội làm giảm đáng kể lo âu.
Nghiên cứu tại trung tâm Ankara[15] đánh giá mức độ lo âu trước
phẫu thuật thấy rằng có sự ảnh hưởng của các đặc điểm nhân chủng học đến
lo âu ở bệnh nhân được lên lich phẫu thuật tự chọn. Điểm lo âu trạng thái
trước phẫu thuật là 38,0 ± 9,9. Trạng thái lo âu trước phẫu thuật tăng ở bệnh
nhân nữ, trẻ tuổi , thời gian ngủ ít. Đặc điểm lo lắng trước phẫu thuật tương
quan nghich với trình độ học vấn. Nữ có mức độ, tần suất lo lắng cao hơn
nam. Nghề nghiệp cũng là tác nhân gây lo âu trước phẫu thuât. Tần suất lo
âu cao ở các bà nội trợ, giảm ở người có việc làm hoặc hưu trí. Kinh nghiệm
phẫu thuật trước đó khơng ảnh hưởng lo âu. Mức độ lo âu khác nhau trong
từng loại phẫu thuật. Trong phẫu thuật phụ khoa mức độ và tần suất cao hơn
các phẫu thuật khác.
Theo nghiên cứu của Akinsulore và cộng sự (2015)[4] ở Nigeria đánh
giá lo âu trước và sau phẫu thuật với thang đo STAI. Điểm lo âu trung bình
trước phẫu thuật (42,72 ± 9,84), sau phẫu thuật (37,73 ± 8,44) tỉ lệ lo âu
trước phẫu thuật cao gấp 3 lần sau phẫu thuật (51,0% -15,7%). Lo sợ về biến
16


chứng và kết quả của cuộc phẫu thuật là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra
lo âu trước phẫu thuật, một số ít lo âu bị tiêm chích, nhầm lẫn của nhân viên
y tế.
Một nghiên cứu tại Nepal[5] sử dụng thang đo APAIS khảo sát 123
bênh nhân chờ phẫu thuật tim để xác định mối liên hệ giữa lo âu và nhu cầu
thông tin trước phẫu thuật.Nghiên cứu thấy rằng 58,5 có lo âu trước phẫu
thuật, nguy cơ phát triển lo lắng ở nữ cao hơn nam.Trình trạng kinh tế xã hội

thấp, mắc các bênh tâm thần, trãi nghiệm gây mê trước đó làm tăng lo âu
trước phẫu thuật. Những bênh nhân có mức độ lo âu cao mong muốn có
nhiều thơng tin liên quan đến thủ tục trước khi phẫu thuật.
Nghiên cứu tại Đài Loan (2012) [6] 76,7% có dấu hiệu lo lâu trước
phẫu thuật. Nguyên nhân chính gây ra lo âu: nhận thức trong khi gây mê, kết
quả phẫu thuật, đau sau phẫu thuật, chờ đợi phẫu thuật và sự chăm sóc của
nhân viên y tế. Trãi nghiệm phẫu thuật trước đó giúp bênh nhân ít lo âu hơn.
Một nghiên cứu tai Trung tâm Lâm sàng Đại học Tuzla[7] xác định
tác động của lo âu lên các thông số huyết động (huyết áp, nhịp tim) ở bệnh
nhân và liều lượng thuốc mê. Mức độ lo lắng trước phẫu thuật là một yếu tố
dự báo có ý nghĩa về liều lượng thuốc gây mê được sử dụng trong quá trình
khởi mê.
Nghiên cứu của Jun-Seok Lee và cộng sự tại Hàn Quốc (2016) [8] sử dụng
thang đo VAS đánh giá tỉ lệ lo âu về phẫu thuật và gây mê trên 175 người
bệnh được phẫu thuật cột sống với phương pháp gây mê toàn thân. 87% dân
số trong nghiên cứu được xác định lo âu trước phẩu thuật. Lo âu về phẫu
thuật cao hơn lo âu về gây mê.Yếu tố nguy cơ làm phát triển lo âu là tuổi và
giới tính. Giải pháp để giảm lo âu hiệu quả nhất là giải thích của bác sĩ về ca
phẫu thuật.
Nghiên cứu tại Đức [9] 92,6% lo lắng trước phẫu thuật (APAIS). Tổng
điểm lo lắng trung bình là 9,9 (SD 3,6). 40,5% có mức đọ lo âu cao. Năm
17


