MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................1
1 Lý do chọn đề tài................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu.................................................................................2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu..........................................................................3
3.1 Đối tượng nghiên cứu......................................................................................3
3.2. Phạm vi nghiên cứu........................................................................................4
4 Mục đích và nhiện vụ nghiên cứu......................................................................4
4.1 Mục đích nghiên cứu.......................................................................................4
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................................4
5 Phương pháp nghiên cứu....................................................................................4
6 Đóng góp của đề tài............................................................................................4
7. Bố cục của Khóa luận........................................................................................5
B. NỘI DUNG......................................................................................................6
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 - 1884) VÀ SỰ
BÙNG NỔ CỦA PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG.............................................6
1.1 Khái quát tình hình nước Đại Nam những năm 1858 - 1884..........................6
1.2 Cuộc phản công ở kinh thành Huế của phe chủ chiến và sự bùng nổ của.....11
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử.......................................................................................11
1.2.2 Diễn biến cuộc phản công ở kinh thành Huế.............................................13
CHƯƠNG II: NGUYỄN PHẠM TN VÀ NHỮNG ĐĨNG GĨP CỦA
ƠNG TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG CUỐI THẾ KỶ XIX..........20
2.1 Quê hương, gia đình và những năm tuổi học trị của Nguyễn Phạm Tuân. . .20
2.2 Những đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong phong trào Cần vương......22
2.2.1 Trên cương vị là một tướng lĩnh của lực lượng Cần Vương......................22
2.2.2 Đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trên cương vị là một trong những nhân
vật chủ chốt của Sơn triều Hàm Nghi.................................................................27
2.3 Một số đóng góp khác của Nguyễn Phạm Tuân............................................30
2.3.1 Đóng góp về kinh tế, chính trị trong thời gian làm quan văn từ 1788 –
1884.....................................................................................................................30
2.3.2 Đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân về văn hóa..........................................31
C. KẾT LUẬN...................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................37
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của một q trình học tập và nghiên cứu của tơi. Được
hồn thành nhờ nổ lực của bản thân và sự giúp đỡ, động viên của q thầy cơ, gia
đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc, xin bày tỏ lòng chân thành cảm ơn đến thầy giáo
ThS.Lê Trọng Đại người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, định hướng nghiên cứu cho
tơi trong q trình thực hiện và hồn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Khoa khoa học xã hội đã trực tiếp
giảng dạy tôi trong thời gian qua. Các thầy cô đã truyền dạy cho tôi nhiều kiến thức
và phương pháp tư duy khoa học.
Trong q trình hồn thành luận văn, tơi luôn nhận được sự tạo điều kiện, động
viên, cổ vũ của quý thầy cô ở khoa và đặc biệt là quý thầy cô giảng dạy chuyên môn
lịch sử. Tôi xin ghi nhận sự giúp đỡ q báu đó với lịng biết ơn sâu sắc.
Tôi xin trân trọng cảm ơn thư viện trường Đại học Quảng Bình, thư viện tổng
hợp tỉnh Quảng Bình đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tơi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, xin được bày tỏ lịng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã ln ở bên,
động viên tôi trên bước đường học tập và nghiên cứu.
Tác giả
Trần Thị Lan
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam, các anh hùng hào kiệt trong các
cuộc đấu tranh chống ngoại xâm luôn sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân và mạng
sống của mình để đổi lấy hịa bình, độc lập và tự do của dân tộc. Nguyễn Phạm Tuân
(1842 - 1897), là một trong những tấm gương tiêu biểu nói trên. Những năm cuối đời
Nguyễn Phạm Tuân đã phải trải qua khúc quanh của lịch sử nước nhà. Trong nửa cuối
thế kỷ XIX, nhiều vấn đề phức tạp của lịch sử nhân loại và dân tộc đã liên tiếp xảy ra;
cuộc cách mạng cơng nghiệp lần lượt hồn thành ở các nước Âu - Mỹ; chủ nghĩa tư
bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa càng đẩy mạnh bành trướng và xâm lược
thuộc địa.
Từ tháng 9 năm 1858 đến năm 1884, thực dân Pháp từng bước xúc tiến và hoàn
thành về cơ bản công cuộc xâm lược Việt Nam. Mặc dù đã có những cố gắng nhất định
trong việc tổ chức lực lượng kháng chiến chống ngoại xâm nhưng do thiếu đường lối
đúng đắn nên quân đội triều Nguyễn liên tục thất bại cả trong Nam, ngoài Bắc. Tháng
8 năm 1883, do không chống đỡ nổi cuộc tấn công của quân Pháp tại cửa biển Thuận
An, nhà Nguyễn buộc phải ký với Pháp hòa ước Hắc măng và đến năm 1884 phải ký
kết hịa ước Pa tơ nơt, trao tồn bộ chủ quyền của nước ta cho thực dân Pháp.
Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, nội bộ của triều đình
Huế đã phân hóa thành hai phái: chủ hịa (đầu hàng) và chủ chiến. Chính phong trào
đấu tranh chống Pháp mang tính tự phát của nhân dân đã tác động đến phái chủ chiến
do Tôn Thất Thuyết cầm đầu. Qua một quá trình chuẩn bị lực lượng, lại bị tên tướng
Pháp là De Cuốcxi bức bách. Đêm mồng 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885, nhân
khi các sỹ quan pháp đang say sưa yến tiệc tại tòa Khâm sứ Huế, cuộc nổi dậy ở kinh
đô bắt đầu. Khoảng 1 giờ sáng ngày mồng 5, đại bác của quân Tôn Thất Thuyết từ trên
mặt kinh thành đồng loạt nhả đạn về phía Tịa Khâm sứ và đồn Mang Cá (nơi quân
Pháp đồn trú). Bị đánh bất ngờ và quyết liệt, bọn chỉ huy Pháp phải hạ lệnh cho quân
lính cố thủ chờ sáng. Do trang bị kém, chuẩn bị vội vã nên sức chiến đấu của quân
triều đình giảm dần. Đến khi trời sáng rõ, quân Pháp đã bắt đầu phản công, đánh thẳng
vào nội thành. Quân triều đình Huế tan vỡ, Tơn Thất Thuyết phải bí mật đưa vua Hàm
Nghi ra khỏi hoàng thành rồi xa giá đưa vua đến căn cứ Tân Sở tại Quảng Trị. Tại Tân
Sở, Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi ban dụ Cần vương kêu gọi văn
thân sỹ phu và nhân dân cả nước đứng lên giúp vua đánh Pháp. Đe cuốc xi liền cho
quân đánh chiếm Đồng Hới để chặn đường ra bắc của vua Hàm Nghi. Tân Sở là nơi
1
tương đối cơ lập nên thấy khơng an tồn, Tơn Thất Thuyết đành phải đưa vua Hàm
Nghi sang Lào rồi ra Bắc, rồi vượt đèo Qùy Hợp vào sơn phòng Phú Gia (Hà Tĩnh) rồi
vào thượng du huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) thành lập căn cứ chống Pháp. Hưởng
ứng dụ Cần vương của vua Hàm Nghi, văn thân, sỹ phu yêu nước khắp Trung Kỳ và
Bắc Kỳ hăng hái đứng ra chiêu mộ trai tráng, lập đồn trại kháng Pháp. Trong số văn
thân, sỹ phu yêu nước hưởng ứng phong trào Cần vương, Nguyễn Phạm Tuân đã hăng
hái đứng ra tuyển mộ lực lượng, đến Tuyên hóa ra mắt vua Hàm Nghi và Tôn Thất
Thuyết. Nguyễn Phạm Tuân lập tức được nhà vua phong chức Tán tương quân vụ quân
thứ Quảng Bình và được giao lập căn cứ bảo vệ triều đình Hàm Nghi tại Cổ Liêm.
Sinh ra, lớn lên và tham chính trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động và
phức tạp của lịch sử Việt Nam, Nguyễn Phạm Tuân đã có những đóng góp khá quan
trọng trong phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX. Mặc dù công cuộc Cần vương
chống Pháp cuối cùng thất bại nhưng các yếu nhân lịch sử của phong trào trong đó có
Nguyễn Phạm Tuân vẫn cần được xem xét và đánh giá một cách khách quan và cơng
bằng. Vì vậy chúng tơi thiết nghĩ việc nghiên cứu một cách tồn diện về cuộc đời sự
nghiệp của Nguyễn Phạm Tuân trong phong trào Cần Vương là một việc làm cần thiết.
Từ những lý do đó, chúng tơi chọn vấn đề: “Đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong
phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX” để làm đê tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Qua nghiên cứu tài liệu thành văn chúng tơi thấy có khá nhiều cơng trình cả
trong và nước ngồi nghiên cứu về nhân vật Nguyễn Phạm Tuân ở mức độ khác nhau.
Sau khi tập hợp các các cơng trình nghiên cứu đó, dựa vào nội dung chúng tơi đã chia
chúng thành 2 nhóm với 2 mức độ:
Ở mức độ sơ lược: Học giả nước ngồi có Gosselin với L' Empire de l' Annam;
các nhà nghiên cứu trong nước có các cơng trình nghiên cứu như: Lịch sử Đảng bộ thị
xã Đồng Hới tập 1; Quảng Bình kháng chiến chống thực dân pháp (1945 – 1954);
Nguyễn Thế Hoàn, Lê Thúy Mùi (1992), Lịch sử Quảng Bình (dùng trong nhà trường),
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Bình xuất bản; Trần Bá Đệ (2001), Lịch sử Việt
Nam từ 1858 đến nay, NXB Đại học quốc gia Hà Nội; Phan Trần Chúc (1995) Vua
Hàm Nghi (ký sự lịch sử), NXB Thuận Hóa, Huế.