2019 Aysegul Bayrak và cộng sự [10] thấy rằng lo âu trước phẫu thuật cao
làm thay đổi các thông số huyết động (áp lực động mạch, nhịp tim, độ bão
hòa oxy ngoại vi) trong mổ, đau sau mổ tăng và dùng thuốc giảm đau không
hiệu quả. Nghiên cứu tại Anh[12] năm 2017 ở người bệnh có mức độ lo lắng
vừa phải có nguy cơ biến chứng vết thương và kéo dài thời gian nằm viện.
Nghiên cứu tài Hi Lạp năm 2013[19] 81% dân số trong nghiên cứu thừa

nhận lo âu về việc gây mê, theo độ tuổi khác nhau có sự thay đổi về nguyên
nhân gây lo âu, tuy nhiên đau vẫn là nguyên nhân hàng đầu.
Nghiên cứu tại Trung Quốc năm 2021 [45] sử dung thang đo HADS
và phương pháp đánh giá lú lẫn (CAM) nhầm tìm mối liên quan giữa lo âu
và mê sảng sau phẩu thuật. Lo lắng làm tăng tỉ lệ mê sảng, thời gian phục
hồi chậm sau phẫu thuật.
Năm 2011 Krishna Pokharel và cộng sự [21] sử dụng thang đo APAIS
thực hiện cuộc khảo sát tai ba thời điểm: tại phòng khám, khu vực tổ chức
trước phẫu thuật và phòng phẫu thuật để đánh giá mức độ lo lắng và nhu cầu
thông tin về phẫu thuật và gây mê của người bệnh trước phẫu thuật. Tần suất
lo âu, nhu cầu thông tin về gây mê và phẫu thuật khác nhau theo từng khu
vực. Tần suất lo âu cao nhất tại khu vực tổ chức phẫu thuật, nhu cầu thông
tin về phẫu thuật và gây mê giảm dần khi người bệnh rời khỏi khoa phòng.
Các bệnh nhâu có nhu cầu tìm kiếm thơng tin cao sẽ có nguy cơ phát triển lo
âu cao hơn. Yếu tố dự báo nguy cơ lo âu trước phẫu thuật là giới tính nữ,
gây mê tồn thân. Nhu cầu tìm kiếm thơng tin trước phẩu thuật tăng ở người
tuổi trẻ, trình độ học vấn cao, chưa từng phẩu thuật trước đó.
Một nghiên cứu tại Vương quốc Ả Rập Xê Út (2016)[46] nhầm khảo
sát lo âu khi gây mê toàn thân. Tỉ lệ lo âu về gây mê 10,8%, nguyên nhân
chính gây lo âu: sợ chậm phục hồi ý thức sau khi gây mê, tiết lộ thông tin cá
nhân khi gây mê toàn thân. Bệnh nhân lớn tuổi, chưa tiếp xúc gây mê trước
đó là yếu tố làm tăng tỉ lệ lo âu .
18


Theo kết quả khảo sát tại Mỹ (2019) [47] chẩn đốn lành hay ác tính
khơng liên quan đến lo âu trước phẫu thuật, người bệnh quan tâm nhiều đến
phẫu thuật,chi phí, trình trạng bảo hiểm, giảm đau sau phẫu thuật. Nghiên
cứu tại Ấn Độ [48] nhầm đánh giá mức độ lo âu của người bệnh tại ba thời
điểm: khoa phòng, nơi tổ chức phẩu thuật, tại vị trí trên bàn mổ. Amit

Kumar và các cộng sự thấy rằng điểm lo lắng có xu hướng tăng dần theo
thời gian mặc dù nhu cầu thơng tin gần như khơng có sự thay đổi. Những
bệnh nhân có thói quen sử dụng chất kích thích ít có nguy cơ phát triển lo âu
hơn. Điểm lo âu có xu hướng tăng theo mùa và thấp nhất vào mùa đơng.
Một nghiên cứu đồn hệ theo chiều dọc tại Thụy Điển[49] kéo dài 4
năm nhầm khảo sát mới tương quan giữa lo âu và mức độ hài lòng của người
bệnh sau phẫu thuật, bệnh nhân lo lắng trước phẫu thuật có nguy cơ khơng
hài lịng gấp 6 lần so với bệnh nhân không lo âu và kéo dài thời gian nằm
viện sau phẫu thuật.
Theo nghiên cứu của Vilma Kuzminskaite và cộng sự (2019) [20]
khảo sát tỉ lệ lo âu trước phẫu thuật theo HADS tỉ lệ lo âu là 12,6% và theo
thang đo APAIS là 57,7%. Bệnh nhân lo âu nhiều về thành công, biến chứng
sau phẩu thuật. Các giải pháp được người bệnh lựa chọn để giảm lo lắng trò
chuyện với bác sĩ hoặc người thân dùng thuốc, cầu nguyện, âm nhạc trị liệu,
xoa bóp.