Ở mức độ nghiên cứu, giới thiệu một cách cụ thể có: Vĩnh Nguyên - Nguyễn Tú
(1997), Danh nhân Quảng Bình Tập 2, Nxb Văn hóa thơng tin đã dành 2 trang giới
thiệu vắn tắt tiểu sử sự nghiệp cuả Nguyễn Phạm Tuân. Lê Trọng Đại (1997), Phong
trào Cần Vương Quảng Bình những nét riêng và chung (từ 1885 đến 1896), Khóa luận
2
tốt nghiệp Cử nhân Sư phạm Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế đã giành gần 4
trang A4 viết về nhân Nguyễn Phạm Tuân. Nguyễn Khắc Thái (2014), Lịch sử Quảng
Bình, NXB Chính trị - Hành chính dành 4 trang viết về Nguyễn Phạm Tuân và hoạt
động của ông trong phong trào Cần vương; Nguyễn Tất Thắng - Nguyễn Văn Sang có
chun khảo “Góp phần tìm hiểu Nguyễn Pham Tuân và phong trào Cần Vương
Quảng Bình gần 6 trang giấy A4 được Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình
giới thiệu trên trang website của Sở. Đặc biệt NCS. Hà Thị Sương trong bài viết
“Thượng tướng Nguyễn Phạm Tuân và phong trào Cần vương Quảng Bình” đã dành
một chuyên khảo 9 trang giới thiệu về thân thế sự nghiệp, kiến giải về việc Nguyễn
Phạm Tuân bị bắt và những đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân được đăng trên trang
điện tử của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình.
Các chuyên khảo đã nghiên cứu đề cập khá sâu đến nhân vật Nguyễn Phạm
Tuân song nhìn chung các cơng trình nghiên cứu trên vẫn chưa làm rõ vị trí lịch sử,
chưa đánh giá một cách tồn diện và hệ thống những đóng góp của ơng cho lịch sử dân
tộc đặc biệt là trong phong trào Cần vương. Trên cơ sở kế thừa cơng trình của những
người đi trước, tác giả cố gắng tái hiện lại bức tranh toàn cảnh về cuộc đời, xác định vị
trí lịch sử và những đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong phong trào Cần vương
cuối thế kỷ XIX một cách toàn diện và hệ thống.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu các đối tượng sau đây:
- Hoàn cảnh lịch sử nước ta nửa sau thế kỷ XIX.
- Quê hương và gia đình của Nguyễn Phạm Tuân
- Cuộc đời, vị trí và sự nghiệp của Nguyễn Phạm Tuân trong Lịch sử.
- Những đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong phong trào Cần Vương
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: căn cứ vào phạm vi hoạt động của Nguyễn Phạm Tuân chúng
tôi xác định không gian nghiên cứu là khu vực 2 tỉnh: Hà tĩnh và Quảng Bình đặc biệt
là khu vực từ Đồng Hới đến Minh Hóa.
+ Về thời gian: khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu thời gian Nguyễn Phạm
Tuân sống và hoạt động trong thế kỷ XIX.
4 Mục đích và nhiện vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là trình bày một cách tồn diện và hệ
thống những “Đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong phong trào Cần vương cuối thế
kỷ XIX”.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung giải quyết những
nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất: tái hiện lại bối cảnh lịch sử Việt Nam từ 1858 - 1888
Thứ hai: giới thiệu một cách chi tiết cụ thể cuộc đời sự nghiệp Nguyễn Phạm
Tuân và những đóng góp của ơng cho lịch sử trong phong trào Cần Vương cuối thế kỷ
XIX.
5 Phương pháp nghiên cứu
- Thực hiện đề tài tác giả đứng trên quan điểm phương pháp luận duy vật lịch sử
và lập trường quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lịch sử. Đồng thời chúng tôi
sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết trong đó chủ yếu sử dụng hai phương
pháp của chuyên ngành lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgich đồng
thời kết hợp một số phương pháp liên ngành bổ trợ như: tổng hợp, phân tích, thống kê,
xác minh tài liệu để khai thác thơng tin phục vụ cho đề tài.
- Phương pháp điền giã dân tộc học để tập hợp tài liệu ở địa phương.
6 Đóng góp của đề tài
+ Về mặt lý luận:
Khóa luận sẽ tập trung giới thiệu làm rõ cuộc đời sự nghiệp và những đóng góp
của Nguyễn Phạm Tuân trong phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX. Thực hiện
Khóa luận còn giúp tác giả hiểu rõ hơn về lịch sử Quảng Bình và lịch sử Việt
Nam cận đại
+ Về mặt thực tiễn:
- Thực hiện Khóa luận bước đầu giúp tác giả làm quen với việc nghiên cứu khoa
học.
- Khóa luận đã tập hợp được một thư mục tài liệu khá phong phú về Thượng
Tướng Nguyễn Phạm Tuân và phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX cho những ai
quan tâm đến đề tài này.
7. Bố cục của Khóa luận
Ngồi phần mở đầu, nội dung và kết luận thì bố cục của Khóa luận được trình
bày trong 2 chương.
Chương 1: Bối cảnh Lịch Sử Việt Nam (1858 – 1884) và sự bùng nổ của phong
trào Cần Vương.
1.1 Khái quát tình hình nước Đại Nam trong những năm 1858 – 1884
1.2 Cuộc phản công ở kinh thành Huế của phe chủ chiến và sự bùng nổ của
phong trào Cần Vương (tháng 7/1885)
Chương 2: Nguyễn Phạm Tuân và những đóng góp của ông trong phong trào Cần
Vương cuối thế kỷ XIX.
2.1 Quê hương, gia đình và những năm tuổi học trị của Nguyễn Phạm Tuân
4
2.2 Những đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong phong trào Cần vương cuối
thế kỷ XIX
2.2.1 Đóng góp trên cương vị thủ lĩnh của lực lượng Cần Vương Quảng Bình
2.2.2 Đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trên cương vị là một trong những nhân
vật chủ chốt của Sơn triều Hàm Nghi.
2.3 Một số đóng góp khác của Nguyễn Phạm Tuân
2.3.1 Đóng góp về kinh tế và chính trị trong thời gian Nguyễn Phạm Tuân làm
một quan văn (1788 – 1884).
2.3.2 Đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân về văn hóa
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 - 1884) VÀ SỰ BÙNG NỔ
CỦA PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG
1.1 Khái quát tình hình nước Đại Nam những năm 1858 - 1884
Sau hơn 50 năm cầm quyền (tính đến trước ngày thực dân Pháp nổ súng xâm
lược), nhà Nguyễn đã không giúp được đất nước phát triển vững mạnh mà ngược lại
đã làm cho tình hình đất nước tiếp tục lâm vào khủng hoảng. Triều Nguyễn không thiết
lập được mối quan hệ gắn bó với nhân dân, chỉ lo tập trung chủ yếu vào việc giữ vững
vương quyền, củng cố quyền lợi giai cấp thống trị. Hơn nữa, nhà Nguyễn lại dựa vào
một hệ tư tưởng lạc hậu cùng với mô hình kinh tế xã hội khơng cịn thích hợp nên đã
cản trở sự phát triển của đất nước.
Đối diện với cuộc xâm lược của Pháp, chế độ phong kiến Việt Nam lại càng
lâm vào tình trạng lúng túng vì tiềm lực dân tộc đã bị suy giảm nghiêm trọng, tình
trạng đất nước đến thời điểm này đã khủng hoảng trầm trọng về nhiều măt.
- Về kinh tế:
+ Nơng nghiệp
Tình hình ruộng đất: ở nữa đầu thế kỷ XIX, tình hình ruộng đất - tư liệu sản
xuất chính của nơng nghiệp và là nền tảng kinh tế chủ yếu của xã hội đặt ra hàng loạt
khó khăn. Chẳng hạn, năm 1803, quan lại Bắc thành tâu: “Ruộng đất… thì đến cuối
thời Lê, bọn cường hào kiêm tính mỗi ngày một quá. Nay xin phàm ruộng đất công tư
đều dồn cả về sổ dân, ai có tư điền thì để lại ba phần, còn bảy phần giao cho xã dân
quân cấp. Lại ở trong số quân cấp thì để lại 2/10 chờ cấp cho dân mới về sau” hoặc
5
“Từ loạn Tây Sơn bỏ hết luật cũ, dân gian nhiều người đổi ruộng cơng làm ruộng tư,
cũng có kẻ tạ sự việc công mà cầm bán ruộng công…”. Hơn nữa, do sổ sách mất mát
“cách ghi chép không được thực”, “dân xiêu tán nhiều, ruộng đất bị làng bên chiếm
đoạt” vv… Từ năm 1803 - 1818, Gia Long cho tiến hành một đợt đo đạc ruộng đất lập
“địa bạ” các xã. Trãi qua nhiều lần làm đi làm lại, năm 1820, bộ Hộ chính thức báo
cáo: Tổng diện tích ruộng đất của cả nước là 3.076.300 mẫu và 26.750 khoảnh. Thời
Minh Mạng, sau nhiều lần lập thêm địa bạ các xã chưa làm và đặc biệt sau đợt đo đạc
ruộng đát Nam Kỳ năm 1836, bộ Hộ đã cho con số (1840): Tổng diện tích rng đất
thực canh là 4.063.892 mẫu, trong đó tổng diện tích ruộng là 3.396.584 mẫu công tư
tức 17%. Nạn chấp chiếm ruộng đất của địa chủ đối với ruông đất công và ruộng đất
của nông dân ở các thế kỷ vẫn không được khắc phục mà càng trầm trọng hơn đã đẩy
nông dân nghèo vào cảnh bần cùng “không một tấc đất cắm dùi” phải bỏ làng xóm đi
phiêu tán, hoặc cày thuê cuốc mướn ruộng đất của địa chủ phong kiến.
Kinh tế nông nghiệp thời Nguyễn đã có một số mặt phát triển hơn các thế kỷ
trước (về kỹ thuật) nhưng vẫn không vượt ra khỏi phương thức sản xuất phong kiến cổ
truyền, thiên tai, mất mùa dịch bệnh xảy ra liên miên đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sống
của nhân dân. [ 6; 450]
+ Về công nghiệp:
Cũng như các triều đại trước, bộ phận thủ công nghiệp nhà nước thời Nguyễn
giữ một vị trí rất quan trọng. Năm 1803, Gia Long cho lập xưởng đúc tiền ở Thăng
Long “Bắc Thành tiền cục”. Từ 1812, nhà Nguyễn cho đúc thêm tiền kẽm, giao cho
thương nhân Trung Quốc quản lĩnh theo quy thức nhà nước, cứ 130 quan tiền mới đúc
thì đổi 100 quan tiền đồng trong kho. Thủ công nghiệp nhân dân vẫn bị chính sách
cơng tượng của nhà nước kìm hãm nên không phát triển lên được.
Đặc biệt là năm 1839 sau một lần thất bại, các đốc cơng Hồng Văn Lịch, Vũ
Huy Trịnh cùng thợ cơng xưởng đóng xong chiếc thuyền máy chạy bằng hơi nước và
Minh Mạng đã đến cầu Ngự Hà xem chạy thử “thấy máy móc linh động, thả chạy
nhanh nhẹ”. Tiếp theo thành cơng đó, Ming Mạng lại cho thợ theo mẫu tàu chạy bằng
máy hơi nước loại lớn mới mua về để đóng một chiếc khác kiểu mới hơn và sửa chửa
một chiếc khác bị hỏng như vậy là với sự ra đời của các tàu máy đầu tiên, Việt Nam đã
đi vào kỷ nguyên của cơ khí. Tiếc rằng thành tựu đáng q này khơng được các triều
vua sau phát huy. Ngành công nghiệp vẫn trong tình trạng nghèo nàn các ngành khai
6
mỏ đã ra đời nhưng kỹ thuật khai thác vẫn mang tính thủ cơng, lạc hậu với quy mơ
nhỏ.
+ Về thương nghiệp:
- Nội thương: chính sách “trọng nơng ức thương” của triều đình đã kìm hãm, và
hạn chế sự phát triển của thương nghiệp. Một mặt nhà nước nắm độc quyền buôn bán
nguyên liệu công nghiệp, mặt khác đặt ra nhiều luật lệ chặt chẽ để kiềm chế, đánh thuế
nặng vào các mặt hàng thiết yếu đến đời sống của nhân dân.
- Ngoại thương: nhà Nguyễn thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, chỉ mở
một số ít cửa biển cho tàu nước ngồi lui tới bn bán, chỉ được nhập vào những hàng
hóa triều đình cần; lại cấm tàu thuyền nước ngồi khơng được mua tơ lụa. Trước khi
lâm chung Gia Long dặn dị Minh Mạng rằng “khơng được cho họ (tức người pháp)
một điều kiện ưu tiên nào cả, rằng sẽ sinh tai họa về sau”. Các vua Nguyễn lo sợ sự
xâm lược của phương Tây nên đã thi hành chính sách đóng cửa hạn chế giao thương
do đó mặt tích cực của kinh tế hàng hóa bị triết tiêu dẫn tới sự sa sút của nông nghiệp,
thủ cơng nghiệp.
+ Về quốc phịng:
Qn đội nhà Nguyễn là một quân đội đông đảo. Ngay từ đầu, các vua Nguyễn
đã đặt phép giản binh, tùy từng vùng mà lấy lính theo tỷ lệ khác nhau:
- Từ Quảng Bình đến Bình Thuận: 3 đinh lấy một lính.
- Từ Biên Hịa trở vào: 5 đinh lấy một lính.
- Từ Hà Tĩnh trở ra 5 nội trấn Bắc thành: 7 đinh lấy một lính.
- 6 ngoại trấn Bắc thành: 10 đinh lấy một lính.
Kinh đơ có thân binh, cấm binh và tinh binh. Các trấn có lính cơ, lính mộ. Lại
đặt thêm biền binh (chia 3 phiên, luân lưu 2 phiên về quê, một phiên tại ngũ). Ngồi
ra có 6 vệ thủy binh đóng tại kinh thành và các cơ thủy binh đóng ở các hải khẩu. Sang
thời Minh Mạng, tổ chức binh chế được hoàn thiện gồm đủ các binh chủnh: bộ binh,
thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo binh.
Ngoài bộ binh gồm kinh binh đóng giữ kinh thành và cơ binh của từng tỉnh,
tượng binh thực sự trở thành một binh chủng mạnh từ thời Minh Mạng. Tượng binh
được phân bố như sau:
- Bắc thành: 3 cơ, mỗi cơ 10 đội, 750 lính, 110 thớt voi.
- Gia Định thành: 10 đội, 500 lính, 75 thớt voi.
7
- Bình Định: 4 đội, 200 lính, 30 thớt voi.
- Nghệ An: 3 đội, 150 lính, 21 thớt voi.
- Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa: mỗi tỉnh 2 đội, 100 lính, 15 thớt voi.
- Quảng Trị, Phú n, Bình Hịa, Bình Thuận, Ninh Bình: mỗi tỉnh 1 đội, 50
lính và 7 thớt voi.
- Kinh đô: 3 vệ, mỗi vệ 10 đội, 15.000 lính, 150 thớt voi. Như vậy, số voi chiến
thời Minh Mạng ước khoảng 450 thớt.
Tóm lại, quân đội thời Nguyễn rất đông, hùng hậu nhưng lại chỉ chủ yếu được
huấn luyện để đi trấn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, dập tắt những phong trào đấu
tranh của dân chúng chứ không huấn luyện nhiều để chiến đấu trên chiến trường chính
quy. Thêm vào đó, tàu chiến ít, lực lượng lính thủy lại khơng chun nghiệp, hầu hết là
tay ngang, khơng chịu được sóng gió trên biển. Binh khí thì thơ sơ, chủ yếu là dao,
gươm, đại bác và súng trường có ít và lại rất lạc hậu.
+ Về chính trị:
- Đối nội: Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức
chỉ ra sức tăng cường chế độ quân chủ chuyên chế nhằm duy trì quyền thống trị lâu dài
của dịng họ. Nhà nước phong kiến thời Nguyễn mang nặng tính bảo thủ, ngại đổi mới,
nên đã gạt bỏ nhiều đề nghị cải cách của một số quan lại và sỹ phu. Để ăn chơi xa xỉ
giai cấp phong kiến từ trung ương đến địa phương đã ra sức bóc lột nhân dân. Nổi bật
nhất trong xã hội lúc này là nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của địa chủ, nạn
tham nhũng của quan lại, cường hào. Thêm vào đó là các chế độ tô thuế và lao dịch
nhiều khi trở thành gánh nặng khắc nghiệt đối với thần dân.Nông dân thời Nguyễn vẫn
nộp tô thuế ruộng đất bằng hiện vật, nhưng gặp năm mất mùa khơng đủ lúa đóng thuế
thì nhà nước muốn tránh thất thu đã cho nộp thay bằng tiền (gọi là “đại nạp”), và thực
tế đã đẩy nông dân vào cảnh bần cùng. Lê Văn Duyệt đã từng than: “Lệ thuế hơi nặng,
dân lấy làm khổ”; một thừa sai người Pháp (Guérard) nhận xét: “Vua Gia Long bóp
nặn dân chúng bằng đủ mọi cách, sự bất cơng và lộng hành làm cho người ta rên xiết
hơn cả ở thời Tây Sơn; thuế má và lao dịch thì tăng lên gấp ba” v.v
Riêng về chế độ lao dịch, một số người nước ngoài chứng kiến tận mắt cảnh
tượng xây thành đắp lũy, đào kênh.. ở thời Nguyễn - đặc biệt việc xây thành Phú Xuân
và đào kênh Vĩnh Tế - đều tỏ ra ngạc nhiên trước cường độ lao động căng thẳng của
hàng ngàn hàng vạn dân phu.
8
Đối với Pháp, có khơng ít người cho rằng vua Gia Long rộng rãi với Thiên Chúa
giáo, chủ trương cấm đạo này chỉ bắt đầu từ thời Minh Mạng. Ý muốn nói vua kế vị đã
đi ngược lại ý định tốt đẹp của vua Gia Long trong lĩnh vực này. Nhưng thực tế cho
chúng ta một cái nhìn khác hẳn: Ngay khi còn dựa vào các thừa sai và người Pháp để
đánh Tây Sơn, trong thâm tâm chúa Nguyễn Ánh đã bắt đầu nghi ngờ gờm sợ chính
những người đang giúp đỡ mình..
Năm 1836 và 1838 lại ban thêm các chỉ dụ cấm đạo. Tiếp theo các chỉ dụ là
những vụ đàn áp giáo sỹ và giáo dân. Theo tinh thần của các chỉ dụ này thì bất cứ giáo
sỹ phương Tây nào bị bắt trên tàu ngoại quốc lén vào nội địa đều bị xử tử, bất cứ địa
phương nào phát hiện được giáo sỹ hoạt động lén lút thì quan địa phương nơi đó cũng
bị xử tử. Các vua Thiệu Trị, Tự Đức tiếp tục ban hành các chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa.
Kế hoạch xâm lược nước ta của thực dân Pháp đã rõ rệt nhưng triều đình Tự Đức
vẫn thi hành chính sách cấm đạo. Việc trấn áp giáo sỹ và giáo dân còn diễn ra dữ dội
hơn cả thời Minh mạng. Tháng 8 năm 1848, Tự Đức ban chỉ dụ cấm đạo lần thứ nhất,
ra lệnh ban thưởng 30 nén bạc cho kẻ nào bắt được một giáo sỹ. Những giáo sỹ
phương Tây bị tội nặng thì xử theo hình phạt buộc đá vào cổ và vứt xuống biển. Đối
với các giáo sỹ bản xứ nếu khơng chịu bỏ đạo thì phải khắc chữ vào mặt và đày đi
những vùng nước độc.