19


1.2 Giải phẫu về đường mật.
Mật được tiết trong các tế bào gan đổ vào các tiểu quản tận ở các
thành bên của các tế bào gan, đi vào ống mât của bộ ba khoang cửa (khoang
Kiernam) và tập trùng thành các ống mật lớn dần, cuối cùng thành ống gan
phải và trái, thốt ra ngồi ở cửa gan và hợp lại thành ống gan chung.
Đường mật là một hệ thống thu nhập, vận chuyển dịch mật từ gan xuống tá
tràng. Nó thường được chia thành đường mật trong gan (intrahepatic) và
đường mật ngoài gan (extrahepatic).
Đường mật trong gan tạo thành bởi sự kết hợp của ống dẫn mật phân
thùy:Ống gan phải và ống gan trái.
Đường mật ngoài gan bao gồm ống gan chung được tạo bởi đoạn ngoài gan

của ống gan phải và ống gan trái thoát ra ở cửa gan, ống túi mật, túi mật và
ống mật chủ.
Đường mật trong gan[50]
Ống gan phải được tạo bởi sự hợp lưu của ống phân thùy trước (giữa-phải)
và ống phân thùy sau (bên-phải). Ngồi ra cịn một ống nhỏ từ phần phảidưới của thùy đuôi, trước khi kết hợp với ống gan trái thành ống gan chung.
Ống phân thùy sau: Tạo bởi sự hợp lưu của các ống hạ phân thùy VII và ống
hạ phân thùy VI. Bắt đầu bởi ống hạ phân thùy VII chạy dọc theo phía trên
chiều lõm của đường cong tĩnh mạch phân thùy sau và nhận các nhánh bên
lớn dần đi từ bờ phải gan, trong đó 1,2 và đơi khi 3 nhánh cuối cùng thuộc
hạ phân thùy VI. Ống phân thùy sau được tạo thành như vậy thường vòng ra
sau nguyên ủy tĩnh mach cửa phân thùy trước, tạo nên một vịng cong điển
hình trước khi hợp với ống phân thùy trước thành ống gan phải.
Ống phân thùy trước: tạo bởi sự hợp lưu các ống hạ phân thùy V và VIII.
Theo Trịnh Văn Minh[51], ống phân thùy trước được hợp thành bởi 3 ống
hạ phân thùy VIII trong, VIII ngoài, V .
20


Ống hạ phân thùy VIII trong bám theo chiều lõm của đường cong tĩnh mạch
cùng tên và liên tiếp với thân chính ống mật phân thùy giữa-phải, đi xuống
dọc theo bờ sau-trong tĩnh mạch cửa của phân thùy đó.
Ống hạ phân thùy VIII ngoài chạy theo tĩnh mạch cùng tên, nhận nhánh bên
lớn cuối cùng chênh nhẹ từ phía trước phải, rồi bắt chéo ở sau chổ chia đôi
tận cùng của tĩnh mạch phân thùy giữa-phải, tới hợp với ống hạ phân thùy
VIII trong.
Ống hạ phân thùy V có thể gồm 1-2, đôi khi 3 ống nhỏ, đổ một cách thay
đổi (riêng rẻ hoặc tập trung) vào mặt trước của ống VIII trong và/hoặc