Bộ máy quan lại thời Nguyễn nói chung khơng cồng kềnh cũng khơng đơng đảo,
song khơng vì thế mà bớt tệ tham nhũng. Năm 1807, Senho (người Pháp) đã nhận xét:
“dân chúng vô cùng đói khổ, vua quan bóc lột thậm tệ. Cơng lí là nột món hàng mua
bán, kẻ giàu có thể cơng khai sát hại người nghèo và tin chắc rằng với thế lực đồng
tiền, lẽ phải sẽ về tay chúng”. Năm 1811 vua Gia Long dụ đã ra đạo dụ: Nghiêm cấm
lại dịch và kẻ giữ kho không được kiếm cớ làm khó dễ dân để yêu sách, nếu để tai hại
cho dân thì giết khơng tha” [6; 441]
- Về đối ngoại:
Với nhà Thanh: các vua Nguyễn trước sau giữ thái độ “thần phục” mù quáng.
Ngay sau khi kéo quân ra Thăng Long (1802), chúa Nguyễn Ánh sai sứ sang nhà
Thanh cầu phong, nhưng đến năm 1804 vua nhà Thanh mới cử sứ sang tuyên phong
cho vua Gia Long tại Thăng Long và định lệ 3 năm nộp cống một lần. Nhiều chính
sách, thiết chế chính trị, tư tưởng, văn hóa xã hội… của nhà Thanh được các vua
Nguyễn tiếp thu, vận dụng, coi như những mẫu mực trị nước.
9
Với các nước láng giềng như Ai Lao, Chân Lạp nhà Nguyễn thi hành chính sách
nước lớn, lấn át, buốc các nước này phải lệ thuộc.
Với các nước phương Tây nhà Nguyễn thi hành chính sách ”bế quan tỏa cảng”
khước từ các đề nghị mở cửa giao thương buôn bán, từ chối các đề nghị xin mở cơ
quan lãnh sự lập quan hệ ngoại giao của các nước phương Tây. Mặt khác chính sách
cấm đạo đối với giáo dân sát đạo đối với giáo sỹ đã tạo cớ cho tư bản Pháp và Tây Ban
Nha đưa quân xâm lược.
Những hành động cấm đạo, sát đạo của vua Tự Đức diễn ra giữa lúc những
điều kiện xâm lược của thực dân Pháp đã chín muồi. Bởi vậy khi giám mục Pellerin đề
xuất việc can thiệp bằng vũ lực vào Việt Nam thì lập tức được hầu hết các tầng lớp
trong chính giới và quân đội Pháp ủng hộ. Kết quả là ngày 22/04/1857, Naponéon III
quyết định thành lập “Hội đồng Nam Kỳ” nhằm xét lại hiệp ước Versailles năm 1787,
với âm mưu dựa vào các văn kiện này để ép Nước Đại Nam phải mở cửa biển cho tư
bản Pháp và chấm dứt chính sách cấm đạo, cho giáo sỹ phương Tây được tự do truyền
đạo. Vì phía Pháp khơng thực hiện được những cam kết trong nội dung Hiệp ước Véc
xay nên tháng 7/1857, Naponéon III đã thông qua quyết định vũ trang xâm lược nước
ta.
Ngày 31 tháng 8 năm 1858, liên quân tư bản Pháp và Tây Ban Nha nổ súng xâm
lược nước ta tại Đà Nẵng. Từ Đà Nẵng quân Pháp vào đánh chiếm Nam Kỳ (18591867); Bắc kỳ 1873 – 1874 và 1982-1883; đánh chiếm cửa Thuận An tháng 8 năm
1883. Sau những thất bại liên tiếp và bị uy hiếp nghiêm trọng khi Pháp chiếm của biển
Thuận An Triều đình Nguyễn phải ký kết Điều ước Hác măng (25/8/1883) và Điều ước
Patonoot (6/6/1884) trao chủ quyền nước ta cho Pháp. Như vậy đến năm 1884, về cơ
bản Tư bản Pháp đã hồn thành cơng cuộc xâm lược nước ta và chuẩn bị tiến hành
việc bình định để thiết lập ách thống trị và bóc bột.
+ Về xã hội: Kể từ năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, tái lập lại chế
độ phong kiến đại diện cho thế lực địa chủ phong kiến lỗi thời nên nhà Nguyễn đã thi
hành hàng loạt chính sách đối lập gay gắt với nhân dân. Do đó mâu thuẫn cơ bản của
xã hội là giữa nông dân với địa chủ phong kiến (mà vương triều Nguyễn đại diện) càng
thêm gay gắt đã dẫn tới sự bùng nổ phong trào khởi nghĩa nơng dân rầm rộ, quyết liệt
chỉ tính riêng 50 năm đầu đã có gần 500 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ nổ ra. Rõ ràng, chính
sách của triều Nguyễn đã làm cho nước cho dân “sức mòn, lực kiệt”, lại thi hành chính
10
sách cấm đạo, sát đạo đối với Thiên chúa giáo đã làm mâu thuẫn lương giáo phát triển.
Nội bộ chia rẽ, đặt dân tộc ta vào thế bất lợi trước cuộc xâm lược vũ trang của pháp [8;
5]
1.2 Cuộc phản công ở kinh thành Huế của phe chủ chiến và sự bùng nổ của
phong trào Cần Vương
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử
Với hai bản hiệp ước Hác măng (1883) và Pa tơ nốt (1884), thực dân Pháp đã
hoàn thành cơ bản cuộc xâm lược nước ta. Sau đó, chúng chuyển sang thực hiện chính
sách “Bình định”, tăng cường lực lượng qn sự, tiến hành những cuộc hành quân triệt
hạ các căn cứ khánh chiến của nhân dân ta có từ trước hoặc vừa mới hình thành ở các
địa phương, chiếm giữ những vị trí cịn lại ở vùng biên giới Việt – Trung khi quân
thanh rút khỏi bắc kỳ, ra sức xiết chặt bộ máy kìm kẹp, trong đó có việc trù khử phái
chủ chiến ở triều đình do Tơn Thất Thuyết , một nhân vật chủ chốt của hội đồng phục
chính đứng đầu. Tướng Đờ Cuốcxi, trong tháng 6 – 1884, được chính phủ Pháp cử
nắm tồn bộ quyền qn sự và chính trị trên cả nước.
Mặc dù vậy, trong triều đình Huế, phái chủ chiến đứng đầu là Tơn Thất Thuyết
vẫn ngầm chuẩn bị chống Pháp, ấp ủ hi vọng khôi phục chủ quyền dân tộc khi thời cơ
tới. Để chuẩn bị cơ hội cho cuộc kháng chiến lâu dài, Tơn Thất Thuyết bí mật cho
người lien kết với sỹ phu, văn thân, hào kiệt các tỉnh, bí mật cho xây dựng căn cứ Tân
Sở trên miền rừng núi tỉnh Quảng Trị, chờ lực lượng và súng đạn, cả khối lượng lớn
vàng bạc dự trữ của triều đình ra đấy, phịng khi có biến cố thì đưa vua và triều đình ra
cố thủ. Một số đồn Sơn Phịng cũng được xây dựng ở các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh,
Nghệ An, Thanh Hóa…. Ơng cịn lập ra các đội qn “ Đoàn Kiệt”. “Phấn Nghĩa”
ngày đêm luyện tập chờ ngày sống mãi với qn thù.
Cơng việc cần kíp nhất đối với Tơn Thất Thuyết là tìm cho được một người có
tinh thần chống Pháp để đặt lên ngơi vua, cơ lập và gạt bỏ phái chủ hòa và bọn phản
động đang ráo riết hoạt động trong triều đình với sự che chở của Đờ Cuốc xi. Trong
vòng hơn một năm kể từ khi vua Tự Đức mất (7 – 1883), lần lượt ba vua (Dục Đức,
Hiệp Hòa, Kiến Phúc) bị phế truất, rồi bị trừ khử vì có quan hệ mờ ám với thực dân
Pháp. Cuối cùng Tôn Thất Thuyết đưa Ưng Lịch lên ngôi vua với niên hiệu Hàm Nghi
(2 – 8 – 1884).
11
Khâm sứ Pháp ở Huế không được hỏi ý kiến về việc đưa Ưng Lịch lên ngôi
vua, nên gửi thư phản kháng triều đình Huế đã vi phạm các điều ước vừa ký . Đông
thời một đọi quân Pháp được điều từ bắc kỳ vào Huế để thị uy và ngang nhiên chiếm
đồn Mang Cá ở góc Đơng Nam Hồng Thành, từ đó có thể kiểm sốt mọi hoạt động
của lực lượng chống Pháp bên trong thành.
Ngày 1 – 7 – 1885, De Cuốc xi vừa đặt chân tới Huế đã tuyên bố: “Đoạn chót
của mọi việc là ở Huế”, rồi trắng trợn đòi vua Hàm Nghi phải treo cờ Pháp trong thành
nội, phải bắn đại bác chào mừng y và mử cửa Ngọ Mơn cho qn lính của y đi vào.
Cuốc Xi còn đòi giải tán đội quân cơ động của lực lượng chủ chiến trong triều đình [8;
18]
1.2.2 Diễn biến cuộc phản công ở kinh thành Huế
Ngày 4 tháng 7 (tức 22 tháng 5 âm lịch), Tôn Thất Thuyết lệnh cho binh sĩ đặt
đại bác hướng về phía tòa Khâm Sứ và đồn Mang Cá là hai địa điểm đóng quân của
địch. Gần tối, Trần Xuân Soạn lần lượt cho đóng hết các cửa thành và đặt thêm súng
thần cơng ở phía trên. Đêm đó, Tơn Thất Thuyết bí mật chia quân ở các dinh vệ làm
hai đạo; một đạo giao cho em là Tôn Thất Lệ chỉ huy, nửa đêm dùng đị vượt Sơng
Hương, sang hợp cùng với quân của Đề đốc thủy sư và Hiệp Lý đánh úp Tòa Khâm
sứ. Ngay trong đêm, họ đã phối hợp cùng 5.000 thủy binh của triều đình ở các trại dọc
bờ sông để nổ súng tấn công. Pháo binh ở đông nam kinh thành Huế cũng nổ súng
yểm trợ cho đội quân này.
Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn ở bên này sơng, chỉ huy đánh
vào Trấn Bình Đài; nhằm tiêu diệt đội quân tiếp viện của Pháp mới từ miền Bắc vào
đang trú đóng ở đây. Ơng cịn cử một toán quân mai phục ở cầu Thanh Long, đề phòng
Đại tá Pernot là người chỉ huy đội quân ở Mang Cá và các sĩ quan thuộc hạ ở Tịa
Khâm Sứ về, qua cầu này thì đánh úp ngay [5]. Tơn Thất Thuyết chỉ huy đội qn thứ
ba, đóng ở Hậu Bộ phía sau Đại nội vừa làm nhiệm vụ trợ chiến vừa làm dự bị.
Đêm 4, sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, trong khi người Pháp khao thưởng
qn đội thì vào một giờ sáng Tơn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn cho bắn một phát
đại bác làm hiệu lệnh để nhất tề tấn cơng vào Trấn Bình Đài, trong khi đó, bên kia
sơng, Tơn Thất Lệ chỉ huy qn cũng đồng loạt tấn cơng vào Tịa Khâm Sứ và Sứ
Quán Pháp. Tiếng đại bác vang động khắp kinh thành.
12
Quân Pháp bị bất ngờ nhưng vẫn giữ thế thủ để chờ buổi sáng. Họ ẩn núp
trong trại không chịu ra ngoài trong khi đại bác quân Nguyễn bắn sập mái nhà và
lầu tịa Khâm Sứ. Cịn phía đồn Mang Cá thì thậm chí Trần Xn Soạn đã dùng cả tù
nhân được sung binh đi phóng hỏa trại quân Pháp. Quân Nam hò reo và liên tục bắn
súng. Nhà cửa trong Tịa khâm sứ cháy tứ tung, khói lửa bốc lên ngùn ngụt, thiêu cháy
nhiều trại lính, chuồng ngựa. Quân Nam quyết tràn vào chiếm Tịa, một tốn qn
Pháp do trung úy Boucher nổ súng chống cự, ngăn chặn quân Nam tràn vào. Lính
Pháp đang ngủ, chợt thức dậy, kẻ bị bắn, kẻ bị chết cháy, số bị thương khá nhiều. Một
số sóng sót chạy ra vơ lấy súng ống, mình trần như nhộng, nhiều người khơng kịp mặc
áo. Họ được lệnh tập trung ở một địa điểm xa tầm đạn của quân Nam. Tòa Khâm sứ và
đồn Mang Cá cách xa 2.500m và ngăn cách bằng dịng Sơng Hương, vì thế họ khơng
thể cứu viện lẫn nhau. Về tình hình ở Tịa khâm sứ:
"Một trong những phát đạn đại bác bắn từ ổ pháo phía Đơng đã làm thủng mái
và nền nhà của nhà Phái bộ (tức Tòa Khâm sứ).
Các trại lính của đại đội 27 và 30 của Tiểu đoàn 4 Thủy quân lục chiến bị
cháy cùng một lúc với chỗ để đồ đạc của Phái bộ và các nhà hậu cần. Binh lính chạy
đến bức tường bằng cửa phía trước của tịa nhà đối diện với trại binh. Ơng De Courcy
chỉ huy 160 người, bố trí cứ một cửa sổ hai người, biến ngôi nhà thành một pháo đài.
Hàng loạt đạn súng trường bắn ra nhưng quan trọng nhất là sáu cỗ đại bác ở góc
đơng của Kinh thành đã cầm chân 1500 quân tấn công không có nhiều súng ống và ở
cự ly xa. Cũng may là căn nhà để điện thoại ở cách xa nhà phái bộ 300m không bị
đạn, nhờ vậy mà De Courcy có thể liên lạc với đồn Thuận An. Ơng bị kẹt trong gian
nhà chính giữa rất lo cho số phận của đồn Mang Cá. Đến sáng thì khẩu đội pháo gồm
hai khẩu đại bác của quân Triều đình Huế hướng nịng về phía Tây nhà phái bộ Pháp
đã bị một trung đội thủy quân lục chiến Pháp tiến đánh tập hậu và chiếm được
Khi mặt trời hé mọc, quân Pháp phản cơng. Họ chở súng lên đài và nóc tàu
bắn qua hạ được quân Nguyễn rất nhiều, Hoàng thành và cung điện nhiều nơi bị phá
hủy. Pháo hạm Javelin cấp tập bắn dọn đường cho bộ binh Pháp phản công. Dưới sự
chỉ huy của Pernot, quân Pháp chia quân làm 3 cánh để tiến vào kinh thành. Họ xung
phong từng đợt một, chiếm lĩnh các vị trí cửa chắn then chốt, để tràn vào các cửa Đông
Ba, Thượng Tứ, Chánh Đơng, Chánh Tây, An Hịa… Một tốn từ Cửa Trài phá cầu
Thanh Long, vượt sông Ngự Hà tiến vào Lục Bộ, cố tấn công cửa Hiển Nhơn để mở
13
đường vào Đại Nội. Toán quân thứ hai vượt Cầu Kho, tấn công quân Nam đang tử thủ
ở vườn Thượng Uyển, đồng thời cũng để tiếp ứng cho toán quân đang tìm cách phá vỡ
cửa Hiển Nhơn (cửa phía Đơng vào Đại Nội).
Bị bất ngờ phản côngi, ban đầu quân Nam chống cự rất anh dũng, bắn thủng
ruột thiếu úy Pellicot. Các vọng lâu được sử dụng làm pháo đài, trên thành, quân Nam
bắn xuống xối xả. Quân Pháp đánh vào một pháo đài có chứa thuốc súng, nhưng pháo
đài bốc cháy, một toán quân Phi và một chỉ huy bị nổ tung, chết cháy ngay tại trận.
Về bên phía Tịa Sứ, đồn qn của Cheroutre cũng tiến sang... Họ cố tràn lên,
nhưng bị quân Nam nổ súng chặn lại. Trung úy Lacroix bị thương; thiếu úy Heitschell
khi sắp qua cầu thì một thùng thuốc súng phát nổ, bị chết cháy tại chỗ. Cuối cùng,
quân Pháp cũng tiến được vào thành, cùng lúc đó, quân của Bornes và Sajot cũng vừa
tiến vào. Trước sự phản công của quân Pháp, quân triều đình khơng giữ được thành, cả
hai đạo qn của triều đình ở bên trong và bên ngồi chống khơng nổi, tan vỡ, tháo
chạy về phía Lục Bộ và tràn ra cửa Đơng Ba. Tại đây đã họ bị tốn quân của Pháp từ
phía Cửa Trài tiến lên bao vây. Cuộc giết chóc tàn bạo chưa từng có đã xảy ra: hơn
1.500 người dân và binh lính triều đình đã ngã xuống trong đêm hơm đó vì bị trúng
đạn của Pháp, hay một số do chen lấn, giẫm đạp lên nhau khi cố vượt ra khỏi Kinh
thành. Hầu như không có gia đình nào khơng có người bị tử nạn trong đêm binh biến
này.
Quân Pháp tiến được vào thành, họ hạ cờ triều đình Huế xuống, treo cờ tam tài
lên kỳ đài. Sau đó, họ tiếp tục tiến vào Đại Nội, rồi ra sức đốt phá, hãm hiếp, giết chóc,
cướp bóc khơng từ một ai. Một tốn qn Pháp đốt trụi trụ sở Bộ Lại, Bộ Binh và các
kho thuốc súng. Quân Pháp chia nhau chiếm giữ các kho tàng, cung điện, thu được
nhiều vàng bạc và số tiền hơn một triệu quan, là số tiền mà triều đình khơng kịp mang
đi... Trưa hơm đó, họ chia nhau đi đốt hoặc vùi lấp những thi hài của quân và dân Nam
chết trong trận đánh.
Nguyễn Văn Tường thấy thế nguy liền vào Đại nội yêu cầu nhà vua xuất cung.