ống


VIII ngoài hay thân chung VIII trong +VIII ngoài.
Sự cấu tạo ba thành phần hạ phân thùy nêu trên của ống phân thùy trước ít
được biết đến bởi các tác giả nước ngồi. Song đó lại là cơ sở thực tế quan
trọng để phân loại một cách chính xác các dạng biến đổi giải phẩu đường
mật ở nửa gan phải. Ba ống hạ phân thùy nên trên cũng có thể khơng tập
trung thành ống phân thùy giữa-phải mà đổ riêng rẻ vào ba nơi: VIII ngoài
đổ vào một ống hạ phân thùy VII chạy sau nguyên ủy tĩnh mạch phân thùy
giữa phải, V đổ vào một ống hạ phân thùy VI trượt thấp ra trước nguyên ủy
tĩnh mạch nói trên ,cịn lại VIII trong vẫn độc lập chạy theo vị trí bình
thường ống phân thùy giữa- phải.
Ống gan phải điển hình hợp thành bởi 2 ống phân thùy trước và phân thùy
sau nêu trên có đường đi rất ngắn(0-8mm,trung bình 6-8 mm) hướng hơi
chếch ra trước và vào trong,ở trên ngành phải tĩnh mạch cửa, hợp với ống
gan trái ở một điểm nằm trước trên và hơi lệch sang phải tại chỗ chia đôii
tĩnh mạch cửa.Trên đoạn đường ngắn đó có thể nhận thêm một ống nhỏ từ
thùy phải đuôi.
Ống gan trái: Tập hợp các ống phân thùy bên trái và giữa trái và nhận thêm
1-2 ống nhỏ của phần đỉnh và nữa trái phân thùy lưng hay thùy đuôi.

21


Ống hạ phân thùy III thường là ống lớn nhất, chạy dọc theo phía trên

chiều

lõm đường cong tĩnh mạch cùng tên, nhận thêm một ống trên hạ phân thùy
III nhỏ hơn, rồi chạy ra sau dọc theo phía trên bờ trái đoạn rốn ngành trái
tĩnh mạch cửa, tới gần góc gấp khúc của ngành trái tĩnh mạch cửa thì hợp
với ống hạ phân thùy II, từ phía trên tĩnh mach cùng tên đi tới, để tạo thành

một thân chung ống mật các hạ phân thùy bên-trái (II+III). Thân chung này
tiếp tục hướng sang phải dọc theo phía trên bờ trước đoạn ngang ngành trái
tĩnh mạch cửa, nhận thêm từ phía trước 1-3 ống mật phân thùy (IV) và từ
phía sau 1-2 ống nhỏ của phần lớn thùy đuôi (I), để tạo thành ống gan trái.
Đường mật ngoài gan.
Các đường mật ngoài gan bao gồm ống gan chung được tao bởi ống gan phải
và ống gan trái thoái ra ở cửa gan.
Ống gan chung được tạo bởi sự hợp nhất giữa ống gan phải (dài khoảng
7mm nhận dịch mật từ gan phải) và ống gan trái (dài khoảng 17mm, nhận
dịch mật từ gan trái) ở trước-trên và hơi lệch sang phải chỗ chia đơi tĩnh
mạch cửa. Từ đó ống đi xuống trong cuống gan, bắt chéo trước ngành phải
động mạch gan riêng, trước- phải thân tĩnh mạch cửa, bên phải đông mạch
gan. Dài 2-4 cm, đường kính 5mm.
Túi mật tích lũy mật và ống túi mật nối túi mật với đường mật chính. Túp
mật hình quả lê nằm áp vào hố túi mật ở mặt tạng thùy gan phải, dài 710cm, rộng nhất 3cm, dung tích chứa 30-50ml, gồm 3 phần: đáy, thân, cổ.
Ống túi mật đi từ cổ túi mật tới ống mật chủ, dài độ 3-4cm hẹp ở đầu
(2,5mm) và rộng ở cuối (4-5mm). Ống túi mật thường gặp ống gan chung ở
trên khúc I tá tràng 1-1,5cm và dính vào ống gan chung một đoạn ngắn trước
khi hợp nhất thành ống mật chủ, là đường mật cuối cùng đổ vào tá tràng.
Các ống gan và ống túi mật tạo nên đường mật chính. Túi mật và ống túi
mật là đường mật phụ.

22


Ống mật chủ tạo bởi sự hợp lưu ống gan chung và ống túi mật, thường ở gần
bờ trên tá tràng, chiều dài thay đổi, tùy theo chỗ ống túi mật kết nối với ống
gan chung đường kính 6-8mm, tối đa 10mm. Đường kính to nhỏ khác nhau
theo tuổi, to ở người nhiều tuổi và nhỏ ở người ít tuổi. Đường kính trên màn
hình siêu âm lớn hơn Xquang. Ống có thể dãn ra rất to khi bị tắc ở dưới, hẹp