Hữu quân Hồ Văn Hiển phị giá, đưa Hồng gia ra cửa tây nam. Từ Dũ Thái hậu ủy
Tường ở lại lo việc giảng hòa; Thuyết chạy kịp theo, lực lượng đi theo cịn chừng trăm
người. Đúng là:
“Xót nghĩ kinh thành thất thủ oán kết một đau
Sầu lo xa giá chạy dày hằn sâu răng nghiến”
14
Pháp tuy chiếm được kinh thành nhưng quyền hạn không vượt ra ngồi giới hạn
đó. Sự thật là đằng sau trận Đờ Cuốc Xy vơ cùng bối rối vì “cuộc đổ máu ngày 5 tháng
7 đã biến đổi tất cả xứ An Nam, vị vua trẻ đã rời khỏi kinh thành, ở Huế khơng cịn
chính phủ, chính quyền, khơng cịn ai để thi hành các điều ước”[2; 9]
+ Khái quát về phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX
Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi ban ra như một mồi lửa ném vào đống rơm
khô làm bùng lên ngọn lửa chông Pháp khắp cả nước. Tiếng gọi kháng Pháp của ông
vua trẻ tuổi ấy đã đáp ứng nguyện vọng tha thiết của tồn dân khiến lịng người rung
động. Phong trào Cần Vương cả nước từ 1885 đến 1896 có thể chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất từ 1885 đến 1888; phong trào có sự lãnh đạo thống nhất
của sơn triều vua Hàm Nghi. Nhân dân khắp cả nước đặc biệt là Trung kỳ và Bắc kỳ
hưởng ứng đơng đảo và tích cực chiến đấu bảo vệ vua Hàm Nghi. Đây là giai đoạn
phong trào sôi động và rộng khắp nhất, đặc biệt Quảng Bình thật xứng đáng là trung
tâm của phong trào. “Lạng Sơn tới Hà Tiên sĩ dân đều nổi lên hết để hưởng ứng lời
kêu gọi của Hàm Nghi chỉ có chổ khác là chổ mạnh nhiều chổ mạnh ít mà thơi. Các
cuộc khởi nghĩa ở Nam Ngãi trở vào không kéo dài được như Bắc Trung Kỳ trở ra do
điều kiện địa lý và kinh tế ít thuận lợi”. [14; 76]
Giai đoạn này phong trào đã thể hiện rõ chủ nghĩa “ái quốc” thống nhất với
“trung quân”. Mặt khác phong trào cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, đó là sự tổ
chức thiếu chu đáo, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các địa phương hoặc nếu có thì
rất lỏng lẻo. Phong trào thiếu một đường lối lãnh đạo thống nhất và phù hợp. Chủ
trương đàn áp công giáo của Tôn Thất Thuyết đã đẩy phần lớn giáo dân vốn có tinh
thần dân tộc sang hàng ngũ kẻ thù để tránh sự tàn sát của nghĩa quân. Chủ trương sát
đạo là điểm để kẻ địch lợi dụng chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Một số lãnh tụ của nghĩa
quân còn bộc lộ sự sơ hở và mất cảnh giác với kẻ thù. Do đó thực dân Pháp tuy bối rối
buổi đầu nhưng sau đó đã tiến hành bao vây cơ lập và đàn áp từng cuộc khởi nghĩa
theo chiến thuật “bẻ đũa từng chiếc một” [2; 17]
- Giai đoạn thứ hai từ tháng 11 năm 1888 đến 1896
Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (1/1/1888) phong trào Cần Vương thu được hẹp bề
rộng chuyển sang phát triển bề sâu. Trọng tâm phong trào chuyển lên vùng thượng du
và trung du. Tại Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ tồn tại một số cuộc khởi nghĩa, có quy mơ
lớn, được tổ chức chỉ huy khá chặt chẽ, có chiến thuật khá phong phú linh hoạt và
15
thường dựa vào những nơi hiểm yếu. Tiêu biểu có khởi nghĩa Hương Khê (1885
-1896) do Phan Đình Phùng lãnh đạo, khởi nghĩa Hùng Lĩnh Thanh Hóa (1886 - 1892)
của Tống Duy Tân vầ Cao Điền, khởi nghĩa Bãi Sậy (1886-1892) của Nguyễn Thiện
Thuật. Tuy các cuộc khởi nghĩa ở giai đoạn này khá lớn kéo dài dai dẳng và cũng rất
quyết liệt nhưng cuối cùng dều thất bại vì thiếu sự đường lối lãnh đạo thống nhất và
đúng đắn.
Tóm lại, phong trào Cần vương là một phong trào vũ trang chống Pháp theo tư
tưởng trung quân ái quốc hay nói cách khác đây là một phong trào giải phóng dân tộc
theo tư tưởng phong kiến. Đây là một phong trào yêu nước được nhân dân hưởng ứng
sôi nổi, rộng rãi suốt từ Nam chí Bắc, với nhiều thành phần tham gia. Từ quan lại văn
thân, sĩ phu tới nông dân,… từ người Kinh đến người đồng bào các dân tộc thiểu số;
và với những hình thức phong phú. Phong trào Cần vương thể hiện lòng yêu nước
nồng nàn, tinh thần bất khuất của dân tộc ta. Nó cũng chứng tỏ nông dân là một lực
lượng xã hội to lớn của các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Phong trào Cần Vương
bộc rõ nét những điểm hạn chế và cũng là nguyên nhân thất bại của nó đó là “Thiếu sự
lãnh đạo thống nhất của một lực lượng xã hội tiên tiến có đủ tư cách. Giai cấp phong
kiến đã lỗi thời một bộ phận đầu hàng giặc và mất hết vai trị lịch sử; giai cấp mới lại
chưa có điều kiện ra đời. Những sĩ phu yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX do
những hạn chế của giai cấp và thời đại nên vẫn giương ngọn cờ phong kiến cũ khơng
cịn thích hợp với dân tộc. Phong trào Cần vương thất bại đã kết thúc thời kỳ đấu tranh
có tính chất phong kiến của nhân dân ta” [15; 80]
+ Khái quát vài nét về phong trào Cần Vương ở Quảng Bình
Vua Hàm Nghi vào Quảng Bình khiến lịng dân náo động, các văn thân, sĩ phu
sôi nổi đứng ra mộ binh, quyên lương, dân chúng người góp tiền, kẻ góp gạo, trâu bị
ni qn; trai tráng, đàn ơng bỏ cày cuốc ra cầm súng, cầm gươm chống Pháp. Nhân
dân Quảng Bình hưởng ứng chiếu Cần Vương rất sơi nổi “kẻ có thế, người có tiền mộ
phu, binh lính, đổi nhà làm trường diễn võ, mang cơ nghiệp ra giúp quân lương, bỏ cày
cuốc cầm gươm súng” [14; 21]. Nhìn khái quát chúng ta cũng chia phong trào cần
vương ở Quảng Bình ra 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1 từ 1885-1888, có sự hiện diện của Sơn Triều Hàm Nghi tại Quảng
Bình. Phong trào diễn ra rầm rộ sơi nổi với từ miền xi tới miền ngược. Khu vực phía
Nam thuộc 2 huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy có lực lượng của Thống binh Vệ úy Hoàng
16
Phúc, với sự phị tá của Đề Én, Đề Chít, Lê Hy, Đồn Chí Tn. Tại Bố trạch có lực
lượng của Lê Mơ Khởi; tai khu vực Hồnh Sơn có lực lượng của ông Tú Di luân và Tạ
Bá Hành. Trên bờ bắc sơng Gianh có lực lượng của Đề đốc Lê Trực; khu vực Nam
sông Gianh từ thọ Linh lên Cao Mại có lực lượng của Lãnh binh Mai lương với sự
phối hợp của Trần Thiên Mưu ở căn cứ Hạ Trang. Tại vùng Cổ liêm có lực lượng của
Nguyễn Phạm Tuân.
* Diễn biến chính của phong trào Cần vương Quảng Bình những năm 1985
-1888:
Dụ Cần vương của vua hàm Nghi ban ra, một khơng khí chống Pháp sơi động
chưa từng có bùng lên ở Quảng Bình, được phản ánh qua bài vè dưới đây:
“Nghe các làng nhốn nháo
Rèn khí giới gươm giáo
May áo giáp nón hầu
Đúc gươm vàng thố bạc….” [19; .26]
Trong phong trào Cần Vương ở Quảng Bình lực lượng mạnh nhất nằm dưới
sự chỉ huy trực tiếp của Đề Đốc Lê Trực, chiếm cứ vùng Bắc sơng Gianh từ Quảng
Trạch đến Tun Hóa. “Lê Trực đã tìm cái thế rất hiểm để chặn đường Bắc tiến của
quân Pháp. Sông Gianh như một con rắn lớn vắt mình qua tỉnh Quảng Bình; cứ theo
triền sơng Gianh qn Lê Trực có thể giao thơng bằng cả thủy bộ với các đồn khác của
quân Cần Vương. Ven sông là dãi Hoành Sơn như một cái thành lớn mà mỗi trái núi là
một hòn gạch lớn cao ngất, chân núi là rừng bát ngát che lấy dãi đất bùn lầy của triền
sông Gianh. Dưới những khu rừng rậm ấy, Lê Trực khi tiến thắng lợi, tối khí thất thế,
vì thế nếu quân Trực đãvào rừng mà chĩa súng bắn ra thì qn Pháp có mạnh đến đâu
cũng chịu thúc thủ”. (A8 : 228,229). Cùng với cao thương chí, Lê Trực lập thành hệ
thống đồn trại, kho tàng trên Hoàng Sơn với các địa danh còn vang tiếng đến ngày nay,
như mái Hịn Bàu Mói (Mai Hóa – Tun Hóa) Xai Thượng, Xai Hạ, mái Lị Rèn
(Tiến Hóa, Tun Hóa), rú Trung Thuần (Quảng Thạch – Qủng Trạch). Vùng nam
sông Gianh từ Hịa Ninh đến Trc và Cao Mại là địa bàn hoạt động của lực lượng
nằm dưới quyền chỉ huy của Mai Lượng.
“Phần lớn nghĩa binh là nông dân áo vải, một số lính cũ triều đình, có cả người
cơng giáo; tuy thành phần xuất thân khác nhau nhưng họ đều có chung một điểm là
lịng u nước” [16; 22], căm thù giặc và theo tư tưởng “Ái Quốc – Trung Quân”. Đặc
17
biệt những người dân cày nghèo khổ ở các làng trên thượng du Tuyên Hóa được tuyển
mộ dưới danh nghĩa “ Chiêu dân lập ấp”nhưng trên thực tế là xây dựng hệ thống “ Sơn
Phòng” trên dọc biên giới Việt Lào. “Chính những người nơng dân áo vải này đã hết
lịng vì vua, đánh lui nhiều đạo qn địch đơng gấp bội, che chở cho vua qua những
ngày cháo củ, măng rừng” [17; 28]
Từ Quảng Trạch đến Tuyên Hóa nhân dân gom góp gạo trắng, nước nắm
ngon, mắm Hàm Hương, lá ngấy hương… gửi lên căn cứ cho vua. Nhân dân trong tỉnh
khắp nơi hăng hái gia nhập nghĩa quân của Hoàng Phúc, Mai Lượng, Lê Trực, Nguyễn
Phạm Tuân. Ngoài ra, họ còn lập các đội nghĩa quân, tự rào làng chiến đấu.tiêu biểu
cho tinh thần đó các làng: Mỹ Lộc, Châu Xá, Phú Hòa (Lệ Thủy),Văn La, Võ Xá, Cổ
Hiền, Xuân Dục (Quảng Ninh)… Nhân dân với nhiều hình thức khác nhau tham gia
phong trào: nhà giàu bỏ tiền, giúp gạo, mua sắm vũ khí, may quần áo, mộ binh huyện
quân đánh giặc như Cao Thượng Chí (Xuân Mai – xã Mai Hóa) quyên hộ Nguyễn Văn
Viễn (xóm Bàu - Tiến Hóa), Hồ Xuân Thiệu cùng hai con là Hồ Xn Phùng, Hồ Xn
Thước (Hà Cơng – Tiến Hóa)….