nhất chỗ tận cùng 2-3mm, rộng nhất ở đoạn sau tá tràng. Từ trên xuống ống
mật chủ đi theo một đường cong hướng về bên phải. Ống mật chủ có 4 đoạn:
trên tá tràng, sau tá tràng, sau tụy và trong thành tá tràng.
Đoạn trên ống mật chủ đi tiếp theo hướng của ống gan chung, chạy chết
xuống dưới, ra sau và hơi sang phải, trong bờ phải mạc nối nhỏ, ở trướcphải tĩnh mạch cửa, bên phải đọng mạch gan riêng. Đoạn dưới bắt chéo ở
sau phần trên (khúc I) tá tràng, cùng đọng mach vị -tá tràng ở bên trái, rồi
chạy trong một rãnh ở sau đầu tụy, đôi khi chui vào sâu hẳn trong mô tụy
theo đường hơi cong sang phải. Ở đây ống mật chủ có thể nằm sát gần thành
tá tràng hay cách xa độ 2cm. Dù ống có nằm xa trong mơ tụy, bằng một
ngón tay tỏ luồn xuống tá tràng và ngón tay cái ở trên đầu tụy, qua đó có thể
phát hiên và lấy sỏi mật.
Tới bờ trái của phần xuống (khúc II) tá tràng , ống mật chủ gặp ống tụy và
cùng ống tụy chui qua thành tá tràng. Hai ống thường hợp lại thành một
bóng tận chung gọi là bóng gan- tụy (bóng Vater).
Bóng tận hết bởi một đầu thắt hẹp, đổ vào khúc II tá tràng ở đỉnh của nhú tá
lớn, cách mơn vị đọ 8-10cm. Quanh bóng có cơ vịng bóng gan- tụy (cơ thắt
Oddi).
Khi khơng có bóng gan-tụy, hai ống có thể đổ chung vào tá tràng bằng một
lỗ hay hai lỗ riêng biệt.
1.2.1 Cơ chế hình thành sỏi.
Tạo sỏi sắc tố có liên quan đến nhiễm vi sinh vật và nhiễm kí sinh
trùng đướng mật. Vi khuẩn từ đường ruột có thể qua cơ thắt Oddi lên đường
23


mật. Cũng có thể theo đường máu về hệ thống cửa rồi vào gan và đường mật.
Vi khuẩn chủ yếu là Escherichia Coli, đôi khi là Bacteroid, Clotridiumsinh
men Beta-Glucuronidase. Men này phá vỡ sự kết hợp của Bilirubin
diglucuronide thành bilirubin tự do khơng hịa tan trong dịch mật. Bilirubin
kết hợp vơi calci tạo thành bilirubinat dưới dạng sỏi bùn hay sỏi vụn. Lâu

ngày sỏi vụn thành sỏi viên. Sỏi viên ngày một nhiều, có khi rất nhiều lấp
đầy đướng mật.
Sỏi nằm trong đường mật gây nhưng thương tổn trong lòng ống mật. Ống
mật bị viêm lâu ngày sẽ bị xơ hóa làm hẹp lịng. Hẹp đường mật gây nhiều
trở ngại khó khăn khi lấy sỏi. Trên chỗ hẹp là những đoạn ống mật dãn, khi
mật bị ứ trệ, pH dịch mật giảm làm tăng hoạt tính của Beta-Glucuronidase,
góp phần tạo sỏi.
Mức sống thấp, sinh hoạt thiếu vệ sinh, thường xuyên tiếp xúc với giun
sán...là yếu tố thuận lợi để sỏi tạo thành.
1.2.2 Vị trí sỏi
Sỏi nằm ở bất cứ vị trí nào của đường mật trong gan hay ngồi gan,
đường mật chính hay đường mật phụ. Theo các cơng trình nghiên cứu trước
đây cũng như sách giáo khoa về sỏi đường mật thì 80-85% nằm trong đường
mật chính. Các cơng trình nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ này gần như bị
đảo ngược cho thấy sỏi nằm ở túi mật. Hai nhận định này trái ngược nhau vì
đa số sỏi túi mật khơng triệu chứng lâm sàng hay có nhưng không rõ rệt,
không đặc hiệu nên không phát hiện, ngày nay chỉ cần siêu âm đã chẩn đốn
được có hay không sỏi túi mật.
1.2.3 Lịch sử sỏi đường mật Việt Nam
Ở Việt Nam, năm 1935 tài liệu đầu tiên về bệnh sỏi đường mật được
Massias đề cập “Phải chú ý đi tìm sỏi mật ở người Việt Nam, những người
nồng độ Cholesterol trong máu không cao”. Ngày 26 tháng 6 năm 1935,
Huard P, Đỗ Xuân Hợp[52] thực hiện kỹ thuật chụp đường mật xuyên gan
24


×