Sự “trung qn” của nhân dân Quảng Bình khơng phải là trung thành một cách
mù quáng với bất kỳ ông vua nào, mà họ chỉ trung thành với một ông vua u nước là
vua Hàm Nghi mà thơi. Cịn như Đồng Khánh một ơng vua được thực dân Pháp và
triều đình tay sai (dưới áp lực của Pháp) dựng lên thì chẳng những nhân dân Quảng
Bình khinh bỉ, ốn ghét mà cịn chống lại quyết liệt; mặc dù vẫn biết chính Đồng
Khánh là con nuôi của vua Tự Đức. Khi Đồng Khánh thực hiện chuyến “Bắc tuần”, Y
đã bị nhân dân Quảng Bình tẩy chay và chặn đánh liên tục. Ngay thực dân Pháp cũng
thấy rõ thực tế này:
“…Khơng có một xứ nào, thời nào lại có một ơng vua bị nhân dân ốn ghét như
Đồng Khánh…” chính Đồng Khánh cũng phải thừ nhận:
“Khơng đời nào tơi có thể tin Hà Tĩnh và Quảng Bình lại trung thành với tơi, hai
tỉnh ấy có nhiều sĩ phu quá…” [2; 73]
Giai đoạn II, từ 1888 - 1896, Sau khi Vua Hàm Nghi bị bắt phong trào cần
vương ở quảng bình đi vào thối trào nhưng phông kết thúc mà vẫ tồn tại song qui mơ
nhỏ và khơng cịn đóng vai trị trung tâm nữa. Tại Quảng Bình mặc dù Lê Trực, Cao
Thượng Chí đã giải gáp lực lượng ra hàng rồi về quê ẩn dật nhưng nhân dân Tuyên
Hóa Quảng Trạch vẫn tiếp tục tham gia cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng. Tại Tuyên
18
Hóa và Quảng Trạch có sự hoạt động của một qn thứ có tên là Bình thứ. Ngồi ra
Bạch Xỉ - Đồn Chí Tn cịn đưa một bộ phận nghĩa quân mà ông tuyển mọ ra Hương
Khê Hà Tĩnh hoạt động chống Pháp bên cạnh cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng .
Phong trào Cần vương ở Quảng Bình cũng kết thúc với sự thất bại của các cuộc khởi
nghĩa Hương Khê và khởi nghĩa Đồn Chí Tn.
Dù thời kỳ Cần vương đã lùi vào quá khứ nhưng âm vang các trận đánh và tên
tuổi nhiều nhân vật lịch sử vẫn cịn lưu truyền mãi đến mn đời.
CHƯƠNG II
NGUYỄN PHẠM TN VÀ NHỮNG ĐĨNG GĨP CỦA ƠNG TRONG PHONG
TRÀO CẦN VƯƠNG CUỐI THẾ KỶ XIX
2.1 Quê hương, gia đình và những năm tuổi học trò của Nguyễn Phạm Tuân
Nguyễn Phạm Tuân sinh năm Nhâm Dần (1842) mất năm Đinh Hợi (1887), tự
là Tử Trai, sau đổi là Dưỡng Tăng, hiệu Minh Phong, quê ở làng Kiên Bính, tổng Võ
Xá, phủ Quảng Ninh (nay là phường Hải Đình thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình).
Cụ tổ vốn họ phạm vì mắc tội với triều đình phải trốn vào Quảng Bình và đổi sang họ
Nguyễn để tránh sự truy lung. Ông sinh ra trong một gia đình nho học, nhiều đời là
cơng thần nhà Lê. Dưới triều Nguyễn khi vào cư trú ở làng Kiên Bính ( Đồng Hới) có
nhiều người thi cử đỗ đạt, họ Nguyễn Phạm đã đóng góp phần làm rạng danh thành
tích khoa cử làng Kiên Bính đặc biệt cả hai cha con Nguyễn Phạm Tuân đều đổ cử
nhân và làm quan cho triều Nguyễn.
Do có chị gái lấy chồng ở Kiên Bính nên cụ tổ của Nguyễn Phạm Tuân được
nhập cư ở đó. Đến đời Nguyễn Đăng Đạo (thân sinh Nguyễn của Nguyễn Phạm Tuân)
mới dung chữ Phạm làm lót tên con là có ý muốn ghi lại gốc tích họ cũ. Nguyễn Đăng
Đạo vốn dạy ở quốc tử giám trong thành Huế dưới thời Minh Mạng và Thiệu Trị,sau
đổi là tri huyện Phong Đăng là một trong 2 huyện thuộc phủ Quảng Ninh tỉnh Quảng
Bình (sau nhập vào phủ ấy). Cha mất sớm lúc Nguyễn Phạm Tuân mới lên 6 tuổi. Nhà
nghèo, lại là con thứ hai trong gia đình ơng phải giúp mẹ cơng việc nội trợ trong nhà.
Vì ở gần trường, vốn ham học ơng thường trốn mẹ đến nghe thầy giảng bài. Thấy vậy
mẹ ông đã thu xếp việc nhà cho ông đi học. Dù đi học muộn nhưng ông rất thông minh
và học giỏi nên ông được chọn vào trường tỉnh. Năm 1873 ông đã đỗ cử nhân. Năm
1874 ông thi hội mà không thi đỗ tiến sĩ. Năm 1878 ông được bổ làm Hành Tẩu Bộ
19
Lễ, năm ấy đói kém ơng được triều đình giao lo việc chống đói, vốn thương dân nên
ơng đã tiến hành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Vì thế ơng được thưởng hàm Biện tu và
thăng làm tri huyện Tuyên Hóa, năm 1884 Nguyễn Phạm Tuân được tang làm tri phủ
huyện Đức Thọ. Khi nghe tin kinh tành thất thủ ông làm hai câu thơ đối tuyệt mệnh rồi
tử tự, may người nhà cứu được. Chán cảnh triều đình đầu hàng giặc ông bỏ quan về
quê ở Đồng Hới. Khi có chiếu Cần Vương ban ra ơng nhanh chóng hịa mình vào tầng
lớp văn thân, sĩ phu và nghĩa quân trong vùng tìm đến với vua Hàm Nghi.
Tháng 10/1885, ơng gặp Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi, được phong Hồng
Lộ tự Khanh, sau sung tán lý quân vụ. Năm 1886 Tôn Thất Thuyết đi Trung Quốc cầu
viện đã ủy nhiệm cho ông thành lập “cơ quan vương trung ương”, với chức Thượng
tướng có quyền điều khiển các quan văn, võ từ hàng ngũ phẩm trở xuống. Tháng
3/1887 đồn Thác Dài thất thủ, qn ơng tan tác. Trước tình hình khó khăn của phong
trào ơng đã bàn với Tơn Thất Đàm việc tìm cơ sở để vua Hàm Nghi ra Bắc, Được Tôn
Thất Đàm đồng ý, ông cùng 2 viên tham biện, một lãnh binh và khoảng 50 đến 60 lính
đi Hà Tĩnh để tìm cơ sở di chuyển vua ra Bắc, không may giữa đường ông bị bệnh
phải về lại Cổ Liêm điều trị . Được một tên phản bội dẫn đường, đang đêm địch bang
vào rừng Cổ Liêm. Sáng ngày 9/4/1887 giặc bất ngờ ập đến chổ ông đang điều trị, khi
ấy nghĩa quân đang còn đi ăn sáng chỉ còn lại mấy người cận vệ, họ ra sức chống cự
nhưng đều bị địch giết chết. Nguyễn Phạm Tuân mặc dù đang ốm vẫn vùng dậy cầm
gươm chống cự quyết liệt. Ơng bị đại úy Mu Tơ bắn trọng thương. Giặc bắt và giải
ông về đồn Minh Cầm. Kẻ thù đã dung rất nhiều thủ đoạn dụ giỗ mua chuộc nhưng
khơng khuất phục được ơng. Ơng khẳng khái trả ời chúng “ Tơi bình sinh trọng cương
thường, con chết vì cha, tơi chết vì vua có gì đáng sợ” [2; 55].
Nói vậy và cương quyết khơng chịu ăn uống để tỏ lịng trung thành với nước, tự
sánh mình với Bá Di, Thúc Tề ngày xưa. Khi giặc gọi thầy lang đến khám và cắt thuốc
cho ông, ông đã ngậm thuốc và phun vào mặt đại úy Mu Tô. Đêm 10/4/1887 vào lúc 3
giờ sáng thì ơng mất. Khơng mua chuộc, khuất phục nổi Nguyễn Phạm Tuân giặc đã
trả thù ông một cách hèn hạ. Chúng chặt đầu ông cắm cọc bêu ở sông Gianh ngay cạnh
chợ Minh Cầm và thả xác ông xuống sông. Giặc ra lệnh cấm khơng được ai vớt xác
Nguyễn Phạm Tn nhưng có một nghĩa quân tên là Bàng người Kinh Thanh (Chân
Hóa – Tun Hóa) đã dũng cảm vớt xác ơng lên. Hai cha con ông Bàng thuê dân chài
dung mưu lấy được thủ cấp của Nguyễn Phạm Tuân đem về cùng khâm niệm và mai
20
táng tại núi Lâm Lang. Hai năm sau khi địch đã tạm bình định n khu vực Tun
Hóa. Hiệp quản thăng nhớ nghĩa thầy trò cũ đã đến cảm ơn cha con ông Bàng và xin
bốc mộ Nguyễn Phạm Tuân đưa về Di Luân (Quảng Tùng – Quảng Trạch – Quảng
Bình).
Nguyễn Phạm Tn có nhiều vợ nhưng chỉ có một bà có con cháu truyền đến
ngày nay mà thơi. Riêng có bà vợ ba là người đã từng theo Nguyễn Phạm Tuân đi
kháng chiến và có đóng góp đáng kể cho phong trào Cần Vương.
Bà Phạm Thị Tuy là vợ ba của danh nhân lịch sử Nguyễn Phạm Tuân. Bà lấy
hiệu: Lộc Hải Từ. Bà đã theo chồng kháng chiến vào ra chốn rừng núi, trận mạc nơi “
làn tên, mũi đạn” lập được nhiều công lao. Bà được vua Hàm Nghi phong tặng danh
hiệu “ Nghĩa liệt công nương”. Bà mất tại thiết Sơn (Thạch Hóa, Tuyên Hóa) năm 46
tuổi[2; 56]
Theo gia phả dòng họ Nguyễn Phạm là hậu duệ đang lưu giữ, Nguyễn Phạm
Tuân vốn xưa là thuộc dịng họ Phạm, chính q ở thơn Văn Thượng, xã Lực Canh,
tổng Xuân Canh, huyện Đông Anh, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh vào Thuận Hóa đổi ra
họ Nguyễn để khỏi bị truy lùng và nhập tịch làng Kiên Bính.
Gia phả dòng họ Nguyễn Phạm ở phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới cịn
ghi, từ khi ơng cao tổ là Nguyễn Dỗn Thanh đổi họ ra họ Nguyễn thì lấy chữ lót là
Nguyễn Dỗn, Nguyễn Đức, Nguyễn Đăng. Nhưng đến đời thân sinh của Nguyễn
Phạm Tuân mới dùng chữ “Phạm” làm tên lót cho con cháu, để nhắc lại gốc tích của
dịng họ mình. Do đó, ơng mới được đặt tên là Nguyễn Phạm Tuân.
Năm 1884, tu chỉnh lại gia phả ơng có ghi:
“…Từ đời thế tổ trở về trước là họ Phạm
Từ đời cao tổ trở về sau là họ Nguyễn
Nay truyền về sau là Nguyễn Phạm…
Kiến Phước, Giáp Thân, tháng giêng mùa xuân ngày lành”.
Sau khi cụ thân sinh qua đời đã để lại cho mẹ ông gánh nặng: là nhà nghèo, con
đông. Tuy nhỏ tuổi nhưng ông phải phụ mẹ trong những công việc nhà và những việc
làm ăn. Vì vậy, Nguyễn Phạm Tuân bước vào nghiệp khoa cử khá muộn. Nhưng vốn là
người thông minh, ham học và học rất giỏi nên Nguyễn Phạm Tuân được chọn vào
trường tỉnh. Năm Quý Dậu (1873), Nguyễn Phạm Tuân tham dự kỳ thi hương và đỗ
Cử nhân, đứng thứ 19.
21
2.2 Những đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong phong trào Cần vương
cuối thế kỷ XIX
2.2.1 Trên cương vị là một tướng lĩnh của lực lượng Cần Vương
a) Đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong việc tập hợp lực lượng
Sau khi ban dụ Cần Vương, kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân trong cả nước
ứng khởi, tháng 10 năm 1885, vua Hàm Nghi cùng Tôn Thất Thuyết chạy ra Quảng
Bình. Tại đây, Nguyễn Phạm Tn đã có dịp tiếp kiến vua Hàm Nghi sau cả quá trình
tìm vua, đợi ngày cùng nhà vua đánh Pháp. Cả vua Hàm Nghi, Tơn Thất Thuyết,
Nguyễn Phạm Tn đều chung chí hướng và rất “tâm đắc, gắn bó cùng nhau trong sự
nghiệp cứu nước, cứu dân”. Kể từ đó, Nguyễn Phạm Tuân được vua Hàm Nghi tín
nhiệm, trao giữ trọng trách trong phát triển nghĩa quân và xây dựng lực lượng quan
trọng của phong trào Cần Vương bên cạnh Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết với chức
Hồng lô tự khanh. Đây là chức vụ có sứ mệnh tập hợp lực lượng tồn dân chống Pháp
dưới ngọn cờ Cần Vương
Như vậy, đi từ lòng yêu nước đến quyết tâm chống Pháp xâm lược, Nguyễn
Phạm Tuân đã từ một quan văn, đã chuyến sang nghiệp võ, cầm gươm “phò vua, giúp
nước”. Những hành động của Nguyễn Phạm Tuân minh chứng cho tinh thần yêu nước
và vai trị thủ lĩnh của ơng trong phong trào Cần Vương.
Khi dụ Cần Vương của vua Hàm Nghi được ban ra với lời kêu gọi: “Văn thân,
dân chúng và binh sĩ hãy lần lượt ra dự việc Cần Vương”, tất thảy nhân dân Quảng
Bình “kẻ có thế, người có tiền mộ phu, binh lính, đổi nhà làm trường diễn võ, mang
cơ nghiệp ra giúp quân lương, bỏ cày cuốc cầm gươm súng” nhất tề hưởng ứng.
Nguyễn Phạm Tuân nghe dụ Cần Vương cũng “trỗi dậy một sự thèm khát phải chiến
đấu hy sinh, phải giúp vua, cứu nước”. Với cốt cách, khí tiết của một nhà nho yêu
nước, bằng tinh thần “phò vua, giúp nước, cứu dân cứu đời”, tư tưởng “kinh bang tế
thế” của một kẻ sĩ, Nguyễn Phạm Tuân đã không cam chịu cảnh mất nước, nô lệ vì thế
khi nghe tinh triều đình đầu hàng ơng đã treo ấn từ quan, bỏ phủ đường Đức Thọ, cùng
với gia đình trở về Đồng Hới. Sau khi tuẫn tiết không thành do người nhà phát hiện
cứu kịp và khun giải ơng đã “nhanh chóng đứng dậy hịa mình cùng tầng lớp văn
thân, sĩ phu và thanh niên trai tráng trong vùng. [13; 836 ]
Nguyễn Phạm Tuân đã cùng với các văn thân, phu địa phương đứng ra kêu gọi
nhân dân, chiêu mộ nghĩa quân lên vùng Tuyên Hóa nơi ông từng làm Tri huyện lập
làm căn cứ: “Nghĩa quân ở vùng Tuyên Hóa được tuyển mộ dưới danh nghĩa “chiêu
dân lập ấp” nhưng trên thực tế là lên xây dựng sơn phòng”. Ngọn cờ chống Pháp của
22
Nguyễn Phạm Tuân vừa giương lên đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân
dân địa phương, khiến Tri huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa phải khiếp sợ.
Hoạt động tích cực cuả ơng cùng với các văn thân sỹ phu đã tạo nên một phong trào
chống Pháp rộng rãi trên quê hương Quảng Bình: “Thân hào các phủ, huyện: Quảng
Trạch, Tun Hóa, Bố Trạch thuộc hạt Quảng Bình khởi loạn, dựng hiệu cờ: “Cần
Vương ứng nghĩa” (thủ xướng là nguyên Tri phủ Nguyễn Phạm Tuân). Nhiều lần các
phủ, huyện ấy trốn tránh hoặc bị bắt” [13 ;836 ]
b) Đóng góp của Nguyễn Phạm Tuân trong việc tổ chức chỉ huy các trận chiến
đấu bảo vệ triều đình Hàm Nghi
Với cương vị là Tán tương quân vụ quân thứ Quảng Bình Nguyễn Phạm Tuân
trở thành một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào Cần vương. Ông đã phị tá
đắc lực bên cạnh vua Hàm Nghi và Tơn Thất Thuyết. Mặt khác Nguyễn Phạm Tuân
đã trực tiếp tham gia chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng để bảo vệ nhà vua và bộ chỉ
huy tối cao đồng thời phát triển lực lượng, mở rộng thanh thế cho nghĩa quân từ tháng
10/ 1885 đến tháng 3 năm 1887. Dưới đây xin giới thiệu một số trận đánh có sự tham
gia và chỉ huy của Nguyễn Phạm Tuân:
+ Trận công đồn Động Hãi (Đồng Hới)
Tháng 1 năm 1886, nghĩa quân Nguyễn Phạm Tuân phối hợp với lực lượng của
Lê Trực và Hoàng Phúc bao vây phá đồn Động Hải (Đồng Hới), tiêu diệt nhiều sinh
lực địch. Ngày 10 tháng 1 năm 1886, nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Nguyễn Phạm
Tuân đã đột nhập thành Đồng Hới (Quảng Bình) giết viên quan Bố chính tỉnh Quảng
Bình là Phan Đình Dương, buộc địch bị vây trong thành phải cầu viện từ thành Động
Hải.
Trong năm 1886, Nguyễn Phạm Tuân cùng với nghĩa quân đánh lui nhiều cuộc
tập kích của Pháp vào căn cứ của vua Hàm Nghi, mở rộng phạm vi hoạt động, làm chủ
một vùng rộng lớn. Phía Bắc, nghĩa quân kiểm sốt đến Quảng Trạch; phía Nam, kiểm
sốt tới Động Hải (Đồng Hới), làm chủ con đường quốc lộ nối liền từ Bố Trạch ra đến
đèo Ngang khiến cho quân Pháp phải “rút lui khỏi Tuyên Hóa, chỉ đóng lại những đồn
lẻ… Quân Pháp mỗi lần tiếp tế đều phải có quân lực mạnh đi theo hộ tống”. Những
trận vây thành của nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Phạm Tuân đã tạo
thanh thế lớn, làm cho các viên quan do Đồng Khánh bổ nhiệm mà thực chất là tay sai
Phá p phải vơ cùng khiếp sợ. Ví dụ: Viên Tri huyện Bố Trạch và Tri phủ Quảng Trạch
khiếp đảm, lực lượng ngụy binh trong quân đội Pháp run sợ; “Viên Tri huyện Bố Trạch
23